- Therīgāthā 5.11
- Pañcakanipāta
Tiṁsamattātherīgāthā
“Musalāni gahetvāna, dhaññaṁ koṭṭenti māṇavā; Puttadārāni posentā, dhanaṁ vindanti māṇavā.
Bản dịch
Tiṁsamattātherīgāthā
BJT 117“Sau khi cầm lấy những cái chày, những người thanh niên giã thóc. Trong khi nuôi dưỡng các con và vợ, những người thanh niên tìm kiếm tài sản.
BJT 118‘Các cô hãy thực hành lời dạy của đức Phật, sau khi làm điều ấy thì không phải hối tiếc. Các cô hãy nhanh chóng rửa các bàn chân rồi hãy ngồi xuống ở một góc. Được gắn liền với sự bình lặng của tâm, các cô hãy thực hành lời dạy của đức Phật.’
BJT 119Sau khi lắng nghe lời nói, lời chỉ dạy của vị ni Paṭācārā ấy, (ba mươi) vị ni ấy đã nhanh chóng rửa các bàn chân rồi ngồi xuống ở một góc. Được gắn liền với sự bình lặng của tâm, các cô đã thực hành lời dạy của đức Phật.
BJT 120Vào canh thứ nhất của đêm, họ đã nhớ lại đời sống trước đây. Vào canh giữa của đêm, họ đã làm trong sạch Thiên nhãn. Vào canh cuối của đêm, họ đã phá tan khối đống tăm tối (vô minh).
BJT 121Sau khi đứng lên, họ đã (đi đến gặp và đã) đảnh lễ các bàn chân (của vị ni Paṭācārā và thưa rằng): ‘Các lời chỉ dạy của ni sư đã được thực hành. Chúng tôi sẽ tôn vinh và sẽ sống (với ni sư), tựa như chư Thiên cõi Ba Mươi đối với vị Trời Inda không bị đánh bại ở chiến trường. Chúng tôi có ba Minh, không còn lậu hoặc.’”
Các tỳ khưu ni trưởng lão số lượng ba mươi vị đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của ba mươi vị tỳ khưu ni trưởng lão.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Musalāni gahetvāna, dhaññaṁ koṭṭenti māṇavā; Puttadārāni posentā, dhanaṁ vindanti māṇavā.
“Taking a pestle, young men pound grain. Providing for partners and children, young men acquire wealth.
“Những người cày ruộng bằng cày, gieo hạt giống trên mặt đất, nuôi dưỡng vợ con, và tìm được của cải.”
Karotha buddhasāsanaṁ, yaṁ katvā nānutappati; Khippaṁ pādāni dhovitvā, ekamante nisīdatha; Cetosamathamanuyuttā, karotha buddhasāsanaṁ”.
Do the Buddha’s bidding, you won’t regret it. Having quickly washed your feet, sit in a discreet place to meditate. Devoted to serenity of heart, do the Buddha’s bidding.”
“‘Hãy thực hành giáo pháp của Đức Phật, điều mà sau khi làm sẽ không hối hận. Hãy nhanh chóng rửa chân, và ngồi xuống ở một nơi riêng. Hãy chuyên tâm vào sự an tịnh của tâm, hãy thực hành giáo pháp của Đức Phật’.”
Tassā tā vacanaṁ sutvā, paṭācārāya sāsanaṁ; Pāde pakkhālayitvāna, ekamantaṁ upāvisuṁ; Cetosamathamanuyuttā, akaṁsu buddhasāsanaṁ.
After hearing her words, the instructions of Paṭācārā, they washed their feet and retired to a discreet place. Devoted to serenity of heart, they did the Buddha’s bidding.
“Sau khi nghe lời nói của vị ấy, lời giáo huấn của Paṭācārā, các vị ấy đã rửa chân, và ngồi xuống ở một nơi riêng. Chuyên tâm vào sự an tịnh của tâm, các vị ấy đã thực hành giáo pháp của Đức Phật.”
Rattiyā purime yāme, pubbajātimanussaruṁ; Rattiyā majjhime yāme, dibbacakkhuṁ visodhayuṁ; Rattiyā pacchime yāme, tamokhandhaṁ padālayuṁ.
In the first watch of the night, they recollected their past lives. In the middle watch of the night, they purified their clairvoyance. In the last watch of the night, they shattered the mass of darkness.
“Trong canh đầu của đêm, các vị ấy đã nhớ lại các tiền kiếp. Trong canh giữa của đêm, các vị ấy đã thanh lọc thiên nhãn. Trong canh cuối của đêm, các vị ấy đã phá tan khối u tối (vô minh).”
Uṭṭhāya pāde vandiṁsu, “katā te anusāsanī; Indaṁva devā tidasā, saṅgāme aparājitaṁ; Purakkhatvā vihassāma, tevijjāmha anāsavā”ti.
They rose and paid homage at her feet: “We have done your bidding; we shall abide honoring you, as the Thirty gods honor Indra, undefeated in battle. Masters of the three knowledges, <j>we are free of defilements.”
“Các vị ấy đứng dậy, đảnh lễ dưới chân (vị ấy), (và nói rằng): ‘Lời giáo huấn của ngài đã được chúng con thực hành. Giống như chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba vây quanh vua Inda, vị bất khả chiến bại trong trận chiến, chúng con sẽ sống và vây quanh ngài. Chúng con đã là người tam minh, không còn lậu hoặc’.”
Itthaṁ sudaṁ tiṁsamattā therī bhikkhuniyo paṭācārāya santike aññaṁ byākariṁsūti.
That is how thirty senior nuns declared their enlightenment in the presence of Paṭācārā.
Như vậy, nghe nói rằng ba mươi vị Trưởng lão ni Tỳ-khưu-ni đã tuyên bố về A-la-hán quả trước sự hiện diện của Paṭācārā.