- Therīgāthā 2.5
- Dukanipāta
Bản dịch
THIG 2.5 — Kệ ngôn của Trưởng lão ni Cittā
Cittātherīgāthā
BJT 27“Mặc dầu tôi là gầy ốm, bị bệnh, vô cùng yếu sức, sau khi tựa vào cây gậy, tôi đi, trèo lên ngọn núi.
BJT 28Sau khi để y hai lớp xuống, và lập úp lại cái bình bát nhỏ, tôi đã tựa người vào tảng đá, sau khi đã phá tan khối đống tăm tối (vô minh).”
Trưởng lão ni Cittā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Cittā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Verses of the Senior Nuns 2.5
- The Book of the Twos
Cittā
5. Kệ của Trưởng Lão Ni Cittā
“Kiñcāpi khomhi kisikā, gilānā bāḷhadubbalā; Daṇḍamolubbha gacchāmi, pabbataṁ abhirūhiya.
Even though I’m skinny, sick, and very feeble, I climb the mountain, leaning on a staff.
Mặc dù quả thật tôi gầy gò, bệnh hoạn, và rất yếu ớt; dù phải chống gậy để đi, tôi đã leo lên núi.
Saṅghāṭiṁ nikkhipitvāna, pattakañca nikujjiya; Sele khambhesimattānaṁ, tamokhandhaṁ padāliyā”ti.
… Cittā therī ….
Having laid down my outer robe, and overturned my bowl, propping myself against a rock, I shattered the mass of darkness.
Đặt y hai lớp xuống, và úp bát lại; trên tảng đá, tôi đã giải thoát tự thân, sau khi đã phá tan khối vô minh.