- Therīgāthā 16.1
- Mahānipāta
Bản dịch
THIG 16.1 — Kệ ngôn của Trưởng lão ni Sumedhā
Sumedhātherīgāthā
BJT 447Ở thành phố Mantāvatī, Sumedhā, người con gái của hoàng hậu chánh cung của đức vua Koñca, đã có được đức tin nhờ vào những vị đang thực hành Giáo Pháp.
BJT 448Là người có giới hạnh, nói năng khôn khéo, có sự nghe nhiều, đã được dạy dỗ về lời dạy của đức Phật, Sumedhā đã đi đến gặp mẹ cha rồi nói với cả hai người rằng: ‘Xin mẹ cha hãy lắng nghe.
BJT 449Con thích thú Niết Bàn. Việc đi đến các hữu là không trường tồn, dầu là thuộc về cõi Trời đi nữa; vậy thì có gì với các dục rỗng không, ít khoái lạc, nhiều tai họa?
BJT 450Các dục là cay đắng, ví như nọc độc của rắn, khiến những kẻ ngu bị mê mẩn. Chúng bị đọa vào địa ngục thời gian dài, bị hành hạ, khổ đau.
BJT 451Có việc làm ác, có trí xấu xa, thường xuyên không thu thúc về thân, về khẩu, và về ý, (những kẻ ngu) sầu khổ ở đọa xứ.
BJT 452Những kẻ ngu ấy có ác tuệ, không có ý tứ, bị giam hãm bởi (tham ái) nguyên nhân của Khổ; trong khi (có người) đang thuyết giảng, chúng không hiểu, không giác ngộ các Chân Lý cao thượng.
BJT 453Thưa mẹ, những kẻ thích thú việc đi đến các hữu, mong mỏi việc sanh về các cõi Trời, những kẻ ấy là nhiều hơn, chúng không biết các Chân Lý đã được thuyết giảng bởi đức Phật cao quý.
BJT 454Khi việc đi đến các hữu là vô thường, việc sanh về thậm chí ở các cõi Trời cũng là không trường tồn; những kẻ ngu không sợ hãi đối với việc bị sanh lần này lần khác.
BJT 455Bốn đọa xứ và hai cảnh giới tái sanh (người và Trời) được đạt đến bằng cách này hay cách khác; còn đối với những kẻ đã đi đến đọa xứ thì không có việc xuất gia ở các địa ngục.
BJT 456Cả hai (mẹ và cha) hãy cho phép con xuất gia theo lời giáo huấn của đấng Thập Lực. Ít bị bận rộn, con sẽ cố gắng cho việc dứt bỏ sự sanh và sự chết.
BJT 457Có gì với việc đi đến các hữu, với việc được vui thú, với tội lỗi của thân xác không có thực chất? Vì sự diệt tận đối với tham ái ở các hữu, xin mẹ cha hãy cho phép, con sẽ xuất gia.
BJT 458Sự hiện khởi của chư Phật, lúc không phải thời cơ đã được tránh khỏi, thời cơ đã đạt được, con sẽ không làm hư hỏng các giới và Phạm hạnh cho đến trọn đời.
BJT 459Khi nào còn là người tại gia thì con sẽ không động đến thức ăn, con dứt khoát sẽ đi đến cái chết.’ Sumedhā nói với mẹ cha như vậy.
BJT 460Bị khổ đau, mẹ khóc, và người cha của cô gái đã bị tác động toàn diện, (hai người) cố gắng thuyết phục đứa con đã nằm dài xuống nền nhà ở sân thượng của tòa lâu đài.
BJT 461‘Này con, hãy đứng dậy. Việc gì phải bị sầu muộn? Con đã được gả về thành phố Vāraṇavatī. Đức vua Aṇīkadatta đẹp trai. Con đã được gả cho ông ta.
BJT 462Con sẽ là hoàng hậu chánh cung, là vợ của đức vua Aṇīkadatta. Này con, các giới cấm, sự thực hành Phạm hạnh, sự xuất gia là các việc khó làm.
BJT 463Ở vương quốc, có uy lực, tài sản, vương quyền, của cải, sung sướng. Con còn trẻ, con hãy thọ hưởng sự hưởng thụ các dục. Này con, hãy để cho cuộc hôn lễ của con được tiến hành.’
BJT 464Khi ấy, Sumedhā nói với mẹ cha rằng: ‘Đừng có những việc như thế. Việc đi đến các hữu là không có thực chất. Đối với con, hoặc là sẽ có sự xuất gia, hoặc là cái chết, và dứt khoát không có đám cưới.
BJT 465Giống như loài dòi, con bám víu vào cái thân hôi thối, không trong sạch, có mùi mồ hôi, cái thây ma đáng kinh sợ, cái túi da có sự rò rỉ thường xuyên, chứa đầy các chất dơ.
BJT 466Nó tựa như cái gì? Trong khi con biết rằng xác thân là ghê tởm, bị lấm lem những thịt và máu, chỗ trú của nhiều loại dòi, bữa ăn của những con chim, tại sao thân xác lại được đem cho?
BJT 467Không bao lâu, khi tâm thức đã lìa, thân xác được đem ra bãi tha ma. Các thân quyến, trong khi ghê tởm, quăng bỏ nó giống như khúc gỗ mục.
BJT 468Sau khi đã quăng bỏ thân xác ấy ở bãi tha ma làm bữa ăn cho những loài thú khác, mẹ và cha ruột, trong khi ghê tởm, tắm rửa; còn nhóm người công chúng thì sao?
BJT 469Họ bị dính mắc ở cái thân xác, không có thực chất, sự tập hợp các xương và những sợi gân, cái thân hôi thối, chứa đầy nước miếng, nước mắt, phân, và nước tiểu.
BJT 470Người nào, sau khi mổ xẻ thân ấy, có thể làm cho cái phần bên trong ra bên ngoài, ngay cả người mẹ ruột, trong khi không chịu nổi mùi của nó, cũng sẽ ghê tởm.
BJT 471Trong khi suy xét đúng đường lối về (năm) uẩn, (mười tám) giới, (mười hai) xứ là pháp tạo tác, là nền tảng của sự sanh, là khổ đau, tại sao con còn mong muốn đám cưới?
BJT 472Mỗi một ngày ba trăm cây giáo mới tinh rơi xuống ở thân thể, và dẫu cho sự hành hạ trong một trăm năm cũng vẫn là tốt hơn, nếu như vậy mà có được sự cạn kiệt của khổ đau.
BJT 473Người nào có thể chấp nhận sự hành hạ sau khi nhận thức lời nói như vầy của bậc Đạo Sư: ‘Trong khi những người ấy đang bị giết chết lần này lần khác, luân hồi là dài đối với họ.’
BJT 474Các sự hành hạ vô số kể được nhìn thấy ở chư Thiên, ở nhân loại, ở chủng loại các loài thú, ở tập thể của A-tu-la, ở các loài ngạ quỷ, và ở các địa ngục.
BJT 475Có nhiều sự hành hạ ở các địa ngục dành cho người đã đi đến đọa xứ, dành cho người đang bị áp chế, thậm chí không có sự ẩn náu ở giữa chư Thiên, không có gì vượt trội sự an lạc của Niết Bàn.
BJT 476Những người nào gắn bó với lời giáo huấn của đấng Thập Lực, ít bị bận rộn, cố gắng cho việc dứt bỏ sự sanh và sự chết, những người ấy đạt được Niết Bàn.
BJT 477Thưa cha, ngay hôm nay con sẽ xuất ly. Việc gì với các của cải không có thực chất? Các dục đã bị con nhàm chán; chúng được xem là vật đã được mửa ra, đã được làm thành thân cây thốt nốt (bị cụt ngọn).’
BJT 478Nàng ấy đã nói như thế với cha. Và Aṇīkadatta, người mà nàng ấy được gả cho, đã đi đến theo nghi thức của việc cưới hỏi, vào thời điểm đã được xác định là lễ cưới.
BJT 479Khi ấy, Sumedhā, sau khi cắt đứt đầu tóc đen nhánh, dầy, rậm, mềm mại bằng con dao, sau đó đã đóng lại (cánh cửa) tòa lâu đài, rồi đã thể nhập tầng thiền thứ nhất.
BJT 480Và nàng đã thể nhập thiền ấy. Rồi Aṇīkadatta đã đi đến thành phố. Ngay tại tòa lâu đài, Sumedhā (đã) khéo tu tập tưởng về vô thường.
BJT 481(Trong lúc) Sumedhā bận chú tâm, Aṇīkadatta đã vội vã bước lên, với thân hình được trang điểm với ngọc ma-ni và vàng, với tay chắp lại, thỉnh cầu Sumedhā rằng:
BJT 482‘Ở vương quốc, có uy lực, tài sản, vương quyền, của cải, sung sướng. Nàng còn trẻ, nàng hãy thọ hưởng sự hưởng thụ các dục. Sự khoái lạc của các dục ở thế gian là rất khó đạt được.
BJT 483Vương quốc đã được trao cho nàng. Nàng hãy thọ hưởng các của cải, hãy bố thí các vật thí. Nàng chớ có ủ dột, (khiến) mẹ cha của nàng khổ đau.’
BJT 484Sumedhā, không có mục đích với các dục, có sự si mê đã xa lìa, nói điều này với Aṇīkadatta: ‘Chớ thích thú ở các dục. Chàng hãy nhìn thấy điều bất lợi ở các dục.
BJT 485Đức vua Mandhātā của bốn châu lục đã đứng đầu trong số những người thọ hưởng dục lạc, (nhưng vẫn) không được thỏa mãn, đã chết đi, và các điều mong muốn của vị ấy đã không được đầy đủ.
BJT 486Thần mưa có thể làm cơn mưa bảy loại châu báu ở xung quanh khắp cả mười phương, nhưng không có sự thỏa mãn của các dục. Loài người chết đi, thật sự không được thỏa mãn.
BJT 487Các dục ví như dao và thớt; các dục ví như đầu rắn độc; chúng thiêu đốt ví như các cây đuốc cỏ; chúng tương tự như bộ xương.
BJT 488Các dục là không thường còn, không bền vững, nhiều khổ đau, là những chất độc lớn lao, tựa như cục sắt đã được nung nóng, là gốc rễ của tội lỗi, có kết quả khổ đau.
BJT 489Các dục ví như trái trên cây; ví như miếng thịt, khổ đau; ví như giấc chiêm bao, lừa bịp; các dục ví như vật vay mượn.
BJT 490Các dục ví như gươm giáo, là bệnh tật, mụt nhọt, tội lỗi, khốn khổ, tương tự hố than cháy rực, là gốc rễ của tội lỗi, sợ hãi, giết chóc.
BJT 491Các dục có nhiều khổ đau như vậy, đã được nói đến là các chướng ngại. Quý vị hãy đi đi, bản thân tôi không có sự tin tưởng ở việc đi đến các hữu.
BJT 492Người khác sẽ làm gì cho tôi khi cái đầu của bản thân tôi đang bị thiêu đốt? Khi sự sống và chết đuổi theo sau, thì nên cố gắng cho việc diệt trừ đối với điều ấy.’
BJT 493Sau khi mở ra cánh cửa, nhìn thấy mẹ cha và Aṇīkadatta ngồi ở nền nhà đang khóc than, tôi đã nói điều này:
BJT 494‘Luân hồi là dài lâu cho những kẻ ngu và những kẻ đang khóc lóc lần này lần khác về việc không có khởi đầu và chấm dứt, về cái chết của cha, về sự chết chóc của anh em trai, và về sự chết chóc của bản thân.
BJT 495Hãy nhớ rằng nước mắt, sữa, máu, sự luân hồi không có khởi đầu và chấm dứt. Hãy nhớ rằng sự chồng chất của những khúc xương của các chúng sanh đang luân hồi.
BJT 496Hãy nhớ rằng nước mắt, sữa, máu đã được so sánh với bốn biển. Hãy nhớ rằng sự chồng chất của những khúc xương trong một đại kiếp là sánh bằng núi Vipula.
BJT 497Quả địa cầu, xứ Jambudīpa, được so sánh với kẻ đang luân hồi (ở sự luân hồi) không có khởi đầu và chấm dứt; (trái đất được làm thành) những viên bi nhỏ như hạt táo vẫn không sánh bằng những lần đã lần lượt làm mẹ.
BJT 498Hãy nhớ rằng cỏ, củi, cành, lá được so sánh với sự (luân hồi) không có khởi đầu và chấm dứt. (Cắt cỏ, củi, cành, lá thành) những mẩu bốn ngón tay vẫn không sánh bằng những lần đã lần lượt làm cha.
BJT 499Hãy nhớ rằng con rùa mù và lỗ hổng ở cái ách (trôi dạt) ở biển đông sang phía tây. Và hãy nhớ rằng sự gặp gỡ của nó là ví dụ về việc đạt được bản thể nhân loại.
BJT 500Hãy nhớ rằng hình thể của xác thân tồi tệ, không có thực chất, ví như cục bong bóng nước. Hãy nhìn thấy các uẩn là vô thường. Hãy nhớ rằng các địa ngục là có nhiều tai họa.
BJT 501Hãy nhớ về những kiếp sống kia kiếp sống nọ đang làm phát triển bãi tha ma lúc này lúc khác. Hãy nhớ đến những nỗi sợ hãi về cá sấu (sự tham ăn). Hãy nhớ về bốn Chân Lý.
BJT 502Trong khi Bất Tử đang được biết đến, chàng được cái gì với việc uống vào năm vật cay đắng? Bởi vì mọi sự thích thú ở các dục còn đắng cay hơn năm vật cay đắng nữa.
BJT 503Trong khi sự Bất Tử đang được biết đến, chàng được cái gì với các dục, là những thứ có sự nóng nực? Bởi vì mọi sự thích thú ở các dục là bị cháy rực, bị sôi sục, bị rung chuyển, bị thiêu đốt.
BJT 504Trong khi là không có kẻ thù, chàng được cái gì với các dục, là những thứ có nhiều kẻ thù? Các dục là có nhiều kẻ thù, ví dụ như các vị vua, ngọn lửa, trộm cướp, nước (lũ), người không yêu thương, v.v…
BJT 505Trong khi sự Giải Thoát đang được biết đến, chàng được cái gì với các dục, ở những thứ ấy có sự giết hại và trói buộc. Bởi vì do dục không tốt đẹp trong số các dục, chúng sanh chịu đựng những khổ đau do sự giết hại và trói buộc.
BJT 506Những cây đuốc cỏ, đã được thắp sáng, đốt nóng những người đang nắm lấy và không bao giờ chịu buông ra. Các dục, quả giống như cây đuốc, đốt nóng những người không chịu buông ra.
BJT 507Chớ từ bỏ sự an lạc lớn lao vì nguyên nhân khoái lạc ít ỏi của các dục. Chớ như con cá Puthuloma đã nuốt vào lưỡi câu về sau bị khốn khổ.
BJT 508Chỉ còn cách hãy hết lòng kiềm chế đối với các dục, tựa như con chó bị trói buộc vào sợi xích. Quả vậy, các dục sẽ đối xử với ngươi, tựa như hạng người hạ liệt bị đói sẽ đối xử với con chó.
BJT 509Bị vướng vào ở các dục, chàng sẽ chịu đựng nhiều khổ đau vô hạn lượng và buồn bực ở tâm trí. Hãy buông bỏ các dục không được bền lâu.
BJT 510Trong khi sự không già đang được biết đến, chàng được cái gì với các dục, ở những thứ ấy có sự già. Ở khắp mọi nơi, tất cả các sự sanh ra đều bị nắm giữ bởi sự chết và bệnh tật.
BJT 511Cái này là không già, cái này là không chết, cái này là vị thế không già không chết, không sầu muộn, không kẻ thù, không chướng ngại, không lầm lỗi, không sợ hãi, khỏi bị nóng nảy.
BJT 512Sự Bất Tử này đã được chứng đắc bởi nhiều người. Ngay cả hôm nay, cái này vẫn còn được chứng ngộ (đối với) người nào áp dụng đúng đường lối, và không thể được với người không cố gắng.’
BJT 513Trong khi không đạt được sự thích thú ở việc đi đến các sự tạo tác, Sumedhā nói như vậy. Trong khi thuyết phục Aṇīkadatta, Sumedhā đã ném nắm tóc xuống nền nhà.
BJT 514Sau khi đứng lên, Aṇīkadatta ấy đã chắp tay thỉnh cầu mẹ cha của nàng rằng: ‘Quý vị hãy cho phép Sumedhā được xuất gia; nàng sẽ có sự nhìn thấy Giải Thoát và Chân Lý.’
BJT 515Được mẹ cha cho phép, bị sợ hãi vì sự sầu muộn và lo sợ (luân hồi), nàng đã xuất gia. Trong khi còn là vị ni tu tập sự, sáu Thắng Trí và quả vị cao cả đã được (nàng) chứng ngộ.
BJT 516Niết Bàn kỳ diệu, phi thường ấy đã thuộc về người con gái của đức vua, như đã được nàng nói rõ về việc làm trong đời sống thuộc thời quá khứ ở vào thời điểm cuối cùng.
BJT 517Vào thời đức Thế Tôn Koṇāgamana, chúng tôi gồm ba người bạn gái đã dâng cúng trú xá ở tại chỗ cư ngụ mới là tu viện của hội chúng.
BJT 518Chúng tôi đã tái sanh mười lần, trăm lần, ngàn lần, mười ngàn lần ở các cõi trời, thì ở cõi người có điều gì để nói.
BJT 519Chúng tôi đã có đại thần lực ở cõi trời, thì ở cõi người có điều gì để nói. Tôi đã là hoàng hậu, là báu vật nữ nhân trong số bảy loại báu vật.
BJT 520Nhân ấy, nguồn sanh khởi ấy, căn nguyên ấy, sự chăm chỉ ấy trong Giáo Pháp, sự liên kết đầu tiên ấy, việc Niết Bàn ấy là do sự thỏa thích trong Giáo Pháp.
BJT 521Những người nào tin tưởng vào lời nói của bậc Trí Tuệ Cao Thượng thì thực hành như vậy, họ nhàm chán việc đi đến các hữu, sau khi nhàm chán họ lìa khỏi ái luyến.”
Trưởng lão ni Sumedhā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Sumedhā.
Nhóm Lớn được chấm dứt.
“Tất cả các câu kệ ấy là năm trăm hai mươi mốt. Các trưởng lão ni là một trăm lẻ một, tất cả các vị ni ấy có sự cạn kiệt của các lậu hoặc.”
TRƯỞNG LÃO NI KỆ ĐƯỢC ĐẦY ĐỦ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Verses of the Senior Nuns 16.1
- The Great Book
Sumedhā
1. Kệ của Trưởng lão ni Sumedhā
Mantāvatiyā nagare, Rañño koñcassa aggamahesiyā; Dhītā āsiṁ sumedhā, Pasāditā sāsanakarehi.
In Mantāvatī city, Sumedhā, the daughter of King Koñca’s chief queen, was converted by those who practice the Buddha’s teaching.
Tại thành Mantāvatī, con là công chúa Sumedhā, con gái của đức vua Koñca và hoàng hậu. Con đã được các vị thực hành giáo pháp làm cho có đức tin.
Sīlavatī cittakathā, Bahussutā buddhasāsane vinitā; Mātāpitaro upagamma, Bhaṇati “ubhayo nisāmetha.
She was virtuous, a brilliant speaker, learned, and trained in the Buddha’s instructions. She went up to her mother and father and said: “Pay heed, both of you!
Con là người có giới hạnh, là người thuyết giảng khéo léo, là người đa văn, được huấn luyện trong giáo pháp của Đức Phật. Sau khi đến gần cha mẹ, con đã nói rằng: ‘Xin cả hai hãy lắng nghe.’
Nibbānābhiratāhaṁ, Asassataṁ bhavagataṁ yadipi dibbaṁ; Kimaṅgaṁ pana tucchā kāmā, Appassādā bahuvighātā.
I delight in extinguishment! No state of life is eternal, not even that of the gods; what then of sensual pleasures, so hollow, offering little gratification and much distress.
‘Con là người vui thích trong Niết-bàn. Sự hiện hữu trong các cõi, dẫu cho là cõi trời, cũng là vô thường. Huống nữa là các dục lạc trống rỗng, ít vị ngọt, và nhiều não hại.’
Kāmā kaṭukā āsī, Visūpamā yesu mucchitā bālā; Te dīgharattaṁ niraye, Samappitā haññante dukkhitā.
Sensual pleasures are bitter as the venom of a snake, yet fools are infatuated by them. Sent to hell for a very long time, they are beaten and tortured.
‘Các dục lạc thì cay đắng, tương tự như loài rắn độc, trong ấy những kẻ khờ dại bị say đắm. Trải qua một thời gian dài, họ bị ném vào địa ngục, bị hành hạ, và phải chịu đau khổ.’
Socanti pāpakammā, Vinipāte pāpavaddhino sadā; Kāyena ca vācāya ca, Manasā ca asaṁvutā bālā.
Those who grow in wickedness ever lament in the underworld <j>due to their own bad deeds. They’re fools, unrestrained in body, mind, and speech.
‘Những kẻ có ác nghiệp, những kẻ làm gia tăng điều ác, luôn luôn sầu muộn trong cảnh khổ. Những kẻ khờ dại không được thu thúc bởi thân, khẩu, và ý.’
Bālā te duppaññā, Acetanā dukkhasamudayoruddhā; Desente ajānantā, Na bujjhare ariyasaccāni.
Those witless, senseless fools, trapped by the origin of suffering, are ignorant, not understanding the noble truths when they are being taught.
‘Những kẻ khờ dại ấy là những người có trí tuệ thấp kém, không có ý chí, bị ngăn che bởi sự tập khởi của khổ đau. Khi (giáo pháp) được thuyết giảng, họ không hiểu biết và không thể giác ngộ các Thánh đế.’
Saccāni amma buddhavaradesitāni, Te bahutarā ajānantā ye; Abhinandanti bhavagataṁ, Pihenti devesu upapattiṁ.
Most people, mum, ignorant of the truths taught by the excellent Buddha, look forward to a state of life, longing for rebirth among the gods.
‘Thưa mẹ, các chân lý do các bậc Chánh Đẳng Giác thuyết giảng, những người không biết đến chúng thì có rất nhiều. Họ là những người vui thích trong sự hiện hữu trong các cõi và mong mỏi được tái sanh vào cõi trời.’
Devesupi upapatti, Asassatā bhavagate aniccamhi; Na ca santasanti bālā, Punappunaṁ jāyitabbassa.
Yet even rebirth among the gods in an impermanent state of life is not eternal. But fools are not scared of being reborn time and again.
‘Việc tái sanh, ngay cả ở cõi trời, cũng là không bền vững, vì sự hiện hữu trong các cõi là vô thường. Và những kẻ khờ dại không kinh sợ việc phải sanh đi sanh lại nhiều lần.’
Cattāro vinipātā, Duve ca gatiyo kathañci labbhanti; Na ca vinipātagatānaṁ, Pabbajjā atthi nirayesu.
Four lower realms and two other realms may be gained somehow or other. But for those who end up in a lower realm, there is no way to go forth in the hells.
‘Có bốn cảnh khổ và hai cảnh giới (lành) thì khó khăn mới đạt được. Đối với những người đã đi đến cảnh khổ, không có sự xuất gia ở trong các địa ngục.’
Anujānātha maṁ ubhayo, Pabbajituṁ dasabalassa pāvacane; Appossukkā ghaṭissaṁ, Jātimaraṇappahānāya.
May you both grant me permission to go forth in the dispensation of him of the ten powers. Living at ease, I shall apply myself to giving up rebirth and death.
‘Xin cả hai hãy cho phép con được xuất gia trong giáo pháp của bậc Thập Lực. Con sẽ nỗ lực, không bận tâm (về việc khác), để đoạn tận sanh và tử.’
Kiṁ bhavagate abhinanditena, Kāyakalinā asārena; Bhavataṇhāya nirodhā, Anujānātha pabbajissāmi.
Why look forward to a new state of life in this useless, insubstantial body? Grant me permission, I shall go forth to make an end of craving for a new life.
‘Có ích lợi gì trong việc vui thích với sự hiện hữu trong các cõi, vốn là thứ làm ô uế thân thể và không có cốt lõi? Vì sự đoạn diệt của ái thủ, xin hãy cho phép con, con sẽ xuất gia.’
Buddhānaṁ uppādo vivajjito, Akkhaṇo khaṇo laddho; Sīlāni brahmacariyaṁ, Yāvajīvaṁ na dūseyyaṁ”.
A Buddha has arisen, the time has come, the unlucky moment has passed. As long as I live I’ll never betray my ethical precepts or my chaste path.”
‘Sự xuất hiện của các Đức Phật đã đạt được, thời không thuận lợi đã được tránh khỏi, thời thuận lợi đã được thành tựu. Con sẽ không làm hư hoại các giới và phạm hạnh cho đến trọn đời.’
Evaṁ bhaṇati sumedhā, Mātāpitaro “na tāva āhāraṁ; Āharissaṁ gahaṭṭhā, Maraṇavasaṁ gatāva hessāmi”.
Then Sumedhā said to her parents: “So long as I remain a layperson, I’ll refuse to eat any food, until I’ve fallen under the sway of death.”
Sumedhā đã nói với cha mẹ như vầy: ‘Là một người tại gia, con sẽ không dùng vật thực. Con sẽ đi vào sự chi phối của cái chết.’
Mātā dukkhitā rodati pitā ca, Assā sabbaso samabhihato; Ghaṭenti saññāpetuṁ, Pāsādatale chamāpatitaṁ.
Upset, her mother burst into tears, while her father, though grieved, tried his best to persuade her as she lay collapsed upstairs in the longhouse.
Mẹ của nàng, đau khổ, đã khóc than, và cả người cha cũng vậy, hoàn toàn bị xúc động. Họ cố gắng thuyết phục nàng, người đã ngã xuống sàn nhà trong cung điện.
“Uṭṭhehi puttaka kiṁ soci, Tena dinnāsi vāraṇavatimhi; Rājā anīkaratto, Abhirūpo tassa tvaṁ dinnā.
“Get up child, why do you grieve so? You’re already betrothed to be married! King Anīkaratta the handsome is in Vāraṇavatī: he is your betrothed.
‘Này con gái, hãy đứng dậy, sầu muộn để làm gì? Con đã được hứa gả ở thành Vāraṇavatī. Vua Anīkaratta rất tuấn tú, con đã được hứa gả cho vị ấy.’
Aggamahesī bhavissasi, Anikarattassa rājino bhariyā; Sīlāni brahmacariyaṁ, Pabbajjā dukkarā puttaka.
You shall be the chief queen, wife of King Anīkaratta. Ethical precepts, the chaste path—going forth is hard to do, my child.
‘Con sẽ trở thành hoàng hậu, vợ của vua Anīkaratta. Này con gái, các giới, phạm hạnh, và sự xuất gia là những điều khó làm.’
Rajje āṇā dhanamissariyaṁ, Bhogā sukhā daharikāsi; Bhuñjāhi kāmabhoge, Vāreyyaṁ hotu te putta”.
As a royal there is command, wealth, authority, and the happiness of possessions. Enjoy sensual pleasures while you’re still young! Let your wedding take place, my child!”
‘Trong vương quốc, quyền hành, tài sản, quyền lực, của cải, và sự an lạc (sẽ là của con). Con còn trẻ. Hãy hưởng thụ các dục lạc. Này con gái, hãy để lễ cưới của con được diễn ra.’
Atha ne bhaṇati sumedhā, “Mā edisikāni bhavagatamasāraṁ; Pabbajjā vā hohiti, Maraṇaṁ vā me na ceva vāreyyaṁ.
Then Sumedhā said to him: “Let this not come to pass! Existence is hollow! I shall either go forth or die, but I shall never marry.
Bấy giờ, Sumedhā nói với họ: ‘Xin đừng có những điều như vậy. Sự hiện hữu trong các cõi là không có cốt lõi. Đối với con, sẽ là sự xuất gia hoặc là cái chết, chứ chắc chắn không phải là hôn nhân.’
Kimiva pūtikāyamasuciṁ, Savanagandhaṁ bhayānakaṁ kuṇapaṁ; Abhisaṁviseyyaṁ bhastaṁ, Asakiṁ paggharitaṁ asucipuṇṇaṁ.
Why cling to this rotting body so foul, stinking of fluids, a horrifying water-bag carcass, always oozing, full of filth?
‘Làm sao con có thể xem xét cái thân hôi thối, không trong sạch, có mùi hôi lan tỏa, đáng sợ, như một tử thi, một cái túi da, luôn rỉ chảy, và đầy những thứ bất tịnh này?’
Kimiva tahaṁ jānantī, Vikūlakaṁ maṁsasoṇitupalittaṁ; Kimikulālayaṁ sakuṇabhattaṁ, Kaḷevaraṁ kissa diyyati.
Knowing it like I do, what’s the point? A carcass is vile, smeared with flesh and blood, food for birds and swarms of worms—why have we been given it?
‘Biết như vậy, làm sao con có thể (chấp nhận)? Thân xác này thật ghê tởm, bị vấy bẩn bởi thịt và máu, là nơi ở của giòi bọ, là thức ăn cho các loài chim. Tại sao thân xác này lại được đem cho đi?’
Nibbuyhati susānaṁ, Aciraṁ kāyo apetaviññāṇo; Chuddho kaḷiṅgaraṁ viya, Jigucchamānehi ñātīhi.
Before long the body, bereft of consciousness, is carried out to the charnel ground, to be discarded like an old log by relatives in disgust.
‘Không bao lâu nữa, thân này, khi không còn thức, sẽ được mang ra nghĩa địa, bị vứt bỏ như một khúc gỗ bởi những người thân ghê tởm.’
Chuddhūna naṁ susāne, Parabhattaṁ nhāyanti jigucchantā; Niyakā mātāpitaro, Kiṁ pana sādhāraṇā janatā.
When they’ve discarded it in the charnel ground, to be eaten by others, your own parents bathe themselves, disgusted; what then of people at large?
‘Sau khi vứt bỏ nó ở nghĩa địa, làm thức ăn cho kẻ khác, ngay cả cha mẹ ruột cũng tắm gội vì ghê tởm. Huống nữa là những người bình thường khác.’
Ajjhositā asāre, Kaḷevare aṭṭhinhārusaṅghāte; Kheḷassuccārassava, Paripuṇṇe pūtikāyamhi.
They’re attached to this hollow carcass, this mass of sinews and bone; this rotting body full of saliva, tears, feces, and pus.
‘Những kẻ khờ dại bị trói buộc vào cái thân xác vô giá trị này, một tập hợp của xương và gân, đầy nước bọt, nước mắt, phân và nước tiểu, trong cái thân hôi thối này.’
Yo naṁ vinibbhujitvā, Abbhantaramassa bāhiraṁ kayirā; Gandhassa asahamānā, Sakāpi mātā jiguccheyya.
If anyone were to dissect it, turning it inside out, the unbearable stench would disgust even their own mother.
‘Nếu ai đó, sau khi mổ xẻ nó, lộn phần bên trong của nó ra ngoài, thì ngay cả mẹ ruột của người ấy cũng sẽ ghê tởm, không thể chịu đựng được mùi hôi của nó.’
Khandhadhātuāyatanaṁ, Saṅkhataṁ jātimūlakaṁ dukkhaṁ; Yoniso anuvicinantī, Vāreyyaṁ kissa iccheyyaṁ.
Rationally examining the aggregates, elements, and sense fields as conditioned, rooted in birth, suffering—why would I wish for marriage?
‘Các uẩn, giới, và xứ là pháp hữu vi, là khổ đau có gốc rễ từ sanh. Khi quán xét điều này một cách như lý, tại sao con lại mong muốn hôn nhân?’
Divase divase tisatti, Satāni navanavā pateyyuṁ kāyamhi; Vassasatampi ca ghāto, Seyyo dukkhassa cevaṁ khayo.
Let three hundred sharp swords fall on my body everyday! Even if the slaughter lasted a hundred years it’d be worth it if it led to the end of suffering.
‘Mỗi ngày, nếu ba trăm ngọn giáo mới tinh rơi xuống thân này, và sự tàn sát này kéo dài cả trăm năm, điều đó vẫn tốt hơn, nếu nhờ vậy mà khổ đau được chấm dứt.’
Ajjhupagacche ghātaṁ, Yo viññāyevaṁ satthuno vacanaṁ; ‘Dīgho tesaṁ saṁsāro, Punappunaṁ haññamānānaṁ’.
One who understands the Teacher’s words would put up with this slaughter: ‘Long for you is transmigration being killed time and time again.’
‘Người nào hiểu được lời dạy của Bậc Đạo Sư như thế này, người ấy nên chấp nhận sự tàn sát: ‘Vòng luân hồi thật dài lâu đối với những ai bị giết đi giết lại nhiều lần’.’
Devesu manussesu ca, Tiracchānayoniyā asurakāye; Petesu ca nirayesu ca, Aparimitā dissare ghātā.
Among gods and humans, in the realm of animals or that of titans, among the ghosts or in the hells, endless killings are seen.
‘Ở cõi trời và cõi người, trong loài súc sanh, trong thân a-tu-la, trong loài ngạ quỷ, và trong các địa ngục, vô số sự tàn sát được nhìn thấy.’
Ghātā nirayesu bahū, Vinipātagatassa pīḷiyamānassa; Devesupi attāṇaṁ, Nibbānasukhā paraṁ natthi.
The hells are full of killing, for the corrupt who have fallen to the underworld. Even among the gods there is no shelter, for no happiness excels extinguishment.
‘Có nhiều sự tàn sát trong các địa ngục đối với người đã rơi vào cảnh khổ và đang bị hành hạ. Ngay cả ở cõi trời cũng không có nơi nương tựa. Không có hạnh phúc nào cao hơn hạnh phúc của Niết-bàn.’
Pattā te nibbānaṁ, Ye yuttā dasabalassa pāvacane; Appossukkā ghaṭenti, Jātimaraṇappahānāya.
Those who are committed to the dispensation of him of the ten powers attain extinguishment. Living at ease, they apply themselves to giving up rebirth and death.
‘Những vị ấy đã đạt được Niết-bàn, những vị đã chuyên tâm trong giáo pháp của bậc Thập Lực, những vị nỗ lực không bận tâm để đoạn tận sanh và tử.’
Ajjeva tātabhinikkha- missaṁ bhogehi kiṁ asārehi; Nibbinnā me kāmā, Vantasamā tālavatthukatā”.
On this very day, dad, I shall renounce: what’s to enjoy in hollow riches? I’m disillusioned with sensual pleasures, they’re like vomit, made like a palm stump.”
“Thưa cha mẹ, hôm nay con sẽ xuất gia, Có ích gì với những lạc thú vô vị này; Con đã chán ngán dục lạc, Như đồ đã nôn ra, như cây cọ bị chặt gốc.”
Sā cevaṁ bhaṇati pitaram- anīkaratto ca yassa sā dinnā; Upayāsi vāraṇavate, Vāreyyamupaṭṭhite kāle.
As she spoke thus to her father, Anīkaratta, to whom she was betrothed, approached from Vāraṇavatī at the time appointed for the marriage.
Nàng nói với cha mình như vậy, và Anīkaratta, người mà nàng đã được hứa gả, đã đến Vāraṇavatī để cưới nàng khi thời điểm đã đến.
Atha asitanicitamuduke, Kese khaggena chindiya sumedhā; Pāsādaṁ pidahitvā, Paṭhamajjhānaṁ samāpajji.
Then Sumedhā took up a knife, and cut off her hair, so black, thick, and soft. Shutting herself in the longhouse, she entered the first absorption.
Rồi Sumedhā, với mái tóc đen, dày và mềm mại, đã dùng gươm cắt tóc, đóng cửa cung điện và nhập vào sơ thiền.
Sā ca tahiṁ samāpannā, Anīkaratto ca āgato nagaraṁ; Pāsāde ca sumedhā, Aniccasaññaṁ subhāveti.
And as she entered it there, Anīkaratta arrived at the city. Then in the longhouse, Sumedhā well developed the perception of impermanence.
Nàng nhập thiền ở đó, và Anīkaratta đến thành phố; và trong cung điện, Sumedhā tu tập tưởng vô thường.
Sā ca manasi karoti, Anīkaratto ca āruhī turitaṁ; Maṇikanakabhūsitaṅgo, Katañjalī yācati sumedhaṁ.
As she investigated in meditation, Anīkaratta quickly climbed the stairs. His limbs adorned with gems <j>and honey-yellow gold, he begged Sumedhā with cupped palms:
Nàng đang thiền định, và Anīkaratta vội vã đi lên, thân trang sức bằng ngọc và vàng, chắp tay van xin Sumedhā.
“Rajje āṇādhanamissa- riyaṁ bhogā sukhā daharikāsi; Bhuñjāhi kāmabhoge, Kāmasukhā dullabhā loke.
“As a royal there is command, wealth, authority, and the happiness of possessions. Enjoy sensual pleasures while you’re still young! Sensual pleasures are hard to find in the world!
“Quyền lực, của cải, và sự thống trị trong vương quốc, những lạc thú và hạnh phúc, nàng còn trẻ; hãy hưởng thụ những dục lạc, vì hạnh phúc của dục lạc khó tìm thấy trên đời.”
Nissaṭṭhaṁ te rajjaṁ, Bhoge bhuñjassu dehi dānāni; Mā dummanā ahosi, Mātāpitaro te dukkhitā”.
I’ve handed royalty to you—enjoy riches, give gifts! Don’t be sad; your parents are upset.”
“Vương quốc này được trao cho nàng, hãy hưởng thụ lạc thú, hãy bố thí; đừng buồn phiền, cha mẹ nàng đang đau khổ.”
Taṁ taṁ bhaṇati sumedhā, Kāmehi anatthikā vigatamohā; “Mā kāme abhinandi, Kāmesvādīnavaṁ passa.
Sumedhā, having no use for sensual pleasures, and having done away with delusion, <j>spoke right back: “Do not take pleasure in sensuality! See the danger in sensual pleasures!
Sumedhā, người không ham muốn dục lạc và đã thoát khỏi si mê, nói với chàng: “Đừng vui thích trong dục lạc, hãy thấy sự nguy hiểm trong đó.”
Cātuddīpo rājā, Mandhātā āsi kāmabhoginamaggo; Atitto kālaṅkato, Na cassa paripūritā icchā.
Mandhātā, king of four continents, foremost in enjoying sensual pleasures, died unsated, his desires unfulfilled.
“Vua Mandhātā, người cai trị bốn châu, là người đứng đầu trong những người hưởng thụ dục lạc; ngài đã chết mà không thỏa mãn, và ham muốn của ngài không được lấp đầy.”
Satta ratanāni vasseyya, Vuṭṭhimā dasadisā samantena; Na catthi titti kāmānaṁ, Atittāva maranti narā.
Were the seven jewels to rain from the sky all over the ten directions, there would be no sating of sensual pleasures: people die insatiable.
“Cho dù trời mưa xuống bảy báu vật khắp mười phương, vẫn không có sự thỏa mãn trong dục lạc; con người chết đi mà không thỏa mãn.”
Asisūnūpamā kāmā, kāmā sappasiropamā; Ukkopamā anudahanti, aṭṭhikaṅkala sannibhā.
Like a butcher’s knife and chopping board, sensual pleasures are like a cobra’s head. They burn like a fire-brand, they resemble a skeleton.
“Dục lạc giống như lưỡi gươm, dục lạc giống như đầu rắn; chúng thiêu đốt như ngọn đuốc, và giống như một bộ xương.”
Aniccā adhuvā kāmā, bahudukkhā mahāvisā; Ayoguḷova santatto, aghamūlā dukhapphalā.
Sensual pleasures are impermanent and unstable, they’re full of suffering, a terrible poison; like a hot iron ball, the root of gloom, their fruit is pain.
“Dục lạc là vô thường, không bền vững, nhiều khổ đau, là chất độc lớn; nóng như hòn sắt nung, là gốc rễ của tai họa, và kết quả là đau khổ.”
Rukkhapphalūpamā kāmā, maṁsapesūpamā dukhā; Supinopamā vañcaniyā, kāmā yācitakūpamā.
Sensual pleasures are like fruits of a tree, like scraps of meat, painful, they trick you like a dream; sensual pleasures are like borrowed goods.
“Dục lạc giống như trái cây, giống như miếng thịt, và là đau khổ; chúng giống như giấc mơ, lừa dối; dục lạc giống như đồ đi mượn.”
Sattisūlūpamā kāmā, rogo gaṇḍo aghaṁ nighaṁ; Aṅgārakāsusadisā, aghamūlaṁ bhayaṁ vadho.
Sensual pleasures are like swords and spears; a disease, a boil, gloom and trouble. Like a pit of glowing coals, the root of gloom, fear and slaughter.
“Dục lạc giống như mũi giáo và cọc nhọn, là bệnh tật, là khối u, là tai họa, là sự hủy diệt; chúng giống như hố than hồng, là gốc rễ của tai họa, là sự sợ hãi, là sự giết chóc.”
Evaṁ bahudukkhā kāmā, akkhātā antarāyikā; Gacchatha na me bhavagate, vissāso atthi attano.
Thus sensual pleasures have been explained to be obstructions, so full of suffering. Please leave! As for me, I have no trust in any state of life.
“Như vậy, dục lạc được tuyên bố là nhiều khổ đau và là chướng ngại. Hãy đi đi; tôi không có niềm tin vào sự tồn tại của chính mình.”
Kiṁ mama paro karissati, Attano sīsamhi ḍayhamānamhi; Anubandhe jarāmaraṇe, Tassa ghātāya ghaṭitabbaṁ”.
What can someone else do for me when their own head is burning? When stalked by old age and death, you should strive to destroy them.”
“Người khác có thể làm gì cho tôi, khi đầu tôi đang cháy, khi tuổi già và cái chết đang theo đuổi? Phải nỗ lực để tiêu diệt chúng.”
Dvāraṁ apāpuritvānahaṁ, Mātāpitaro anīkarattañca; Disvāna chamaṁ nisinne, Rodante idamavocaṁ.
She opened the door and saw her parents with Anīkaratta, sitting crying on the floor. And so she said this:
Khi tôi mở cửa, tôi thấy cha mẹ và Anīkaratta đang ngồi trên mặt đất khóc lóc, và tôi đã nói những lời này.
“Dīgho bālānaṁ saṁsāro, Punappunañca rodataṁ; Anamatagge pitu maraṇe, Bhātu vadhe attano ca vadhe.
“Transmigration is long for fools, crying again and again <j>at that with no known beginning—the death of a father, the killing of a brother or of themselves.
“Luân hồi thật dài đối với những kẻ khờ dại, những người khóc lóc hết lần này đến lần khác trong vòng luân hồi vô thủy, vì cái chết của cha, vì anh em bị giết, và vì chính mình bị giết.”
Assu thaññaṁ rudhiraṁ, Saṁsāraṁ anamataggato saratha; Sattānaṁ saṁsarataṁ, Sarāhi aṭṭhīnañca sannicayaṁ.
Remember the ocean of tears, of milk, of blood—transmigration with no known beginning. Remember the bones piled up by beings transmigrating.
“Hãy nhớ lại nước mắt, sữa mẹ, và máu của chúng sinh lang thang trong vòng luân hồi vô thủy; hãy nhớ lại đống xương của họ.”
Sara caturodadhī, Upanīte assuthaññarudhiramhi; Sara ekakappamaṭṭhīnaṁ, Sañcayaṁ vipulena samaṁ.
Remember the four oceans compared with tears, milk, and blood. Remember bones piled up high as Mount Vepulla in the course of a single eon.
“Hãy nhớ lại bốn đại dương, được so sánh với nước mắt, sữa mẹ, và máu; hãy nhớ lại đống xương trong một kiếp, bằng với núi Vipula.”
Anamatagge saṁsarato, Mahiṁ jambudīpamupanītaṁ; Kolaṭṭhimattaguḷikā, Mātā mātusveva nappahonti.
Transmigration with no known beginning is compared to this broad Black Plum Tree Land; if divided into lumps the size of jujube seeds, they’d still be fewer than his mother’s mothers.
“Trong vòng luân hồi vô thủy, nếu đất của Jambudīpa được làm thành những viên nhỏ bằng hạt táo, chúng cũng không đủ để đếm hết các bà mẹ và bà ngoại.”
Tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ, Upanītaṁ anamataggato sara; Caturaṅgulikā ghaṭikā, Pitupitusveva nappahonti.
Remember the grass, sticks, and leaves, compare that with no known beginning: if split into chips four inches in size, they’d still be fewer than his father’s fathers.
“Hãy nhớ lại ví dụ về cỏ, gỗ, cành và lá trong vòng luân hồi vô thủy; nếu chúng được làm thành những que dài bốn ngón tay, chúng cũng không đủ để đếm hết các ông cha và ông nội.”
Sara kāṇakacchapaṁ pubba- samudde aparato ca yugachiddaṁ; Siraṁ tassa ca paṭimukkaṁ, Manussalābhamhi opammaṁ.
Remember the one-eyed turtle <j>and the yoke with a hole blown in the ocean from east to west—sticking the head in the hole is a metaphor for gaining a human birth.
“Hãy nhớ lại ví dụ về con rùa mù trong biển phía đông, và cái ách có lỗ ở phía tây; và việc đầu nó chui vào đó, là ví dụ cho việc được sinh làm người.”
Sara rūpaṁ pheṇapiṇḍopam- assa kāyakalino asārassa; Khandhe passa anicce, Sarāhi niraye bahuvighāte.
Remember the form of this unlucky body, insubstantial as a lump of foam. See the aggregates as impermanent, remember the hells so full of distress.
“Hãy nhớ lại hình tướng của thân xác vô vị này, giống như một cục bọt; hãy thấy các uẩn là vô thường, hãy nhớ lại nhiều nỗi thống khổ trong địa ngục.”
Sara kaṭasiṁ vaḍḍhente, Punappunaṁ tāsu tāsu jātīsu; Sara kumbhīlabhayāni ca, Sarāhi cattāri saccāni.
Remember those swelling the charnel grounds again and again in life after life. Remember the danger of gharials! Remember the four truths!
“Hãy nhớ lại những người làm đầy các nghĩa địa, hết lần này đến lần khác trong các kiếp sống; hãy nhớ lại những nỗi sợ hãi về cá sấu, và hãy nhớ lại bốn sự thật.”
Amatamhi vijjamāne, Kiṁ tava pañcakaṭukena pītena; Sabbā hi kāmaratiyo, Kaṭukatarā pañcakaṭukena.
When freedom from death is there to be found, why would you drink the five bitter poisons? For all erotic delights are so much more bitter than them.
“Khi có vị cam lồ, ích gì cho chàng khi uống thứ có năm vị đắng? Quả thật, tất cả những thú vui dục lạc đều đắng hơn năm vị đắng.”
Amatamhi vijjamāne, Kiṁ tava kāmehi ye pariḷāhā; Sabbā hi kāmaratiyo, Jalitā kuthitā kampitā santāpitā.
When freedom from death is there to be found, why would you burn for sensual pleasures? For all erotic delights are burning, boiling, bubbling, seething.
“Khi có vị cam lồ, ích gì cho chàng với những dục lạc gây thiêu đốt? Quả thật, tất cả những thú vui dục lạc đều bùng cháy, sôi sục, run rẩy và bị thiêu đốt.”
Asapattamhi samāne, Kiṁ tava kāmehi ye bahusapattā; Rājaggicoraudakappiyehi, Sādhāraṇā kāmā bahusapattā.
When there is freedom from enmity, why would you want your enemy, sensual pleasures? Many enemies take a share of your sensual pleasures: kings, fire, robbers, flood, and unloved heirs.
“Khi có trạng thái không kẻ thù, ích gì cho chàng với những dục lạc có nhiều kẻ thù? Dục lạc có nhiều kẻ thù vì chúng chung chạ với vua, lửa, trộm, nước và những người không ưa.”
Mokkhamhi vijjamāne, Kiṁ tava kāmehi yesu vadhabandho; Kāmesu hi asakāmā, Vadhabandhadukhāni anubhonti.
When liberation is there to be found, what good are sensual pleasures that kill and bind? For though unwilling, <j>when sensual pleasures are there, they are subject to the pain of killing and binding.
“Khi có sự giải thoát, ích gì cho chàng với những dục lạc mà trong đó có sự giết chóc và trói buộc? Quả thật, trong dục lạc, những người không tự chủ phải chịu đựng đau khổ của sự giết chóc và trói buộc.”
Ādīpitā tiṇukkā, Gaṇhantaṁ dahanti neva muñcantaṁ; Ukkopamā hi kāmā, Dahanti ye te na muñcanti.
As a blazing grass torch burns one who grasps it without letting go, sensual pleasures are like a grass torch, burning those who do not let go.
“Những ngọn đuốc cỏ đang cháy sẽ thiêu đốt người cầm chúng, chứ không phải người buông chúng ra. Quả thật, dục lạc giống như những ngọn đuốc, chúng thiêu đốt những ai không từ bỏ chúng.”
Mā appakassa hetu, Kāmasukhassa vipulaṁ jahī sukhaṁ; Mā puthulomova baḷisaṁ, Gilitvā pacchā vihaññasi.
Don’t give up abundant happiness for the trivial joys of sensual pleasure. Don’t fret later, like a catfish on a hook.
Chớ vì nguyên nhân của dục lạc nhỏ nhoi mà từ bỏ niềm an lạc rộng lớn. Chớ như con cá nuốt lưỡi câu rồi phải chịu đau khổ về sau.
Kāmaṁ kāmesu damassu, Tāva sunakhova saṅkhalābaddho; Kāhinti khu taṁ kāmā, Chātā sunakhaṁva caṇḍālā.
Deliberately control yourself <j>among sensual pleasures! You’re like a hound fixed to a chain: sensual pleasures will surely devour you as hungry corpse-workers would a hound.
Quả thật, hãy chế ngự các dục lạc, như con chó bị trói bởi dây xích. Các dục lạc sẽ làm hại ngươi, như những người hạ tiện đói khát (làm hại) con chó.
Aparimitañca dukkhaṁ, Bahūni ca cittadomanassāni; Anubhohisi kāmayutto, Paṭinissaja addhuve kāme.
Harnessed to sensual pleasure, you undergo endless pain, along with much mental anguish: relinquish sensual pleasures, they don’t last!
Bị ràng buộc bởi dục lạc, ngươi sẽ phải chịu đựng khổ đau vô lượng và nhiều nỗi ưu phiền trong tâm. Hãy từ bỏ các dục lạc không bền vững.
Ajaramhi vijjamāne, Kiṁ tava kāmehi yesu jarā; Maraṇabyādhigahitā, Sabbā sabbattha jātiyo.
When the unaging is there to be found, what good are sensual pleasures in which is old age? All rebirths everywhere are bonded to death and sickness.
Khi trạng thái không già đang hiện hữu, các dục lạc có ích gì cho ngươi, trong khi ở đó có sự già nua? Tất cả các sự sanh ở khắp mọi nơi đều bị cái chết và bệnh tật chiếm đoạt.
Idamajaramidamamaraṁ, Idamajarāmaraṁ padamasokaṁ; Asapattamasambādhaṁ, Akhalitamabhayaṁ nirupatāpaṁ.
This is freedom from old age, freedom from death! This is freedom from old age and death, the sorrowless state! Free of enmity, unconstricted, faultless, fearless, without tribulations.
Đây là trạng thái không già, đây là trạng thái bất tử, đây là cảnh giới không già không chết, không sầu muộn, không kẻ thù, không chật hẹp, không sai lầm, không sợ hãi, không phiền não.
Adhigatamidaṁ bahūhi, Amataṁ ajjāpi ca labhanīyamidaṁ; Yo yoniso payuñjati, Na ca sakkā aghaṭamānena”.
This freedom from death has been realized by many; even today it can be obtained by those who rationally apply themselves; but it’s impossible if you don’t try.”
Trạng thái bất tử này đã được nhiều vị chứng đắc. Ngay cả hôm nay, trạng thái này vẫn có thể đạt được bởi người nào nỗ lực một cách như lý. Và không thể đạt được bởi người không nỗ lực.
Evaṁ bhaṇati sumedhā, Saṅkhāragate ratiṁ alabhamānā; Anunentī anikarattaṁ, Kese ca chamaṁ khipi sumedhā.
So said Sumedhā, lacking delight in conditioned things. Soothing Anīkaratta, Sumedhā cast her hair on the ground.
Như vậy, nàng Sumedhā đã nói, không tìm thấy sự hoan hỷ trong các pháp hữu vi. Trong khi khuyên dạy vua Anikaratta, nàng Sumedhā đã ném mái tóc xuống đất.
Uṭṭhāya anikaratto, Pañjaliko yācatassā pitaraṁ so; “Vissajjetha sumedhaṁ, Pabbajituṁ vimokkhasaccadassā”.
Standing up, Anīkaratta raised his cupped palms to her father and begged: “Let go of Sumedhā, so that she may go forth! She will see the truth of liberation.”
Vua Anikaratta đứng dậy, chắp tay lại, và thỉnh cầu phụ thân của nàng rằng: ‘Xin hãy cho phép Sumedhā được xuất gia, để nàng có thể thấy được chân lý của sự giải thoát’.
Vissajjitā mātāpitūhi, pabbaji sokabhayabhītā; Cha abhiññā sacchikatā, aggaphalaṁ sikkhamānāya.
Released by her mother and father, she went forth, afraid of grief and fear. While still a trainee nun <j>she realized the six direct knowledges, along with the highest fruit.
Được cha mẹ cho phép, nàng đã xuất gia, vì sợ hãi sầu muộn và hiểm nguy. Trong khi còn là một học nữ, sáu thắng trí đã được chứng ngộ, và cả quả vị tối thượng cũng vậy.
Acchariyamabbhutaṁ taṁ, Nibbānaṁ āsi rājakaññāya; Pubbenivāsacaritaṁ, Yathā byākari pacchime kāle.
The extinguishment of the princess was incredible and amazing; on her deathbed, she declared her several past lives.
Thật kỳ diệu, thật phi thường là Niết-bàn của vị công chúa. Vào thời điểm cuối cùng, nàng đã tuyên thuyết về hạnh nghiệp trong các tiền kiếp của mình.
“Bhagavati koṇāgamane, Saṅghārāmamhi navanivesamhi; Sakhiyo tisso janiyo, Vihāradānaṁ adāsimha.
“In the time of the Buddha Koṇāgamana, we three friends gave the gift of a newly-built dwelling in the Saṅgha’s monastery.
‘Vào thời Đức Thế Tôn Câu-na-hàm-mâu-ni, tại một ngôi tịnh xá mới xây cho Tăng đoàn, chúng con, ba người bạn nữ, đã cúng dường một trú xứ.’
Dasakkhattuṁ satakkhattuṁ, Dasasatakkhattuṁ satāni ca satakkhattuṁ; Devesu uppajjimha, Ko pana vādo manussesu.
Ten times, a hundred times, a thousand times, ten thousand times, we were reborn among the gods, let alone among humans.
‘Mười lần, một trăm lần, một ngàn lần, và mười ngàn lần, chúng con đã được sanh vào cõi chư thiên. Huống nữa là ở cõi người.’
Devesu mahiddhikā ahumha, Mānusakamhi ko pana vādo; Sattaratanassa mahesī, Itthiratanaṁ ahaṁ āsiṁ.
We were mighty among the gods, let alone among humans! I was queen to a king with the seven treasures—I was the treasure of a wife.
‘Ở cõi chư thiên, chúng con có đại thần lực; huống nữa là ở cõi người. Con đã từng là hoàng hậu, là nữ bảo, của một vị vua sở hữu bảy báu vật.’
So hetu so pabhavo, Taṁ mūlaṁ sāva sāsane khantī; Taṁ paṭhamasamodhānaṁ, Taṁ dhammaratāya nibbānaṁ.
That was the cause, that the origin, that the root, that was the acceptance of the dispensation; that first meeting culminated in extinguishment for one delighting in the teaching.
‘Đó là nhân, đó là nguồn, đó là gốc rễ. Chính điều đó là sự kham nhẫn trong giáo pháp. Đó là sự hội tụ đầu tiên. Đó là Niết-bàn, do sự hoan hỷ trong Pháp.’
Evaṁ karonti ye sadda- hanti vacanaṁ anomapaññassa; Nibbindanti bhavagate, Nibbinditvā virajjantī”ti.
So say those who have faith in the words of the one unrivaled in wisdom. They’re disillusioned with any state of life, and being disillusioned they become dispassionate.”
Những ai có tín tâm vào lời dạy của bậc có trí tuệ vô thượng, họ sẽ hành động như vậy. Họ nhàm chán đối với sự hiện hữu trong các cõi; sau khi nhàm chán, họ trở nên ly tham.
Itthaṁ sudaṁ sumedhā therī gāthāyo abhāsitthāti.
That is how these verses were recited by the senior nun Sumedhā.
Như vậy, quả thật Trưởng lão ni Sumedhā đã nói lên những câu kệ này.
Bốn trăm, tám mươi, và mười bốn câu kệ; một trăm lẻ một vị Trưởng lão ni, tất cả các vị ấy đều đã đoạn tận các lậu hoặc.