- Therīgāthā 5.10
- Pañcakanipāta
Paṭācārātherīgāthā
“Naṅgalehi kasaṁ khettaṁ, bījāni pavapaṁ chamā; Puttadārāni posentā, dhanaṁ vindanti māṇavā.
Bản dịch
Paṭācārātherīgāthā
BJT 112“Trong khi cày thửa ruộng với những cái cày, trong khi gieo những hạt giống ở đất, trong khi nuôi dưỡng các con và vợ, những người thanh niên tìm kiếm tài sản.
BJT 113Được đầy đủ giới, là người thực hành lời dạy của bậc Đạo Sư, không biếng nhác, không loạn động, tại sao tôi không chứng đắc Niết Bàn?
BJT 114Sau khi rửa hai bàn chân, tôi chú ý ở những chỗ nước (đã được đổ xuống), và tôi đã nhìn thấy nước rửa chân từ đất cao đi đến chỗ thấp.
BJT 115Do đó, tôi đã khiến tâm được định, tựa như (người xa phu điều khiển) con ngựa hiền thiện thuần chủng. Sau đó, tôi đã cầm lấy cây đèn rồi đi vào trú xá.
BJT 116Sau khi xem xét chỗ nằm, tôi đã ngồi xuống chiếc giường nhỏ. Sau đó, tôi cầm lấy cây kim khều cái tim đèn. Sự giải thoát của tâm đã xảy ra, tựa như sự lụi tàn của cây đèn.”
Trưởng lão ni Paṭācārā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Paṭācārā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Naṅgalehi kasaṁ khettaṁ, bījāni pavapaṁ chamā; Puttadārāni posentā, dhanaṁ vindanti māṇavā.
Plowing the fields, sowing seeds in the ground, providing for partners and children, young men acquire wealth.
“Những người cày ruộng bằng cày, gieo hạt giống trên mặt đất, nuôi dưỡng vợ con, và tìm được của cải.”
Kimahaṁ sīlasampannā, satthusāsanakārikā; Nibbānaṁ nādhigacchāmi, akusītā anuddhatā.
I am accomplished in ethics, and I do the Teacher’s bidding, being neither lazy nor restless—why then do I not achieve quenching?
“Tại sao tôi, người đầy đủ giới hạnh, thực hành lời dạy của Bậc Đạo Sư, không lười biếng, không trạo cử, lại không chứng đắc được Niết-bàn?”
Pāde pakkhālayitvāna, udakesu karomahaṁ; Pādodakañca disvāna, thalato ninnamāgataṁ.
Having washed my feet, I took note of the water, seeing the foot-washing water flowing from high ground to low.
“Sau khi đã rửa chân, tôi chú tâm vào dòng nước; và sau khi thấy nước rửa chân chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp.”
Tato cittaṁ samādhesiṁ, assaṁ bhadraṁvajāniyaṁ; Tato dīpaṁ gahetvāna, vihāraṁ pāvisiṁ ahaṁ; Seyyaṁ olokayitvāna, mañcakamhi upāvisiṁ.
My mind became serene, like a fine thoroughbred steed. Then, taking a lamp, I entered my dwelling, inspected the bed, and sat on my cot.
“Sau đó, tôi đã định tĩnh tâm ý, giống như (người đánh xe thuần phục) con ngựa tốt, ngựa thuần chủng. Sau đó, tôi cầm lấy cây đèn, đi vào tịnh xá. Sau khi nhìn vào giường nằm, tôi đã ngồi xuống trên chiếc giường nhỏ.”
Tato sūciṁ gahetvāna, vaṭṭiṁ okassayāmahaṁ; Padīpasseva nibbānaṁ, vimokkho ahu cetaso”ti.
Then, grabbing the pin, I drew out the wick. The liberation of my heart was like the quenching of the lamp.
“Sau đó, tôi cầm lấy cây kim, kéo tim đèn xuống. Giống như sự dập tắt của ngọn đèn, sự giải thoát của tâm đã xảy ra.”
… Paṭācārā therī ….
… Trưởng lão ni Paṭācārā …