- Therīgāthā 2.6
- Dukanipāta
Bản dịch
THIG 2.6 — Kệ ngôn của Trưởng lão ni Mettikā
Mettikātherīgāthā
BJT 29“Mặc dầu tôi bị đau đớn, yếu sức, tuổi trẻ đã đi qua, sau khi tựa vào cây gậy, tôi đi, trèo lên ngọn núi.
BJT 30Sau khi để y hai lớp xuống, và lập úp lại cái bình bát nhỏ, tôi đã ngồi xuống ở tảng đá, và tâm của tôi đã được giải thoát. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Trưởng lão ni Mettikā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Mettikā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Verses of the Senior Nuns 2.6
- The Book of the Twos
Mettikā
6. Kệ của Trưởng Lão Ni Mettikā
“Kiñcāpi khomhi dukkhitā, dubbalā gatayobbanā; Daṇḍamolubbha gacchāmi, pabbataṁ abhirūhiya.
Though in pain, feeble, my youth long gone, I climb the mountain, leaning on a staff.
Mặc dù quả thật tôi đau khổ, yếu ớt, đã qua tuổi thanh xuân; dù phải chống gậy để đi, tôi đã leo lên núi.
Nikkhipitvāna saṅghāṭiṁ, pattakañca nikujjiya; Nisinnā camhi selamhi, atha cittaṁ vimucci me; Tisso vijjā anuppattā, kataṁ buddhassa sāsanan”ti.
Having laid down my outer robe and overturned my bowl, sitting on a rock, my mind was freed. I’ve attained the three knowledges, and fulfilled the Buddha’s instructions.
Đặt y hai lớp xuống, và úp bát lại; và tôi đã ngồi trên tảng đá, rồi sau đó tâm của tôi đã được giải thoát; ba minh đã được đạt đến, giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
… Mettikā therī ….
… Trưởng Lão Ni Mettikā …