- Therīgāthā 5.9
- Pañcakanipāta
Bhaddākuṇḍalakesātherīgāthā
“Lūnakesī paṅkadharī, ekasāṭī pure cariṁ; Avajje vajjamatinī, vajje cāvajjadassinī.
Bản dịch
Bhaddākuṇḍalakesātherīgāthā
BJT 107“Trước đây, tôi đã đi lang thang, tóc được cạo, mang bùn đất, mặc một mảnh y phục, với sự suy nghĩ là có tội ở việc không tội, và với sự nhận thức là không tội ở việc có tội.
BJT 108Sau khi rời khỏi chỗ nghỉ ban ngày ở ngọn núi Gijjhakūṭa, tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, được tôn vinh bởi Hội Chúng tỳ khưu.
BJT 109Sau khi quỳ gối xuống, đảnh lễ, tôi đã (đứng) đối diện, chắp tay lại. Ngài đã nói với tôi rằng: ‘Này Bhaddā, hãy đến;’ việc ấy đã là sự tu lên bậc trên của tôi.
BJT 110(Tôi đã) du hành qua (các xứ sở) Aṅga, Magadha, Vajjī, Kāsī, và Kosala. Trong năm mươi năm, tôi đã thọ dụng vật thực của các quốc độ, không có nợ nần.
BJT 111Quả thật, ông ta đã tạo được nhiều phước báu! Quả thật, nam cư sĩ này có trí tuệ! Ông ta đã bố thí y đến Bhaddā, vị ni đã được giải thoát khỏi các sự cột trói.”
Trưởng lão ni Bhaddākuṇḍalakesā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Bhaddākuṇḍalakesā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Lūnakesī paṅkadharī, ekasāṭī pure cariṁ; Avajje vajjamatinī, vajje cāvajjadassinī.
My hair mown off, covered in mud, I used to wander wearing just one robe. I saw fault where there was none, and was blind to the actual fault.
Với mái tóc bị nhổ, thân mình dính đầy bụi bẩn, chỉ có một tấm y, trước đây ta đã đi lang thang; Trong điều không có lỗi, ta đã nhận thức là có lỗi, và trong điều có lỗi, ta đã nhìn thấy là không có lỗi.
Divāvihārā nikkhamma, gijjhakūṭamhi pabbate; Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ, bhikkhusaṅghapurakkhataṁ.
Leaving my day’s meditation on Vulture’s Peak Mountain, I saw the stainless Buddha at the fore of the mendicant Saṅgha.
“Từ nơi nghỉ ban ngày đi ra, tại núi Linh Thứu, tôi đã nhìn thấy Đức Phật, bậc không còn bụi bẩn, được Tăng chúng vây quanh.”
Nihacca jāṇuṁ vanditvā, sammukhā añjaliṁ akaṁ; ‘Ehi bhadde’ti maṁ avaca, sā me āsūpasampadā.
I bent my knee and bowed, and in his presence raised my cupped palms. “Come Bhaddā,” he said; that was my ordination.
“Tôi đã quỳ gối xuống đảnh lễ, và chắp tay ở trước mặt Ngài. Ngài đã nói với tôi rằng: ‘Này Bhaddā, hãy đến đây’. Lời nói ấy đã là sự thọ cụ túc giới của tôi.”
Ciṇṇā aṅgā ca magadhā, vajjī kāsī ca kosalā; Anaṇā paṇṇāsa vassāni, raṭṭhapiṇḍaṁ abhuñjahaṁ.
“I’ve wandered among the Aṅgans and Magadhans, the Vajjis, Kāsis, and Kosalans. I have eaten the almsfood of the nations free of debt for fifty years.”
“Tôi đã từng đi qua các xứ Aṅga và Magadhā, Vajjī, Kāsī và Kosalā. Trong năm mươi năm, tôi đã thọ dụng vật thực khất thực của xứ, không còn nợ nần.”
Puññaṁ vata pasavi bahuṁ, Sappañño vatāyaṁ upāsako; Yo bhaddāya cīvaraṁ adāsi, Vippamuttāya sabbaganthehī”ti.
“O! He has made so much merit! That lay follower is so very wise. He gave a robe to Bhaddā, who is released from all ties.”
“Thật nhiều phước báu đã được tạo ra, thật là người có trí tuệ, vị cận sự nam này, người đã cúng dường y đến Trưởng lão ni Bhaddā, vị đã được giải thoát khỏi tất cả các triền phược.”
… Bhaddā kuṇḍalakesā therī ….
… Trưởng lão ni Bhaddā Kuṇḍalakesā …