- Therīgāthā 5.8
- Pañcakanipāta
Soṇātherīgāthā
“Dasa putte vijāyitvā, asmiṁ rūpasamussaye; Tatohaṁ dubbalā jiṇṇā, bhikkhuniṁ upasaṅkamiṁ.
Bản dịch
Soṇātherīgāthā
BJT 102“Sau khi sanh ra mười người con trai ở sắc thân này, vì thế, bị yếu sức, già nua, tôi đã đi đến gặp vị tỳ khưu ni.
BJT 103Vị ni ấy đã thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi về (năm) uẩn, (mười hai) xứ, (mười tám) giới. Sau khi lắng nghe Pháp của vị ni ấy, tôi đã cạo tóc, và đã xuất gia.
BJT 104Trong khi tôi đây là cô ni tu tập sự, Thiên nhãn (của tôi) được trong sạch, tôi biết đời sống trước đây, nơi tôi đã sống trước đây.
BJT 105Và tôi tu tập về vô tướng, được chuyên nhất, khéo được định tĩnh. Liền khi đó, tôi đã được giải thoát, chứng được Niết Bàn, không còn chấp thủ.
BJT 106Năm uẩn đã được biết toàn diện, chúng tồn tại với gốc rễ đã được chặt đứt. Này bà già đáng thương, thật xấu hổ cho ngươi! Giờ đây không còn tái sanh nữa.”
Trưởng lão ni Soṇā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Soṇā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Dasa putte vijāyitvā, asmiṁ rūpasamussaye; Tatohaṁ dubbalā jiṇṇā, bhikkhuniṁ upasaṅkamiṁ.
I gave birth to ten sons in this form, this bag of bones. Then, when feeble and old, I approached a nun.
Sau khi đã sanh được mười người con trong khối thân hình sắc này, do đó ta đã trở nên yếu ớt và già nua, rồi đã đi đến gần vị Tỳ-khưu-ni.
Sā me dhammamadesesi, khandhāyatanadhātuyo; Tassā dhammaṁ suṇitvāna, kese chetvāna pabbajiṁ.
She taught me the Dhamma: the aggregates, sense fields, and elements. When I heard her teaching, I shaved off my hair and went forth.
Vị ấy đã thuyết giảng Chánh Pháp cho ta, về các uẩn, các xứ, và các giới; Sau khi đã nghe được Chánh Pháp của vị ấy, ta đã cạo bỏ tóc và đã xuất gia.
Tassā me sikkhamānāya, dibbacakkhu visodhitaṁ; Pubbenivāsaṁ jānāmi, yattha me vusitaṁ pure.
When I was a trainee nun, my clairvoyance was clarified, and I knew my past lives, the places I used to live.
Đối với ta, trong khi đang là vị Thức-xoa-ma-na, thiên nhãn đã được thanh lọc; Ta biết được các nơi ở quá khứ, nơi mà ta đã từng trú ngụ trước đây.
Animittañca bhāvemi, ekaggā susamāhitā; Anantarāvimokkhāsiṁ, anupādāya nibbutā.
I meditate on the signless, my mind unified and serene. I achieved the immediate liberation, quenched by not grasping.
Ta tu tập về Vô Tướng, với tâm chuyên nhất và định tĩnh tốt đẹp; Ta đã có được sự giải thoát tức thời, đã được dập tắt phiền não không còn chấp thủ.
Pañcakkhandhā pariññātā, tiṭṭhanti chinnamūlakā; Dhi tavatthu jare jamme, natthi dāni punabbhavo”ti.
… Soṇā therī ….
The five aggregates are fully understood; they remain, but their root is cut. Curse you, wretched old age! now there’ll be no more future lives.
Năm uẩn đã được liễu tri, chúng tồn tại với gốc rễ đã được cắt đứt; Khốn thay cho ngươi, hỡi tuổi già đáng khinh! Giờ đây, không còn có sự tái sanh nữa.