- Therīgāthā 15.1
- Cattālīsanipāta
Isidāsītherīgāthā
Nagaramhi kusumanāme, Pāṭaliputtamhi pathaviyā maṇḍe; Sakyakulakulīnāyo, Dve bhikkhuniyo hi guṇavatiyo.
Bản dịch
Isidāsītherīgāthā
BJT 399Ở thành phố có tên của loài hoa Pāṭaliputta, nơi trong lành nhất ở trên trái đất, có hai vị tỳ khưu ni có đức hạnh, thuộc dòng dõi gia tộc Sakya.
BJT 400Trong số đó, một vị là Isidāsī, và vị thứ nhì là trưởng lão ni Bodhī; (cả hai) đầy đủ giới hạnh, thích thú việc tham thiền về các loại thiền, có sự nghe nhiều, có các phiền não đã được giũ bỏ.
BJT 401Hai vị ni ấy, sau khi đi khất thực, sau khi hoàn tất bữa ăn, có các bình bát đã được rửa, ngồi xuống thoải mái ở nơi thanh vắng, đã nói lên những lời này:
BJT 402‘Này chị Isidāsī, chị là dễ mến, thậm chí tuổi trẻ của chị cũng chưa phai tàn, sau khi nhìn thấy điều gì xấu xa (ở cuộc sống tại gia) khiến chị gắn bó với việc xuất ly?’
BJT 403Trong khi được hỏi như vậy ở nơi thanh vắng, vị ni Isidāsī ấy, thiện xảo về việc thuyết giảng Giáo Pháp, đã nói lời nói rằng: “Này Bodhī, hãy lắng nghe tôi đã được xuất gia như thế nào.
BJT 404Ở tại kinh thành Ujjenī, cha của tôi là thương buôn, thu thúc trong giới hạnh. Tôi là con gái độc nhất, đáng yêu, hợp ý, được cảm tình của ông ấy.
BJT 405Rồi những người hỏi cưới tôi thuộc gia tộc thượng lưu từ Sāketa đã đi đến, người thương buôn có nhiều châu ngọc (đã phái họ đi đến); cha đã cho tôi làm con dâu của ông ấy.
BJT 406Đối với mẹ chồng và cha chồng, buổi tối, buổi sáng, sau khi đi đến gặp họ, tôi cúi đầu thể hiện sự tôn kính, rồi đảnh lễ các bàn chân theo như tôi đã được chỉ dạy.
BJT 407Sau khi nhìn thấy các chị em gái, các anh em trai, người tùy tùng của chồng tôi, ngay cả người yêu quý duy nhất ấy, tôi run rẩy trao cho ghế ngồi.
BJT 408Với cơm ăn, nước uống, thức nhai, và vật được tích trữ ở tại nơi ấy, tôi chiều chuộng, đem lại, và trao vật thích hợp cho từng người.
BJT 409Sau khi thức dậy đúng giờ, tôi đi đến gian nhà, rửa sạch các bàn tay bàn chân ở ngưỡng cửa, rồi tôi đi đến bên chồng, với tay chắp lại.
BJT 410Sau khi cầm lấy cái lược, đồ trang điểm, thuốc thoa, và cái gương nhỏ, tôi tự chính mình trang điểm cho chồng tựa như người nữ tỳ.
BJT 411Tôi tự chính mình nấu cơm, tự chính mình rửa bát, tôi luôn luôn phục vụ người chồng tựa như người mẹ phục vụ đứa con trai duy nhất.
BJT 412Người chồng bực bội đối với tôi, (trong khi tôi là) người đã thể hiện sự hy sinh, một mực yêu (chồng), như là người hầu gái, có ngã mạn đã được đè nén, là người dậy sớm, không biếng nhác, có giới hạnh như thế ấy.
BJT 413Anh ta nói với mẹ và cha rằng: ‘Con sẽ xin phép và con sẽ ra đi. Để sống với nhau, con sẽ không sống với Isidāsī trong cùng một căn nhà.’
BJT 414‘Này con trai, chớ nói như vậy. Isidāsī sáng suốt, là người dậy sớm, không biếng nhác. Này con trai, cô ta không làm vừa ý con điều gì?’
BJT 415‘Cô ta không gây hại cho con bất cứ điều gì, nhưng con sẽ không sống chung với Isidāsī. Đối với con, cô ta thật là đáng ghét. Đối với con, là đủ rồi. Con sẽ không xin phép và con sẽ ra đi.’
BJT 416Sau khi lắng nghe lời nói ấy của con trai, mẹ chồng và cha chồng đã hỏi tôi rằng: ‘Con đã phạm tội lỗi gì? Hãy bình tĩnh nói đúng theo sự tình.’
BJT 417‘Con cũng đã không phạm tội lỗi nào cả, con cũng không gây hại, con không nói lời hỗn xược. Còn có thể làm điều gì khi chồng ghét bỏ con?’
BJT 418Họ, với tâm không vui, bị chồng chất khổ đau, đã đưa tôi về lại nhà của cha ruột (nói rằng): ‘Trong khi bảo vệ đứa con trai, chúng tôi tự đánh mất nữ thần Lakkhī (May Mắn) xinh đẹp.’
BJT 419Rồi cha đã cho tôi vào căn nhà của một người giàu có thuộc gia tộc thứ nhì, với của hồi môn bằng một nửa so với của hồi môn mà người thương buôn (trước đây) đã tiếp nhận tôi.
BJT 420Tôi cũng đã sống trong căn nhà của ông ấy được một tháng, rồi ông ấy cũng đã đuổi tôi đi, trong khi tôi phục vụ tựa như nữ tỳ, (và tôi) được đầy đủ giới hạnh, không phải là kẻ xấu xa.
BJT 421Và cha tôi nói với kẻ đang đi đó đây vì việc khất thực, là người huấn luyện (kẻ khác), và là người đã được rèn luyện: ‘Hãy trở thành con rể của ta. Hãy quăng bỏ mảnh vải rách và cái tô xin ăn.’
BJT 422Người ấy cũng thế, sau khi sống (chung) nửa tháng, thì nói với cha rằng: ‘Hãy trao cho con mảnh vải rách, cái tô xin ăn, và cái chậu, con cũng sẽ đi khất thực trở lại.’
BJT 423Rồi cha, mẹ, và toàn bộ nhóm thân quyến của tôi nói với người ấy rằng: ‘Ở đây, cái gì chưa được con hài lòng? Hãy nói mau đi, vợ con sẽ làm điều ấy cho con.’
BJT 424Được bảo như vậy, người ấy nói rằng: ‘Nếu bản thân con có khả năng (tự quyết định), đối với con là đủ rồi. Để sống với nhau, con sẽ không sống với Isidāsī trong cùng một căn nhà.’
BJT 425Được tự do, người ấy đã ra đi. Còn tôi, đơn độc một mình, suy nghĩ rằng: ‘Ta sẽ không xin phép, ta sẽ ra đi để chết hoặc ta sẽ xuất gia.’
BJT 426Rồi ni sư Jinadattā, vị ni rành rẽ về Luật, có sự nghe nhiều, đầy đủ giới hạnh, trong khi đi khất thực, đã đi đến nhà của cha.
BJT 427Sau khi nhìn thấy vị ni ấy, tôi đã đứng dậy và sắp xếp cái ghế của chúng tôi cho vị ni ấy. Khi vị ni ấy đã ngồi xuống, tôi đã đảnh lễ các bàn chân của người và đã dâng cúng vật thực.
BJT 428Sau khi làm cho (vị ni ấy) được thỏa mãn với cơm ăn, nước uống, thức nhai, và vật được tích trữ ở tại nơi ấy, tôi đã nói rằng: ‘Thưa ni sư, con muốn xuất gia.’
BJT 429Rồi cha nói với tôi rằng: ‘Này con, con hãy thực hành Phạm hạnh ngay tại đây (ở căn nhà này). Con hãy làm thỏa mãn các vị Sa-môn và các vị có hai lần sanh (Bà-la-môn) với cơm ăn và nước uống.
BJT 430Khi ấy, tôi chắp hai bàn tay lại, khóc lóc, nói với cha rằng: Bởi vì việc ác đã được tạo ra bởi con, con sẽ thủ tiêu nghiệp ấy.’
BJT 431Rồi cha nói với tôi rằng: ‘Con hãy đạt lấy quả vị Giác Ngộ và Giáo Pháp cao cả. Con hãy thành tựu Niết Bàn mà bậc Tối Thượng của loài người đã chứng đắc.’
BJT 432Sau khi đảnh lễ mẹ, cha, và toàn bộ nhóm thân quyến, tôi đã xuất gia; qua bảy ngày tôi đã chạm đến ba Minh.
BJT 433Tôi biết bảy kiếp sống của mình; đây là quả (của nghiệp) và quả thành tựu của việc ấy (bị chồng hất hủi). Tôi sẽ thuật lại việc ấy cho cô. Cô hãy nhất tâm lắng nghe chuyện ấy.
BJT 434Ở thành phố Erakaccha, tôi đã là người thợ vàng, có nhiều tài sản. Bị đắm đuối với sự say mê của tuổi trẻ, tôi đây đã gần gũi với vợ của kẻ khác.
BJT 435Sau khi chết đi từ nơi ấy, tôi đây đã bị nung nấu ở địa ngục thời gian dài. Và sau khi bị nung nấu, từ nơi đó tôi đã được sanh lên và đã nhập thai vào bụng của con khỉ cái.
BJT 436Khi tôi được bảy ngày tuổi, con khỉ đực khổng lồ chúa bầy đã thiến tôi. Việc ấy là quả của nghiệp của tôi đây, bởi vì đã đi đến với vợ của kẻ khác.
BJT 437Sau khi chết đi từ nơi ấy, sau khi lìa đời ở khu rừng Sindhava, tôi đã hạ sanh vào bụng của con dê cái chột và què.
BJT 438Sau khi đã chăm sóc những đứa con trong mười hai năm, tôi đã bị thiến, bị khổ sở vì dòi (ăn), không còn sức khỏe, bởi vì đã đi đến với vợ của kẻ khác.
BJT 439Sau khi chết đi từ nơi ấy, tôi đây đã được sanh ra bởi con bò cái của người buôn trâu bò. Là con bê, có màu đỏ hung như cánh kiến, tôi đã bị thiến khi được mười hai tháng.
BJT 440Tôi đã kéo cày, và gồng gánh cỗ xe kéo, mù lòa, bị khổ sở, không còn sức khỏe, bởi vì đã đi đến với vợ của kẻ khác.
BJT 441Sau khi chết đi từ nơi ấy, tôi đây đã được sanh ra trong bụng của người nữ tỳ ở đường phố; tôi không phải là nữ cũng không phải là nam, bởi vì đã đi đến với vợ của kẻ khác.
BJT 442Vào năm ba mươi, tôi đã chết đi và đã được sanh làm đứa bé gái ở gia tộc của người kéo xe, khốn khó, có ít của cải, chịu nhiều áp chế từ những người giàu có.
BJT 443Sau đó, do số tiền lời đã được tích lũy quá nhiều, người điều khiển đoàn xe đã lôi kéo tôi đây, đang than khóc, sau khi đã cưỡng bức tôi lìa khỏi căn nhà.
BJT 444Rồi vào năm tôi được mười sáu tuổi, sau khi nhìn thấy tôi đã đạt tuổi thành niên, trở thành thiếu nữ, người con trai của ông ấy tên là Giridāsa đã chọn tôi làm vợ.
BJT 445Anh ta còn có người vợ khác nữa, (cô ấy) có giới hạnh, có đức hạnh, và có danh tiếng. Là người yêu thương chồng, tôi đã gây thù oán với cô ấy.
BJT 446Việc ấy là quả của nghiệp của tôi đây, là việc họ đã ruồng rẫy tôi rồi ra đi, trong khi tôi phục vụ tựa như nữ tỳ. Dầu vậy, đối với điều ấy, tôi đã thực hiện sự chấm dứt.”
Trưởng lão ni Isidāsī đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Isidāsī.
Nhóm Bốn Mươi được chấm dứt.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Nagaramhi kusumanāme, Pāṭaliputtamhi pathaviyā maṇḍe; Sakyakulakulīnāyo, Dve bhikkhuniyo hi guṇavatiyo.
In Pāṭaliputta, the cream of the world, the city named for a flower, there were two nuns from the Sakyan clan, both of them ladies of quality.
Tại thành Pāṭaliputta, vật trang sức của thế gian, còn được gọi là Kusumapura, có hai vị Tỳ-khưu-ni đức hạnh, xuất thân từ dòng dõi cao quý của gia tộc Thích Ca.
Isidāsī tattha ekā, Dutiyā bodhīti sīlasampannā ca; Jhānajjhāyanaratāyo, Bahussutāyo dhutakilesāyo.
One was named Isidāsī, the second Bodhī. They both were accomplished in ethics, lovers of meditation and chanting, learned, crushing corruptions.
Trong số họ, một vị tên là Isidāsī, vị thứ hai là Bodhi. Cả hai đều giới hạnh vẹn toàn, chuyên tâm thiền định, đa văn, và đã rũ sạch các phiền não.
Tā piṇḍāya caritvā, Bhattatthaṁ kariya dhotapattāyo; Rahitamhi sukhanisinnā, Imā girā abbhudīresuṁ.
They wandered for alms and had their meal. When they had washed their bowls, they sat happily in a private place and started a conversation.
Sau khi đi khất thực, dùng bữa xong, và rửa bát, hai vị ngồi an lạc ở một nơi vắng vẻ và thốt lên những lời này.
“Pāsādikāsi ayye, Isidāsi vayopi te aparihīno; Kiṁ disvāna byālikaṁ, Athāsi nekkhammamanuyuttā”.
“You’re so lovely, Mistress Isidāsī, your youth has not yet faded. What problem did you see that made you dedicate your life to renunciation?”
'Thưa hiền tỷ Isidāsī, hiền tỷ thật khả ái, và tuổi xuân của hiền tỷ vẫn chưa phai tàn. Thấy được sự nguy hại nào mà hiền tỷ đã quyết chí xuất gia?'
Evamanuyuñjiyamānā sā, Rahite dhammadesanākusalā; Isidāsī vacanamabravi, “Suṇa bodhi yathāmhi pabbajitā”.
Being pressed like this in private, Isidāsī, skilled in teaching Dhamma, voiced the following words. “Bodhī, hear how I went forth.
Được hỏi như vậy ở nơi vắng vẻ, vị Isidāsī, người khéo thuyết pháp, đã nói những lời này: 'Này Bodhi, hãy nghe lý do tại sao tôi đã xuất gia.'
“Ujjeniyā puravare, Mayhaṁ pitā sīlasaṁvuto seṭṭhi; Tassamhi ekadhītā, Piyā manāpā ca dayitā ca.
In the fine town of Ujjenī, my father was a financier, a good and moral man. I was his only daughter, dear, beloved, and cherished.
'Tại thành phố Ujjenī cao quý, cha tôi là một trưởng giả giữ giới trong sạch. Tôi là con gái duy nhất của ông, được yêu thương, quý mến và trân trọng.'
Atha me sāketato varakā, Āgacchumuttamakulīnā; Seṭṭhī pahūtaratano, Tassa mamaṁ suṇhamadāsi tāto.
Then some suitors came for me from the top family of Sāketa. They were sent by a financier abounding in wealth, to whom my father then gave me as daughter-in-law.
'Rồi từ Sāketa, một người cầu hôn đã đến, một trưởng giả thuộc gia đình danh giá, sở hữu nhiều của cải. Cha tôi đã gả tôi làm con dâu cho ông ấy.'
Sassuyā sasurassa ca, Sāyaṁ pātaṁ paṇāmamupagamma; Sirasā karomi pāde, Vandāmi yathāmhi anusiṭṭhā.
Come morning and come evening, I bowed with my head to the feet of my father and mother-in-law, just as I had been told.
'Sáng và tối, tôi đến đảnh lễ cha mẹ chồng, cúi đầu lạy dưới chân các vị, đúng như tôi đã được dạy bảo.'
Yā mayhaṁ sāmikassa, Bhaginiyo bhātuno parijano vā; Tamekavarakampi disvā, Ubbiggā āsanaṁ demi.
Whenever I saw my husband’s sisters, his brothers, his servants, or even he, my one and only, I nervously gave them a seat.
'Khi thấy chị em, anh em, hoặc người thân của chồng, dù chỉ là một người, tôi cũng vội vàng đứng dậy nhường chỗ.'
Annena ca pānena ca, Khajjena ca yañca tattha sannihitaṁ; Chādemi upanayāmi ca, Demi ca yaṁ yassa patirūpaṁ.
Whatever they wanted—food and drink, treats, or whatever was in the cupboard—I brought out and offered to them, ensuring each got what was fitting.
'Tôi phục vụ họ với thức ăn, thức uống, và các loại vật thực. Với những gì đã được chuẩn bị sẵn, tôi cất giữ cẩn thận, mang ra phục vụ, và trao cho mỗi người những gì phù hợp với họ.'
Kālena upaṭṭhahitvā, Gharaṁ samupagamāmi ummāre; Dhovantī hatthapāde, Pañjalikā sāmikamupemi.
Having risen bright and early, I approached the main house, washed my hands and feet, and went to my husband with cupped palms.
'Tôi thức dậy đúng giờ, lo toan việc nhà, rồi đến ngưỡng cửa, rửa tay chân, chắp tay cung kính và đến gần chồng.'
Kocchaṁ pasādaṁ añjaniñca, Ādāsakañca gaṇhitvā; Parikammakārikā viya, Sayameva patiṁ vibhūsemi.
Taking a comb, adornments, eyeshadow, and a mirror, I myself did the makeup for my husband, as if I were his beautician.
'Tôi cầm lấy lược, phấn trang điểm, thuốc kẻ mắt và gương, rồi tự tay trang điểm cho chồng như một người hầu gái.'
Sayameva odanaṁ sādhayāmi, Sayameva bhājanaṁ dhovantī; Mātāva ekaputtakaṁ, Tathā bhattāraṁ paricarāmi.
I myself cooked the rice; I myself washed the pots. I looked after my husband like a mother her only child.
'Tôi tự tay nấu cơm, tự tay rửa chén bát. Tôi chăm sóc chồng như một người mẹ chăm sóc đứa con duy nhất của mình.'
Evaṁ maṁ bhattikataṁ, Anurattaṁ kārikaṁ nihatamānaṁ; Uṭṭhāyikaṁ analasaṁ, Sīlavatiṁ dussate bhattā.
Thus I showed my devotion to him, a loyal, virtuous, and humble servant, getting up early, and working tirelessly: yet still my husband did me wrong.
'Dù tôi hết lòng tôn kính, tận tụy, khiêm tốn, siêng năng, không lười biếng, và có giới hạnh, chồng tôi vẫn ghét bỏ tôi.'
So mātarañca pitarañca, Bhaṇati ‘āpucchahaṁ gamissāmi; Isidāsiyā na saha vacchaṁ, Ekāgārehaṁ saha vatthuṁ’.
He said to his mother and father: ‘I’ll take my leave and go, I can’t stand to live together with Isidāsī staying in the same house.’
'Chàng nói với cha mẹ mình rằng: 'Con xin phép cha mẹ để ra đi. Con không thể sống chung nhà với Isidāsī được nữa'.'
‘Mā evaṁ putta avaca, Isidāsī paṇḍitā paribyattā; Uṭṭhāyikā analasā, Kiṁ tuyhaṁ na rocate putta’.
‘Son, don’t speak like this! Isidāsī is astute and competent, she gets up early and works tirelessly, son, why doesn’t she please you?’
'Này con, đừng nói vậy. Isidāsī là người khôn ngoan, tài giỏi, siêng năng, và không lười biếng. Tại sao con lại không hài lòng với cô ấy, con trai?'
‘Na ca me hiṁsati kiñci, Na cahaṁ isidāsiyā saha vacchaṁ; Dessāva me alaṁ me, Apucchāhaṁ gamissāmi’.
‘She hasn’t done anything to hurt me, but I just can’t stand to live with her. As far as I’m concerned, she’s just detestable. I’ve had enough, I’ll take my leave and go.’
'Cô ấy không làm hại con chút nào, nhưng con không muốn sống cùng Isidāsī nữa. Con chỉ đơn giản là ghét cô ấy! Con không cần cô ấy nữa. Con xin phép cha mẹ để ra đi'.
Tassa vacanaṁ suṇitvā, Sassu sasuro ca maṁ apucchiṁsu; ‘Kissa tayā aparaddhaṁ, Bhaṇa vissaṭṭhā yathābhūtaṁ’.
When they heard his words, my father-in-law and mother-in-law asked me: ‘What did you do wrong? Boldly tell how it occurred.’
'Nghe những lời ấy của chàng, cha mẹ chồng đã hỏi tôi: 'Con đã làm điều gì sai trái? Hãy nói cho chúng ta biết sự thật một cách thẳng thắn'.'
‘Napihaṁ aparajjhaṁ kiñci, Napi hiṁsemi na bhaṇāmi dubbacanaṁ; Kiṁ sakkā kātuyye, Yaṁ maṁ viddessate bhattā’.
‘I’ve done nothing wrong, I haven’t hurt him, or said anything bad. What can I possibly do, when my husband finds me so hateful?’
'Con không làm điều gì sai trái, không làm hại chàng, cũng không nói lời ác độc. Con có thể làm gì được, thưa các ngài, khi chồng con lại ghét bỏ con?'
Te maṁ pitugharaṁ paṭinayiṁsu, Vimanā dukhena adhibhūtā; Puttamanurakkhamānā, ‘Jitāmhase rūpiniṁ lakkhiṁ’.
They led me back to my father’s home, distraught, overcome with suffering, and said: ‘By caring for our son, we’ve lost her, so lovely and lucky!’
'Họ đưa tôi trở về nhà cha mẹ, lòng buồn bã và đau khổ, nói rằng: 'Vì chiều theo ý con trai, chúng ta đã mất đi một nàng dâu xinh đẹp và may mắn'.'
Atha maṁ adāsi tāto, Aḍḍhassa gharamhi dutiyakulikassa; Tato upaḍḍhasuṅkena, Yena maṁ vindatha seṭṭhi.
Next my dad gave me to the household of a second wealthy family-man. For this he got half the bride-price of that which the financier paid.
'Sau đó, cha tôi lại gả tôi cho một người chồng thứ hai, một người giàu có, với giá bằng một nửa số tiền mà vị trưởng giả đầu tiên đã trả.'
Tassapi gharamhi māsaṁ, Avasiṁ atha sopi maṁ paṭiccharayi; Dāsīva upaṭṭhahantiṁ, Adūsikaṁ sīlasampannaṁ.
In his house I also lived a month, before he too wanted me gone; though I served him like a slave, virtuous and doing no wrong.
'Tôi sống trong nhà người ấy được một tháng, rồi người ấy cũng đuổi tôi đi, dù tôi phục vụ chàng như một người tớ gái, không lỗi lầm và có giới hạnh.'
Bhikkhāya ca vicarantaṁ, Damakaṁ dantaṁ me pitā bhaṇati; ‘Hohisi me jāmātā, Nikkhipa poṭṭhiñca ghaṭikañca’.
My father then spoke to a beggar for alms, a tamer of others and of himself: ‘Be my son-in-law; set aside your tonsure-cloth and pot.’
Cha của tôi nói với người đang đi khất thực, người đã được điều phục và đang điều phục người khác: ‘Hãy là con rể của ta, hãy vứt bỏ y phục rách và bình bát đất đi’.
Sopi vasitvā pakkhaṁ, Atha tātaṁ bhaṇati ‘dehi me poṭṭhiṁ; Ghaṭikañca mallakañca, Punapi bhikkhaṁ carissāmi’.
He stayed a fortnight before he said to my dad: ‘Give me back my tonsure-cloth, my pot and my mug—I’ll wander begging again.’
Vị ấy, sau khi đã sống được nửa tháng, liền nói với cha tôi rằng: ‘Xin hãy đưa cho tôi y phục rách, bình bát đất, và cái bát nhỏ. Tôi sẽ lại đi khất thực nữa’.
Atha naṁ bhaṇatī tāto, Ammā sabbo ca me ñātigaṇavaggo; ‘Kiṁ te na kīrati idha, Bhaṇa khippaṁ taṁ te karihi’ti.
So then my mum and my dad and my whole group of relatives said: ‘What has not been done for you here? Quickly, tell us what we can do for you!’
Bấy giờ, cha tôi, mẹ tôi, và toàn thể nhóm quyến thuộc của tôi nói với vị ấy rằng: ‘Ở đây, điều gì không làm ngài hài lòng? Hãy nói nhanh lên, điều đó sẽ được thực hiện cho ngài’.
Evaṁ bhaṇito bhaṇati, ‘Yadi me attā sakkoti alaṁ mayhaṁ; Isidāsiyā na saha vacchaṁ, Ekagharehaṁ saha vatthuṁ’.
When they spoke to him like this he said, ‘If I can make do for myself, that is enough. I can’t stand to live together with Isidāsī staying in the same house.’
Khi được nói như vậy, vị ấy trả lời: ‘Nếu tôi có thể tự chủ được bản thân, thì tôi đã đủ với Isidāsī rồi. Tôi sẽ không sống cùng nhà với cô ấy’.
Vissajjito gato so, Ahampi ekākinī vicintemi; ‘Āpucchitūna gacchaṁ, Marituye vā pabbajissaṁ vā’.
Released, he left. But I sat all alone contemplating: ‘Having taken my leave, I’ll go, either to die or to go forth.’
Được cho phép ra đi, vị ấy đã đi. Còn tôi, một mình, tôi suy nghĩ: ‘Sau khi xin phép, tôi sẽ đi, hoặc là để chết, hoặc là để xuất gia’.
Atha ayyā jinadattā, Āgacchī gocarāya caramānā; Tātakulaṁ vinayadharī, Bahussutā sīlasampannā.
But then Mistress Jinadattā, learned and virtuous, who had memorized the monastic law, came resorting to my dad’s house for alms.
Bấy giờ, Tôn nữ Jinadattā, vị trì luật, bậc đa văn, bậc có giới hạnh vẹn toàn, trong khi đang đi khất thực, đã đến gia đình của cha tôi.
Taṁ disvāna amhākaṁ, Uṭṭhāyāsanaṁ tassā paññāpayiṁ; Nisinnāya ca pāde, Vanditvā bhojanamadāsiṁ.
When I saw her, I rose from my seat and prepared it for her. When she had taken her seat, I honored her feet and offered her a meal,
Khi nhìn thấy vị ấy (đến nhà) của chúng tôi, tôi đứng dậy và dọn chỗ ngồi cho vị ấy. Và sau khi vị ấy đã ngồi xuống, tôi đảnh lễ nơi chân và dâng cúng vật thực.
Annena ca pānena ca, Khajjena ca yañca tattha sannihitaṁ; Santappayitvā avacaṁ, ‘Ayye icchāmi pabbajituṁ’.
satiating her with food and drink, treats, or whatever was in the cupboard. Then I said: ‘Ma’am, I wish to go forth!’
Với cơm, với thức uống, với các món ăn cứng, và với bất cứ thứ gì đã được chuẩn bị ở đó, sau khi làm cho vị ấy hài lòng, tôi đã thưa rằng: ‘Thưa Tôn nữ, con muốn được xuất gia’.
Atha maṁ bhaṇatī tāto, ‘Idheva puttaka carāhi tvaṁ dhammaṁ; Annena ca pānena ca, Tappaya samaṇe dvijātī ca’.
But my dad said to me: ‘Child, practice Dhamma right here then! With food and drink satisfy ascetics and the twice-born.’
Bấy giờ, cha tôi nói với tôi: ‘Này con gái, ngay tại đây, con hãy thực hành Pháp. Với cơm và thức uống, hãy làm hài lòng các vị Sa-môn và các vị sanh hai lần (Bà-la-môn)’.
Athahaṁ bhaṇāmi tātaṁ, Rodantī añjaliṁ paṇāmetvā; ‘Pāpañhi mayā pakataṁ, Kammaṁ taṁ nijjaressāmi’.
Then I said to my dad, crying, my cupped palms raised to him: ‘I’ve done bad things in the past; I shall wear that bad deed away.’
Bấy giờ, tôi thưa với cha, trong khi đang khóc và chắp tay lại: ‘Thật vậy, nghiệp bất thiện đã được con thực hiện. Con sẽ làm cho nghiệp ấy bị tiêu mòn đi’.
Atha maṁ bhaṇatī tāto, ‘Pāpuṇa bodhiñca aggadhammañca; Nibbānañca labhassu, Yaṁ sacchikarī dvipadaseṭṭho’.
And my dad said to me: ‘May you attain awakening, the highest state, and may you find the extinguishment that was realized by the best of men!’
Bấy giờ, cha tôi nói với tôi: ‘Con hãy đạt đến Giác Ngộ và Pháp tối thượng, và hãy chứng đắc Nibbāna, điều mà bậc Tối Thắng trong các loài hai chân đã chứng ngộ’.
Mātāpitū abhivādayitvā, Sabbañca ñātigaṇavaggaṁ; Sattāhaṁ pabbajitā, Tisso vijjā aphassayiṁ.
I bowed down to my mother and father, and my whole group of relatives; and then, seven days after going forth, I realized the three knowledges.
Sau khi đảnh lễ cha mẹ và toàn thể nhóm quyến thuộc, tôi đã xuất gia được bảy ngày thì chứng đắc được ba minh.
Jānāmi attano satta, Jātiyo yassayaṁ phalavipāko; Taṁ tava ācikkhissaṁ, Taṁ ekamanā nisāmehi.
I know my last seven lives; I shall relate to you the deeds of which this life is the fruit and result: focus your whole mind on that.
Tôi biết được bảy kiếp sống của mình, mà đây là quả dị thục của nghiệp ấy. Tôi sẽ kể lại điều đó cho ngài, xin ngài hãy nhất tâm lắng nghe.
Nagaramhi erakacche, Suvaṇṇakāro ahaṁ pahūtadhano; Yobbanamadena matto, So paradāraṁ asevihaṁ.
In the city of Erakacca I was a goldsmith with lots of money. Drunk on the pride of youth, I had sex with someone else’s wife.
Ở thành Erakaccha, tôi là một người thợ vàng có nhiều của cải. Say sưa với sự kiêu mạn của tuổi trẻ, tôi đã quan hệ với vợ của người khác.
Sohaṁ tato cavitvā, Nirayamhi apaccisaṁ ciraṁ; Pakko tato ca uṭṭhahitvā, Makkaṭiyā kucchimokkamiṁ.
Having passed away from there, I burned in hell for a long time. Rising up from there I was conceived in a monkey’s womb.
Tôi, sau khi chết từ kiếp ấy, đã bị nấu trong địa ngục một thời gian dài. Và sau khi thoát khỏi nơi đó, tôi đã nhập vào bụng của một con khỉ cái.
Sattāhajātakaṁ maṁ, Mahākapi yūthapo nillacchesi; Tassetaṁ kammaphalaṁ, Yathāpi gantvāna paradāraṁ.
When I was only seven days old, I was castrated by the monkey chief. This was the fruit of that deed, because of adultery with another’s wife.
Khi tôi mới sinh được bảy ngày, con khỉ lớn, đầu đàn, đã thiến tôi. Đây chính là quả báo của nghiệp đó, của việc đã đi đến với vợ của người khác.
Sohaṁ tato cavitvā, Kālaṁ karitvā sindhavāraññe; Kāṇāya ca khañjāya ca, Eḷakiyā kucchimokkamiṁ.
Having passed away from there, passing away in Sindhava grove, I was conceived in the womb of a lame, one-eyed she-goat.
Tôi, sau khi chết từ kiếp ấy, sau khi qua đời, đã nhập vào bụng của một con dê cái vừa bị mù vừa bị què, trong khu rừng ở xứ Sindh.
Dvādasa vassāni ahaṁ, Nillacchito dārake parivahitvā; Kimināvaṭṭo akallo, Yathāpi gantvāna paradāraṁ.
I carried children on my back for twelve years, and all the while I was castrated, worm-eaten, and tail-less, because of adultery with another’s wife.
Trong mười hai năm, bị thiến, tôi đã phải cõng những đứa trẻ. Bị giòi bọ hành hạ, tôi bị bệnh; đây là quả báo của việc đã đi đến với vợ của người khác.
Sohaṁ tato cavitvā, Govāṇijakassa gāviyā jāto; Vaccho lākhātambo, Nillacchito dvādase māse.
Having passed away from there, I was reborn in a cow owned by a cattle merchant. A red calf, castrated, for twelve months
Tôi, sau khi chết từ kiếp ấy, đã được sinh ra từ một con bò cái của một người buôn bò. Là một con bê con màu đỏ như sơn cánh kiến, tôi đã bị thiến vào tháng thứ mười hai.
Voḍhūna naṅgalamahaṁ, Sakaṭañca dhārayāmi; Andhovaṭṭo akallo, Yathāpi gantvāna paradāraṁ.
I drew a big plow. I shouldered a cart, blind, tail-less, feeble, because of adultery with another’s wife.
Tôi đã phải mang cái cày và kéo cỗ xe. Bị mù, bị hành hạ, tôi bị bệnh; đây là quả báo của việc đã đi đến với vợ của người khác.
Sohaṁ tato cavitvā, Vīthiyā dāsiyā ghare jāto; Neva mahilā na puriso, Yathāpi gantvāna paradāraṁ.
Having passed away from there, I was born of a slave in the street, with neither male nor female parts, because of adultery with another’s wife.
Tôi, sau khi chết từ kiếp ấy, đã được sinh ra trong nhà của một nữ nô tỳ trên đường phố. Không phải là nữ, cũng không phải là nam; đây là quả báo của việc đã đi đến với vợ của người khác.
Tiṁsativassamhi mato, Sākaṭikakulamhi dārikā jātā; Kapaṇamhi appabhoge, Dhanika purisapātabahulamhi.
I died at thirty years of age, and was reborn as a girl in a carter’s family. We were poor, of little wealth, greatly oppressed by creditors.
Chết vào năm ba mươi tuổi, tôi được sinh làm một bé gái trong một gia đình người đánh xe, một gia đình nghèo khó, ít của cải, và bị nhiều chủ nợ quấy rầy.
Taṁ maṁ tato satthavāho, Ussannāya vipulāya vaḍḍhiyā; Okaḍḍhati vilapantiṁ, Acchinditvā kulagharasmā.
Because of the massive interest we owed, I was dragged away screaming, taken by force from the family home by a caravan leader.
Rồi một người trưởng đoàn thương buôn, vì món nợ lãi đã tăng lên nhiều và quá lớn, đã đoạt lấy tôi từ gia đình, và kéo tôi đi trong khi tôi đang than khóc.
Atha soḷasame vasse, Disvā maṁ pattayobbanaṁ kaññaṁ; Orundhatassa putto, Giridāso nāma nāmena.
When I was sixteen years old, seeing I was a girl of marriageable age, his son confined me as his wife—Giridāsa was his name.
Rồi vào năm thứ mười sáu, con trai của vị ấy, tên là Giridāsa, sau khi nhìn thấy tôi, một thiếu nữ đã đến tuổi dậy thì, đã lấy tôi làm vợ.
Tassapi aññā bhariyā, Sīlavatī guṇavatī yasavatī ca; Anurattā bhattāraṁ, Tassāhaṁ viddesanamakāsiṁ.
He also had another wife, a virtuous and well-known lady of quality, loyal to her husband; yet I stirred up resentment in her.
Vị ấy cũng có một người vợ khác, một người có giới hạnh, có đức hạnh, và có danh tiếng, người hết lòng yêu thương chồng. Tôi đã gây ra sự bất hòa (giữa họ).
Tassetaṁ kammaphalaṁ, Yaṁ maṁ apakīritūna gacchanti; Dāsīva upaṭṭhahantiṁ, Tassapi anto kato mayā”ti.
As the fruit of that deed, they abandoned me and left, though I served them like a slave. Now I’ve made an end to this as well.”
Đây là quả báo của nghiệp đó, rằng họ đã từ bỏ tôi và ra đi, dù tôi đã hầu hạ như một người nữ tỳ. Ngay cả nghiệp đó, tôi cũng đã đặt dấu chấm hết cho nó.
… Isidāsī therī ….
... Trưởng lão ni Isidāsī...
Cattālīsanipāto niṭṭhito.
Phẩm Bốn Mươi Kệ đã kết thúc.