- Therīgāthā 6.2
- Chakkanipāta
Vāseṭṭhītherīgāthā
“Puttasokenahaṁ aṭṭā, khittacittā visaññinī; Naggā pakiṇṇakesī ca, tena tena vicārihaṁ.
Bản dịch
Vāseṭṭhītherīgāthā
BJT 133“Do nỗi sầu muộn về đứa con trai, tôi bị khổ sở, có tâm bị rối loạn, không còn nhận biết, lõa thể, và đầu tóc rối tung, tôi đã đi lang thang đó đây.
BJT 134Tôi đã sống ở những đống rác, ở bãi tha ma, và ở những đường lộ. Tôi đã lang thang ba năm, chịu đựng sự đói khát.
BJT 135Về sau, tôi đã nhìn thấy đấng Thiện Thệ, bậc thuần phục những kẻ chưa được thuần phục, đấng Toàn Giác, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu, đang đi về hướng thành Mithilā.
BJT 136Sau khi đạt lại được tâm của mình, tôi đã đảnh lễ, rồi đã ngồi xuống. Vị Gotama ấy, vì lòng bi mẫn, đã thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi.
BJT 137Sau khi lắng nghe Pháp của Ngài, tôi đã xuất gia sống đời không nhà. Trong khi rèn luyện theo lời dạy của bậc Đạo Sư, tôi đã chứng ngộ vị thế An Toàn.
BJT 138Tất cả các nỗi sầu muộn đã được trừ tuyệt, đã được dứt bỏ, có sự tận cùng ở vị thế này; bởi vì tôi đã biết toàn diện các nền tảng, từ nơi ấy có sự sanh khởi các nỗi sầu muộn.”
Trưởng lão ni Vāseṭṭhī đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Vāseṭṭhī.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Puttasokenahaṁ aṭṭā, khittacittā visaññinī; Naggā pakiṇṇakesī ca, tena tena vicārihaṁ.
Struck down with grief for my son, deranged, out of my mind, nude, my hair flying, I wandered here and there.
“Tôi, bị sầu muộn vì con hành hạ, tâm trí tán loạn, mất hết tri giác; trần truồng, tóc tai rối bời, tôi đã lang thang khắp nơi.”
Vīthi saṅkārakūṭesu, susāne rathiyāsu ca; Acariṁ tīṇi vassāni, khuppipāsāsamappitā.
I lived on rubbish heaps, in cemeteries and highways. For three years I wandered, stricken by hunger and thirst.
“Trên các đống rác, trong nghĩa địa và trên các con đường, tôi đã sống. Suốt ba năm, bị đói khát hành hạ, tôi đã lang thang.”
Athaddasāsiṁ sugataṁ, nagaraṁ mithilaṁ pati; Adantānaṁ dametāraṁ, sambuddhamakutobhayaṁ.
Then I saw the Holy One back at the city of Mithilā. Tamer of the untamed, the Awakened One fears nothing from any quarter.
“Rồi tôi thấy bậc Thiện Thệ, đang đi đến thành Mithilā, bậc điều phục những người chưa được điều phục, bậc Chánh Đẳng Giác không còn sợ hãi.”
Sacittaṁ paṭiladdhāna, vanditvāna upāvisiṁ; So me dhammamadesesi, anukampāya gotamo.
Regaining my mind, I paid homage and sat down. Out of compassion Gotama taught me the Dhamma.
“Khi lấy lại được tâm trí, tôi đảnh lễ và đến gần Ngài. Bậc Gotama ấy, với lòng bi mẫn, đã thuyết Pháp cho tôi.”
Tassa dhammaṁ suṇitvāna, pabbajiṁ anagāriyaṁ; Yuñjantī satthuvacane, sacchākāsiṁ padaṁ sivaṁ.
After hearing his teaching, I went forth to homelessness. Applying myself to the Teacher’s words, I realized the state of grace.
“Nghe Pháp của Ngài, tôi đã xuất gia, sống đời không gia đình. Nỗ lực trong lời dạy của Bậc Đạo Sư, tôi đã chứng ngộ cảnh giới an lành.”
Sabbe sokā samucchinnā, pahīnā etadantikā; Pariññātā hi me vatthū, yato sokāna sambhavo”ti.
All sorrows are cut off, given up, they end here. I’ve fully understood the basis from which grief comes to be.
“Tất cả sầu muộn đã được đoạn trừ, đã được từ bỏ, đây là điểm kết thúc. Vì tôi đã liễu tri các nền tảng, từ đó sầu muộn sanh khởi.”
… Vāseṭṭhī therī ….
... Trưởng lão Ni Vāseṭṭhī...