- Therīgāthā 3.5
- Tikanipāta
Bản dịch
THIG 3.5 — Kệ ngôn của Trưởng lão ni Ubbiri
Ubbiritherīgāthā
BJT 51“‘Bà khóc lóc ở trong rừng rằng: Ôi Jīvā con ơi! Này bà Ubbirī, hãy trấn tĩnh bản thân. Tất cả tám mươi bốn ngàn cô gái đã được thiêu đốt ở nơi hỏa táng này đều có tên Jīvā, bà buồn rầu cho cô nào trong số đó?’
BJT 52Quả thật, Ngài đã rút ra mũi tên khó nhìn thấy đã được cắm vào trái tim, là việc khi tôi bị sầu muộn chế ngự, Ngài đã xua đi nỗi sầu muộn về người con gái cho tôi.
BJT 53Hôm nay, tôi đây, có mũi tên đã được rút ra, không còn cơn đói, đã chứng Niết Bàn. Tôi đi đến nương nhờ đức Phật bậc Hiền Trí, Giáo Pháp, và Hội Chúng.’”
Trưởng lão ni Ubbirī đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Ubbirī.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Verses of the Senior Nuns 3.5
- The Book of the Threes
Ubbirī
5. Kệ của Trưởng lão ni Ubbiri
“Amma jīvāti vanamhi kandasi, Attānaṁ adhigaccha ubbiri; Cullāsītisahassāni, Sabbā jīvasanāmikā; Etamhāḷāhane daḍḍhā, Tāsaṁ kamanusocasi”.
“You cry ‘Live, my dear mother!’ in the forest. Ubbirī, get a hold of yourself! Eighty-four thousand people, all named ‘Live’, have been burnt in this funeral ground: which one do you grieve for?”
“Này Ubbiri, trong rừng con than khóc: ‘Ôi Jīvā của mẹ!’. Hãy tự biết mình đi, Ubbiri. Tám mươi bốn ngàn người, tất cả đều có tên là Jīvā, đã bị thiêu đốt tại chính nghĩa địa này. Trong số họ, con đang sầu muộn vì ai?”
“Abbahī vata me sallaṁ, duddasaṁ hadayassitaṁ; Yaṁ me sokaparetāya, dhītusokaṁ byapānudi.
“Oh! For you have plucked the arrow from me, so hard to see, stuck in the heart. You’ve swept away the grief for my daughter in which I once was mired.
“Quả thật, mũi tên khó thấy, nằm trong tim của tôi đã được nhổ lên; Ngài đã loại bỏ nỗi sầu muộn về con gái của tôi, người bị nỗi sầu muộn xâm chiếm.”
Sājja abbūḷhasallāhaṁ, Nicchātā parinibbutā; Buddhaṁ dhammañca saṅghañca, Upemi saraṇaṁ munin”ti.
… Ubbirī therī ….
Today I’ve plucked the arrow, I’m hungerless, quenched. I go for refuge to that sage, the Buddha, to his teaching, and to the Saṅgha.”
“Hôm nay, tôi là người đã nhổ mũi tên, không còn khao khát, đã được tịch tịnh. Tôi xin quy y bậc Mâu-ni, Đức Phật, và Pháp, và Tăng.”