- Therīgāthā 5.2
- Pañcakanipāta
Vimalātherīgāthā
“Mattā vaṇṇena rūpena, sobhaggena yasena ca; Yobbanena cupatthaddhā, aññāsamatimaññihaṁ.
Bản dịch
Vimalātherīgāthā
BJT 72“Bị đắm say với màu da, dáng vóc, vẻ đẹp, và tiếng tăm, và kiêu kỳ với tuổi thanh xuân, tôi đã khinh khi những người đàn bà khác.
BJT 73Sau khi trang điểm thân này vô cùng sặc sỡ, khiến những kẻ ngu trầm trồ, tôi đã đứng ở cửa lớn của tiệm buôn hươngbán phấn, tựa như người thợ săn giăng ra bẫy mồi.
BJT 74Trong khi phô bày sự chưng diện, bộ phận kín được bộc lộ nhiều nơi, tôi đã làm nhiều trò ma mãnh trong khi cười giỡn với đám đông người.
BJT 75Hôm nay, tôi đây, sau khi đi khất thực, đầu cạo, trùm lên y hai lớp, ngồi xuống ở gốc cây, có sự đạt được trạng thái vô tầm (nhị thiền).
BJT 76Tất cả các sự ràng buộc thuộc về cõi trời và thuộc về loài người đã được trừ tuyệt. Sau khi quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi có được trạng thái mát mẻ, chứng được Niết Bàn.”
Trưởng lão ni Vimalā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Vimalā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Mattā vaṇṇena rūpena, sobhaggena yasena ca; Yobbanena cupatthaddhā, aññāsamatimaññihaṁ.
Intoxicated by my appearance, my figure, my beauty, my fame, and owing to my youth, I looked down on others.
Say sưa với nước da, với sắc đẹp, với vẻ yêu kiều, và với danh tiếng; kiêu hãnh vì tuổi trẻ, con đã khinh thường những người phụ nữ khác.
Vibhūsetvā imaṁ kāyaṁ, sucittaṁ bālalāpanaṁ; Aṭṭhāsiṁ vesidvāramhi, luddo pāsamivoḍḍiya.
I adorned this body all pretty, lamented by fools, and stood at the brothel door, like a hunter setting a snare.
Sau khi trang điểm thân này, thật đa dạng, được kẻ ngu ca tụng; con đã đứng ở cửa nhà kỹ nữ, giống như người thợ săn gài bẫy.
Piḷandhanaṁ vidaṁsentī, guyhaṁ pakāsikaṁ bahuṁ; Akāsiṁ vividhaṁ māyaṁ, ujjagghantī bahuṁ janaṁ.
I stripped for them, revealing my many hidden treasures. Creating an intricate illusion, I laughed, teasing those men.
Phô bày đồ trang sức, nhiều thứ kín đáo và lộ liễu; con đã thực hiện nhiều loại mánh khóe, cười lớn tiếng để lừa gạt nhiều người.
Sājja piṇḍaṁ caritvāna, muṇḍā saṅghāṭipārutā; Nisinnā rukkhamūlamhi, avitakkassa lābhinī.
Today, having wandered for alms, my head shaven, wearing the outer robe, I sat at the root of a tree to meditate; I’ve gained freedom from thought.
Chính con, hôm nay, sau khi đi khất thực, đầu đã cạo, mình khoác tăng-già-lê; ngồi dưới gốc cây, là người đã đạt được trạng thái vô tầm.
Sabbe yogā samucchinnā, ye dibbā ye ca mānusā; Khepetvā āsave sabbe, sītibhūtāmhi nibbutā”ti.
All yokes are severed, both human and heavenly. Having wiped out all defilements, I have become cooled and quenched.
Tất cả các ách phược, cả của chư thiên và của loài người, đều đã được đoạn trừ; sau khi đã tận diệt tất cả các lậu hoặc, con đã trở nên thanh lương, đã được dập tắt.
… Vimalā purāṇagaṇikā therī ….
... Trưởng Lão Ni Vimalā, trước đây là một kỹ nữ ...