- Therīgāthā 6.1
- Chakkanipāta
Pañcasatamattātherīgāthā
“Yassa maggaṁ na jānāsi, āgatassa gatassa vā; Taṁ kuto cāgataṁ sattaṁ, ‘mama putto’ti rodasi.
Bản dịch
Pañcasatamattātherīgāthā
BJT 127“‘Cô không biết chúng sinh ấy đã từ đâu đi đến, (không biết) con đường đã đi đến hoặc đã ra đi của nó, thế mà cô khóc là: Con trai tôi!
BJT 128Nếu cô biết con đường đã đi đến hoặc đã ra đi của nó, thì cô không sầu muộn cho nó, bởi vì các sinh linh có quy luật như vậy.
BJT 129Không được mời mọc, từ nơi kia nó đã đi đến; không được cho phép, từ nơi này nó đã ra đi. Thật vậy, sau khi đã đi đến từ nơi nào đó, sau khi sống vài ngày, từ nơi này nó cũng đã ra đi bằng cách khác, từ nơi kia nó cũng sẽ ra đi bằng cách khác.
BJT 130Nó đã từ trần với vóc dáng con người, trong khi còn luân hồi, nó sẽ còn ra đi. Nó đã đi đến như thế nào, nó đã ra đi như thế ấy. Trong trường hợp ấy, than khóc có ý nghĩa gì?’
BJT 131Quả thật, vị ni ấy đã rút ra mũi tên khó nhìn thấy đã được cắm vào trái tim, khi tôi bị sầu muộn chế ngự, vị ni ấy đã xua đi nỗi sầu muộn về người con trai cho tôi.
BJT 132Hôm nay, tôi đây, có mũi tên đã được rút ra, không còn cơn đói, đã chứng Niết Bàn. Tôi đi đến nương nhờ đức Phật, bậc Hiền Trí, Giáo Pháp, và Hội Chúng.”
Các tỳ khưu ni trưởng lão số lượng 500 vị đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của năm trăm vị trưởng lão ni.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Yassa maggaṁ na jānāsi, āgatassa gatassa vā; Taṁ kuto cāgataṁ sattaṁ, ‘mama putto’ti rodasi.
“One whose path you do not know, not whence they came nor where they went; though they came from who knows where, you mourn that being, crying, ‘Oh my son!’
“Bạn không biết được con đường của người đã đến, hoặc của người đã đi. Chúng sanh ấy đã đến từ đâu, mà bạn lại khóc lóc rằng: ‘Đây là con của tôi’?”
Maggañca khossa jānāsi, āgatassa gatassa vā; Na naṁ samanusocesi, evaṁdhammā hi pāṇino.
But one whose path you do know, whence they came or where they went; that one you do not lament—such is the nature of living creatures.
“Ngươi có biết được con đường đến và đi của nó chăng? Ngươi không nên sầu muộn về nó, vì quả thật chúng sanh có pháp tánh là như vậy.”
Ayācito tatāgacchi, nānuññāto ito gato; Kutoci nūna āgantvā, vasitvā katipāhakaṁ; Itopi aññena gato, tatopaññena gacchati.
Unasked he came, he left without leave. He must have come from somewhere, and stayed who knows how many days. He left from here by one road, he will go from there by another.
“Không được mời, nó từ nơi ấy đến; không được phép, nó từ đây đi. Chắc chắn là từ đâu đó đến, ở lại vài ngày; rồi từ đây lại đi nơi khác, từ nơi đó lại đi nơi khác nữa.”
Peto manussarūpena, saṁsaranto gamissati; Yathāgato tathā gato, kā tattha paridevanā”.
Departing with the form of a human, he will go on transmigrating. As he came, so he went: why weep over that?”
“Nó đã chết, mang hình hài con người, nó sẽ tiếp tục luân hồi. Nó đến thế nào, nó đi thế ấy, than khóc ở đây có ích gì?”
“Abbahī vata me sallaṁ, duddasaṁ hadayassitaṁ; Yā me sokaparetāya, puttasokaṁ byapānudi.
“Oh! For you have plucked the arrow from me, so hard to see, stuck in the heart. You’ve swept away the grief for my son, in which I once was mired.
“Ôi, mũi tên trong tim ta, khó thấy, đã được nhổ ra! Nỗi sầu muộn về con, của ta, người bị sầu muộn xâm chiếm, đã được trừ diệt.”
Sājja abbūḷhasallāhaṁ, Nicchātā parinibbutā; Buddhaṁ dhammañca saṅghañca, Upemi saraṇaṁ muniṁ”.
Today I’ve plucked the arrow, I’m hungerless, quenched. I go for refuge to that sage, the Buddha, to his teaching, and to the Saṅgha.”
“Hôm nay, tôi đã nhổ được mũi tên, không còn khao khát, đã được tịch tịnh. Tôi xin quy y Phật, Pháp, và Tăng, bậc Mâu-ni.”
Itthaṁ sudaṁ pañcasatamattā therī bhikkhuniyo … pe….
That is how Paṭācārā, who had a following of five hundred, declared her enlightenment.
Như vậy, năm trăm vị Trưởng lão Tỳ-kheo-ni đã nói lên những bài kệ này...