- Therīgāthā 5.3
- Pañcakanipāta
Sīhātherīgāthā
“Ayoniso manasikārā, kāmarāgena aṭṭitā; Ahosiṁ uddhatā pubbe, citte avasavattinī.
Bản dịch
Sīhātherīgāthā
BJT 77“Có sự tác ý không theo đúng đường lối, bị khổ sở vì sự luyến ái ở các dục, trước đây tôi đã tự kiêu, không làm chủ được việc kiểm soát ở tâm.
BJT 78Bị xâm nhập bởi các phiền não, có khuynh hướng nhận biết về nét đẹp (tịnh tướng), có sự chiều theo tác động của tâm luyến ái, tôi đã không đạt được sự bình lặng của tâm.
BJT 79Bị ốm o, vàng vọt, và xuống sắc, tôi đã sống bảy năm. Tôi đã không tìm thấy sự an lạc vào ban ngày hoặc ban đêm, vô cùng khổ sở.
BJT 80Do đó, tôi đã cầm lấy sợi dây thừng rồi đã đi vào bên trong khu rừng. Ở đây, việc treo lên (tự vẫn) đối với tôi là cao quý hơn việc tôi trở lại thực hành đời sống thấp kém (của người tại gia).
BJT 81Sau khi đã thực hiện cái thòng lọng chắc chắn, sau khi đã buộc ở cành cây, tôi đã quàng cái thòng lọng vào cổ, khi ấy tâm của tôi đã được giải thoát (khỏi các lậu hoặc).”
Trưởng lão ni Sīhā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Sīhā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Ayoniso manasikārā, kāmarāgena aṭṭitā; Ahosiṁ uddhatā pubbe, citte avasavattinī.
Due to irrational application of mind, I was racked by desire for pleasures of the senses. I was restless in the past, lacking control over my mind.
Do tác ý không như lý, bị tham ái dục lạc hành hạ; trước đây con đã bị trạo cử, không làm chủ được tâm của mình.
Pariyuṭṭhitā klesehi, subhasaññānuvattinī; Samaṁ cittassa na labhiṁ, rāgacittavasānugā.
Overcome by corruptions, pursuing perceptions of the beautiful, I gained no peace of mind. Under the sway of lustful thoughts,
Bị các phiền não xâm chiếm, đi theo tưởng về cái đẹp; con đã không đạt được sự an tịnh của tâm, vì đi theo quyền lực của tâm tham ái.
Kisā paṇḍu vivaṇṇā ca, satta vassāni cārihaṁ; Nāhaṁ divā vā rattiṁ vā, sukhaṁ vindiṁ sudukkhitā.
thin, pale, and wan, for seven years I wandered, full of pain, finding no happiness by day or night.
Gầy gò, xanh xao, và phai sắc, con đã đi lang thang trong bảy năm; vô cùng đau khổ, con đã không tìm thấy được an lạc, dù ngày hay đêm.
Tato rajjuṁ gahetvāna, pāvisiṁ vanamantaraṁ; Varaṁ me idha ubbandhaṁ, yañca hīnaṁ punācare.
Taking a rope I entered deep into the forest, thinking: “It’s better that I hang myself than I return to a lesser life.”
Sau đó, con lấy một sợi dây, đi vào sâu trong rừng; thà rằng con treo cổ ở đây, còn hơn là quay lại đời sống thấp hèn.
Daḷhapāsaṁ karitvāna, rukkhasākhāya bandhiya; Pakkhipiṁ pāsaṁ gīvāyaṁ, atha cittaṁ vimucci me”ti.
… Sīhā therī ….
I made a strong noose and tied it to the branch of a tree. Casting it round my neck, my mind was freed.
Làm một cái thòng lọng chắc chắn, buộc vào cành cây; con đã tròng thòng lọng vào cổ, và rồi tâm của con đã được giải thoát.