- Therīgāthā 5.6
- Pañcakanipāta
Mittākāḷītherīgāthā
“Saddhāya pabbajitvāna, agārasmānagāriyaṁ; Vicariṁhaṁ tena tena, lābhasakkāraussukā.
Bản dịch
Mittākāḷītherīgāthā
BJT 92“Sau khi xuất gia vì lòng tin, rời nhà sống không nhà, tôi đã đi lang thang đó đây, năng nổ về lợi lộc và sự tôn vinh.
BJT 93Sau khi đã bỏ bê mục đích tối hậu, tôi đã đeo đuổi mục đích thấp kém. Sau khi đi đến khu rừng của các phiền não, tôi đã không thấu hiểu được mục đích của đời sống Sa-môn.
BJT 94Khi đã ngồi xuống ở trong trú xá nhỏ, tôi đây đã có sự chấn động. Tôi đã thực hành đường lối sái quấy, đã đi vào sự kiểm soát của tham ái.
BJT 95Mạng sống của tôi là ít ỏi. Già và bệnh dẫm đạp nó. Thân thể bị tan vỡ bởi sự già, tôi không còn thời gian để xao lãng.
BJT 96Trong khi xem xét đúng theo bản thể về sự sanh và diệt của các uẩn, với tâm đã được giải thoát, tôi đã đứng lên; lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Trưởng lão ni Mittākāḷi đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Mittākāḷi.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Saddhāya pabbajitvāna, agārasmānagāriyaṁ; Vicariṁhaṁ tena tena, lābhasakkāraussukā.
Having gone forth in faith from the lay life to homelessness, I wandered here and there, jealous of possessions and honors.
Sau khi đã xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà bằng đức tin, ta đã đi lang thang đây đó, nhiệt tâm vì lợi lộc và danh vọng.
Riñcitvā paramaṁ atthaṁ, hīnamatthaṁ asevihaṁ; Kilesānaṁ vasaṁ gantvā, sāmaññatthaṁ na bujjhihaṁ.
Neglecting the highest goal, I pursued the lowest. Under the sway of corruptions, I never knew the goal of the ascetic life.
Sau khi đã từ bỏ mục đích tối thượng, ta đã theo đuổi mục đích thấp hèn; Ta đã đi vào quyền lực của các phiền não, ta đã không hiểu được mục đích của đời sống Sa-môn.
Tassā me ahu saṁvego, nisinnāya vihārake; Ummaggapaṭipannāmhi, taṇhāya vasamāgatā.
I was struck with a sense of urgency as I was sitting in my hut: “I’m walking the wrong path, under the sway of craving.
Đối với ta, trong khi đang ngồi ở tịnh xá, sự kinh cảm đã khởi lên: ‘Ta đã đi vào con đường sai lạc, ta đã đi vào quyền lực của ái dục.’
Appakaṁ jīvitaṁ mayhaṁ, jarā byādhi ca maddati; Purāyaṁ bhijjati kāyo, na me kālo pamajjituṁ.
My life is short, trampled by old age and sickness. Before this body breaks apart, there is no time for me to be careless.”
Mạng sống của ta thì ngắn ngủi, tuổi già và bệnh tật đang giày vò; Trước khi thân này bị tan rã, đây không phải là lúc để ta buông lung.
Yathābhūtamavekkhantī, khandhānaṁ udayabbayaṁ; Vimuttacittā uṭṭhāsiṁ, kataṁ buddhassa sāsanan”ti.
I examined in line with the truth the rise and fall of the aggregates. I stood up with mind liberated, having fulfilled the Buddha’s instructions.
Trong khi đang quán xét đúng theo thực tại về sự sanh và diệt của các uẩn, ta đã đứng lên với tâm trí được giải thoát; lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
… Mittā kāḷī therī ….
... Trưởng Lão Ni Mittākāḷī ...