Bản dịch
THA -ap1 — Phật Toàn Giác Ký Sự
Buddhaapadāna
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
BJT 1Trong khi đức Như lai ngự tại Jetavana, bậc hiền trí xứ Videha đã cúi mình hỏi Ngài rằng: “Bạch đấng Anh Hùng, nghe nói có các vị được gọi là đức Phật Toàn Tri, các vị ấy được thành tựu là do các nguyên nhân nào?”
BJT 2Khi ấy, bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Toàn Tri cao quý, đã nói với vị hiền nhân Ānanda bằng âm điệu ngọt ngào rằng: “Những vị nào có hành động hướng thượng đã được thực hiện đến chư Phật quá khứ, (nhưng) có sự giải thoát chưa được thành đạt trong các Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
BJT 3Chính nhờ vào yếu tố đầu tiên ấy đối với phẩm vị giác ngộ, đồng thời nhờ vào sự quyết định, nhờ vào năng lực lớn lao, và nhờ vào quyền lực của tuệ, những vị sáng suốt có trí tuệ vô cùng sắc bén thành tựu phẩm vị Toàn Tri.
BJT 4Các đấng Pháp Vương là (vô số) không thể đếm được. Ta cũng đã phát nguyện về bản thể giác ngộ ở nơi các vị Phật quá khứ, và đã được thành tựu dầu chỉ bằng tâm ý.
BJT 5Giờ đây, các ngươi với tâm ý thanh tịnh hãy lắng nghe các ký sự về chư Phật Toàn Giác: Các đấng Pháp Vương đã được tròn đủ ba mươi pháp toàn hảo là (vô số) không thể đếm được.
BJT 6Ta đã cung kính chắp mười ngón tay lại đê đầu đảnh lễ phẩm vị Toàn Giác của chư Phật Tối Thượng, (đảnh lễ) các đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với các Hội Chúng (Thinh Văn).
BJT 7Cho đến các châu báu vô số kể được tìm thấy ở trên bầu trời và ở dưới mặt đất tại các địa phận của chư Phật (trong mười ngàn thế giới), Ta đã mang lại toàn bộ (châu báu ấy) bằng tâm (chú nguyện).
BJT 8Tại nơi ấy ở trên mặt đất bằng bạc, Ta đã hóa hiện ra tòa lâu đài làm bằng châu báu, có nhiều tầng lầu, có chiều cao vươn tận không trung.
BJT 9(Tòa lâu đài) có trụ cột được tô điểm, khéo được thực hiện, khéo được phân bố, có giá trị lớn lao, có chỗ nối liền làm bằng vàng, được tô điểm bằng các cổng chào và các lọng che.
BJT 10Tầng thứ nhất bằng ngọc bích xinh đẹp tương tợ bầu trời không chút bợn nhơ. Ở tầng lầu bằng vàng cao quý có hồ sen với những đóa hoa sen chen chúc.
BJT 11Có tầng lầu làm bằng san hô với màu sắc của san hô, có tầng lầu màu đỏ xinh đẹp, có tầng lầu với ánh sáng màu cánh kiến đang chiếu sáng các phương.
BJT 12Có tiền sảnh khéo được phân bố, có các tháp nhọn, có các cửa ra vào hình sư tử, có bốn viền rào làm thích ý với những mạng lưới vòng hoa có hương thơm.
BJT 13Có các nhà mái nhọn cao quý màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, và màu đen thuần khiết được điểm tô bằng bảy loại châu báu.
BJT 14Có mặt tiền ở phần trên được rạng rỡ với các đóa hoa sen cùng với (hình ảnh) các loài thú dữ và chim muông, được trải ra với các chòm tinh tú và các vì sao, được điểm tô với mặt trăng và mặt trời.
BJT 15(Các tầng lầu) được che phủ bởi màn lưới bằng vàng có các chuông lục lạc bằng vàng. Các tràng hoa bằng vàng quyến rũ vang lên âm thanh nhờ vào sức đẩy của làn gió.
BJT 16Có dãy cờ hiệu khéo nhuộm với các màu khác nhau là màu đỏ tía, màu đỏ, màu vàng, màu hồng được dựng lên.
BJT 17Được tô điểm với nhiều kiểu giường được lót trải bằng các tấm vải mịn màng của xứ Ka-si, có đến hàng trăm chiếc giường làm bằng ngọc pha-lê, bằng bạc, bằng ngọc ma-ni, bằng hồng ngọc, và bằng đá quý tương tợ như thế.
BJT 18Có những tấm mền lông thú màu vàng úa được làm ở các xứ Dukūla, xứ Trung Hoa, và xứ Pattuṇṇa. Bằng tâm ý, Ta đã sắp xếp tất cả (các chiếc giường) với các tấm trải đủ các loại.
BJT 19Ở khắp các tầng lầu, có những người đứng nghiêm cầm các ngọn đuốc làm bằng ngọc ma-ni đỏ được điểm tô bằng châu báu ở chóp nhọn.
BJT 20Những cột trụ dựng đứng (ở cổng), những cổng chào xinh đẹp làm bằng vàng (được khai thác từ sông) Jambu, làm bằng lõi gỗ (cây khira), và còn làm bằng bạc nữa, (tất cả đều) chói sáng.
BJT 21Có nhiều gian tiếp giáp được khéo phân bố, được tô điểm với những cánh cửa và chốt khóa. Cả hai phía (của tòa lâu đài) đều có nhiều chậu chứa đầy những đóa sen đỏ và sen xanh.
BJT 22Ta đã hóa hiện ra tất cả chư Phật thời quá khứ là các đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng Hội Chúng với các vị Thinh Văn trong dáng vóc tự nhiên.
BJT 23Chư Phật cùng các vị Thinh Văn sau khi đi vào bằng cánh cửa ấy đã ngồi xuống ở ghế ngồi toàn bộ đều làm bằng vàng, (hình thành) đoàn thể các bậc Thánh Nhân.
BJT 24Và có những vị trong lúc này là các vị Phật vô thượng ở thế gian. (Chư Phật) quá khứ và hiện tại, tất cả các vị đã bước lên tòa lâu đài.
BJT 25Hàng trăm vị Phật Độc Giác, các đấng Tự Chủ, là các bậc không bị khuất phục trong quá khứ và hiện tại, tất cả các vị đã bước lên tòa lâu đài.
BJT 26Có nhiều cây Như Ý thuộc cõi trời và thuộc loài người, (từ các cây ấy) Ta đã mang lại toàn bộ vải vóc và đã khoác ba lá y lên (các vị ấy).
BJT 27Ta đã chứa đầy các bình bát xinh đẹp làm bằng ngọc ma-ni với các vật thực cứng mềm đáng được thưởng thức, có đầy đủ nước uống và thức ăn, rồi đã dâng cúng (đến các vị ấy).
BJT 2829. Tất cả các vị ấy, đoàn thể các bậc Thánh nhân, đều đồng đẳng về Thiên nhãn (và) gắn bó với tấm y thanh bạch. Được toại ý với vật thực tối thắng (của Ta) gồm có mật ong, đường thô, luôn cả dầu ăn, và mật mía, (các vị) đã đi vào gian phòng làm bằng châu báu tợ như những con sư tử cư ngụ ở hang động.
BJT 30Các vị đã nằm xuống với tư thế của loài sư tử ở chiếc giường vô cùng giá trị, có sự tỉnh thức, rồi đã ngồi dậy và đã xếp vào tư thế kiết già ở trên chiếc giường, thể nhập vào sự thỏa thích trong thiền là hành xứ của tất cả chư Phật.
BJT 31Một số vị khác thuyết giảng Giáo Pháp, một số vị khác tiêu khiển bằng thần thông, một số vị khác đã phát triển được năng lực của các thắng trí thì hướng tâm vào các thắng trí, hàng ngàn vị khác thể hiện các sự biến hóa về thần thông.
BJT 32Chư Phật cũng chất vấn chư Phật về chủ đề liên quan đến cảnh giới của các đấng Toàn Tri. Nhờ vào tuệ, các vị giác ngộ rốt ráo về sự việc một cách sâu sắc và hoàn hảo.
BJT 33Các vị Thinh Văn chất vấn chư Phật, chư Phật chất vấn các vị Thinh Văn. Các vị ấy chất vấn lẫn nhau và trả lời cho nhau.
BJT 34Chư Phật Toàn Giác, chư Phật Độc Giác, chư Thinh Văn, và tín chúng, các vị ấy vui thích ở tòa lâu đài tùy theo sự thỏa thích của bản thân như vầy:
BJT 35‘Nguyện cho những chiếc lọng che bằng châu báu với những chuỗi vòng hoa bằng vàng và những mạng lưới ngọc trai viền quanh được tồn tại, nguyện cho tất cả hãy duy trì ở trên đỉnh đầu (của tôi).’
BJT 36‘Nguyện cho những mái che bằng vải được tô điểm với những ngôi sao bằng vàng (và) những mái che được tô điểm với những tràng hoa hãy xuất hiện, nguyện cho tất cả hãy duy trì ở trên đỉnh đầu (của tôi).’
BJT 37(Tòa lâu đài có hồ nước) được trải dài với những vòng hoa và chuỗi bông, được rạng rỡ với những chuỗi bông hoa thơm ngát, được viền quanh bằng những chuỗi vải vóc, được tô điểm bằng những chuỗi châu báu.
BJT 38(Hồ nước) được tô điểm với các đóa hoa chen chúc, được tỏa lên mùi hương thơm ngào ngạt, được thể hiện bởi năm loại hương thơm tổng hợp lại, được phủ lên bằng tấm che bằng vàng.
BJT 39‘Nguyện cho bốn phía của hồ nước hãy biểu hiện màu sắc vàng chói với những sen hồng sen xanh được phơi bày, với các bụi phấn của hoa sen được tỏa ra.’
BJT 40‘Nguyện cho tất cả cây cối ở xung quanh tòa lâu đài hãy trổ hoa.’ Và các bông hoa đã tự mình phóng thích, đi đến, và rải rắc ở tòa lâu đài.
BJT 41‘Nguyện cho các con chim công ở tại nơi ấy hãy nhảy múa, các con thiên nga hãy líu lo, các con chim ca-lăng-tần-già và các bầy chim ở xung quanh hãy cất tiếng hót.’
BJT 42‘Nguyện cho tất cả các chiếc trống hãy vang lên, tất cả các cây đàn vīṇā ấy hãy tấu nhạc. Nguyện cho tất cả các cuộc trì tụng (được) tiến hành ở xung quanh của tòa lâu đài.’
BJT 4344. ‘Nguyện cho những chiếc ghế bành bằng vàng khổng lồ, hội đủ hào quang, không bị hỏng hóc, làm bằng châu báu hãy tồn tại từ thế giới này đến thế giới khác cho đến địa phận của chư Phật. Nguyện cho những cây đèn ấy hãy chói sáng. Nguyện cho hệ thống mười ngàn (thế giới) hãy trở thành (sáng chói như là) một ngọn đèn.’
BJT 45‘Nguyện cho các kiều nữ luôn cả các vũ công, các toán mỹ nhân hãy nhảy múa. Nguyện cho các màn trình diễn đa dạng hãy được phô diễn ở xung quanh của tòa lâu đài.’
BJT 46(Khi ấy) Ta dựng lên ngọn cờ hiệu ở ngọn cây, ở chóp núi, ở đỉnh ngọn núi Sineru; tất cả (các ngọn cờ đều) được tô điểm, có năm màu.
BJT 47‘Nguyện cho loài người, loài rồng, Càn-thát-bà, và tất cả chư Thiên ấy hãy đi đến.’ Các vị đã đến quây quần xung quanh tòa lâu đài, chắp tay lễ bái.
BJT 48‘Bất cứ thiện nghiệp nào là việc cần phải thực hiện để sanh lên cõi trời đều đã được tôi thực hiện tốt đẹp bằng thân, bằng lời nói, bằng ý.
BJT 49Có những chúng sanh là hữu tưởng và có những chúng sanh là vô tưởng, nguyện cho tất cả các vị ấy đều được hưởng phần chia sẻ quả báu phước thiện đã được thực hiện của tôi.
BJT 50Quả báu phước thiện của tôi đã được thực hiện, đã được biết chắc chắn, đã được ban phát đến những vị ấy, còn những vị nào chưa biết về điều ấy thì chư Thiên đã đi đến và thông báo.
BJT 51Các chúng sanh nào (sống) nhờ vào vật thực ngụ ở tất cả các thế giới, do oai lực của tôi nguyện cho tất cả đều thọ lãnh vật thực hợp ý.’
BJT 52Vật cúng dường đã được Ta cúng dường bằng tâm ý, Ta đã làm hóa hiện ra tòa lâu đài bằng tâm ý. Tất cả chư Phật Toàn Giác, chư Phật Độc Giác, chư Thinh Văn của các đấng Chiến Thắng đã được cúng dường.
BJT 53Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, Ta đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 54Ta nhận biết hai cõi tái sanh, ở bản thể Thiên nhân và loài người, Ta không biết đến cảnh giới khác; điều này là quả báu của ước nguyện bằng tâm ý.
BJT 55(Nếu sanh ra ở cõi trời) Ta là vượt trội chư Thiên, (nếu sanh làm người) Ta là vị thống lãnh nhân loại, Ta được hội đủ tướng mạo về sắc thân, trong cõi hữu không ai sánh bằng (Ta) về trí tuệ.
BJT 56Vật thực tối thượng đủ các loại và châu báu không phải là ít ỏi, (cùng với) vô số các loại vải từ trên không tức thời hiện đến cho Ta.
BJT 57Ở đất liền, luôn cả ở ngọn núi, ở trên hư không, ở trong nước, ở trong rừng, mỗi khi Ta vươn tay ra thì các thức ăn của cõi trời hiện đến cho Ta.
BJT 58Ở đất liền, —nt— Ta vươn tay ra thì mọi châu báu hiện đến cho Ta.
BJT 59Ở đất liền, —nt— Ta vươn tay ra thì mọi vật thơm hiện đến cho Ta.
BJT 60Ở đất liền, —nt— Ta vươn tay ra thì mọi xe thuyền hiện đến cho Ta.
BJT 61Ở đất liền, —nt— Ta vươn tay ra thì mọi tràng hoa hiện đến cho Ta.
BJT 62Ở đất liền, —nt— Ta vươn tay ra thì đồ trang sức hiện đến cho Ta.
BJT 63Ở đất liền, —nt— Ta vươn tay ra thì tất cả thiếu nữ hiện đến cho Ta.
BJT 64Ở đất liền, —nt— Ta vươn tay ra thì mật và đường hiện đến cho Ta.
BJT 65Ở đất liền, —nt— Ta vươn tay ra thì mọi vật thực hiện đến cho Ta.
BJT 66Nhằm đạt được phẩm vị Toàn Giác cao quý, Ta (đã) bố thí tặng phẩm quý giá đến những kẻ không có tài sản, những người lữ khách, những kẻ ăn xin, và những người bộ hành.
BJT 67Ta trở thành đức Phật ở trên đời khiến cho ngọn núi gào thét, khiến cho tảng đá gầm lên tiếng vang ầm ĩ, khiến cho thế gian luôn cả chư Thiên vui cười.
BJT 68Mười phương ở thế giới vũ trụ đối với người đang du hành là vô tận (không có điểm tận cùng). Và ở mỗi phương (thế giới) ấy, các địa phận của chư Phật là (vô số) không thể đếm được.
BJT 69(Khi là đấng Chuyển Luân Vương) Ta có hào quang được nổi danh với (hình thức) tia ánh sáng di chuyển thành từng đôi. Mạng lưới hào quang đã là ánh sáng vĩ đại hiện hữu ở khoảng giữa mười ngàn thế giới.
BJT 70‘Nguyện cho tất cả mọi người ở chừng ấy thế giới đều nhìn thấy Ta. Nguyện cho tất cả đều có tâm ý vui mừng và tất cả đều tiến bước theo Ta. (Nguyện cho tất cả đều tiến bước theo Ta đến tận chỗ ngụ của đấng Phạm Thiên).’
BJT 71Ta đã vỗ vào chiếc trống Bất Tử với tiếng vang ngọt ngào được phát ra. ‘Nguyện cho tất cả mọi người ở khoảng giữa mười ngàn thế giới hãy lắng nghe âm thanh ngọt ngào.
BJT 72Trong khi đám mây Giáo Pháp đang đổ mưa, nguyện cho tất cả không còn lậu hoặc. Những chúng sanh nào là hạng thấp kém ở nơi đây, nguyện cho những người ấy được là bậc Nhập Lưu.’
BJT 73Sau khi bố thí những gì cần được bố thí, sau khi làm viên mãn giới hạnh không thiếu sót, sau khi đi đến sự toàn hảo về pháp xuất ly, Ta đã đạt đến phẩm vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 74Sau khi đã vấn hỏi các bậc trí tuệ, sau khi đã thể hiện sự tinh tấn tối thượng, sau khi đã đi đến sự toàn hảo về pháp nhẫn nại, Ta đã đạt đến phẩm vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 75Sau khi đã thực hành pháp quyết định một cách bền vững, sau khi đã làm tròn đủ sự toàn hảo về pháp chân thật, sau khi đã đi đến sự toàn hảo về pháp từ ái, Ta đã đạt đến phẩm vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 76Sau khi đã là bình đẳng trong mọi trường hợp đối với lợi lộc và không lợi lộc, đối với an lạc và khổ đau, đối với sự kính trọng và chê bai, Ta đã đạt đến phẩm vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 77Sau khi thấy được sự biếng nhác là nguy hiểm và thậm chí (thấy được) sự tinh tấn là an toàn, các ngươi hãy có sự nỗ lực tinh tấn; điều này là lời giáo huấn của chư Phật.
BJT 78Sau khi thấy được sự tranh cãi là nguy hiểm và sự không tranh cãi là an toàn, các ngươi hãy có sự hợp nhất, thân thiện; điều này là lời giáo huấn của chư Phật.
BJT 79Sau khi thấy được sự xao lãng là nguy hiểm và sự không xao lãng là an toàn, các ngươi hãy tu tập Đạo Lộ có tám chi phần; điều này là lời giáo huấn của chư Phật.
BJT 80Tất cả chư Phật và các bậc A-la-hán đã tụ hội lại. Các ngươi hãy tôn kính đảnh lễ chư Phật Toàn Giác và các bậc A-la-hán.”
BJT 81Như vậy, chư Phật là không thể nghĩ bàn. Giáo Pháp của chư Phật là không thể nghĩ bàn. Đối với những ai tịnh tín vào những điều không thể nghĩ bàn, quả thành tựu cho những người ấy là không thể nghĩ bàn.
Trong khi trình bày về phẩm hạnh Phật của bản thân, đức Thế Tôn đã nói về bản thể của Giáo Pháp tên là Buddhāpadāniyaṁnhư thế ấy.
Ký Sự về Phật Toàn Giác được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Buddhaapadānaṃ
1. The Chronicle of the Buddha
1. Ký Sự về Đức Phật
1.
1.
1.
Tathāgataṃ jetavane vasantaṃ, apucchi vedehamunī nataṅgo;
‘‘Sabbaññubuddhā kira nāma honti, bhavanti te hetubhi kehi vīra’’.
Vedeha the sage, with bowed head, asked the Tathāgata who was dwelling in Jetavana: 'O Hero, it is said that there are All-Knowing Buddhas. By what causes do they come to be?'
Vị hiền triết xứ Videha (Ānanda), với thân cúi rạp, đã hỏi đấng Như Lai đang trú tại Jetavana rằng: ‘Bạch đấng Anh hùng, nghe nói rằng có các bậc Toàn Giác Phật-đà; do những nguyên nhân nào mà các Ngài thành tựu được như vậy?’
2.
2.
2.
Tadāha sabbaññuvaro mahesī, ānandabhaddaṃ madhurassarena;
‘‘Ye pubbabuddhesu † katādhikārā, aladdhamokkhā jinasāsanesu.
Then the excellent All-Knowing One, the Great Seer, spoke to the good Ānanda with a sweet voice: 'Those who, under previous Buddhas, have made their aspirations, and have not yet attained liberation in the dispensations of the Conquerors...'
Khi ấy, bậc Đại Hiền triết, đấng Toàn Giác tối thượng, đã nói với hiền giả Ānanda bằng một giọng ngọt ngào: ‘Này Ānanda, những vị đã tạo các công đức nền tảng nơi các Đức Phật quá khứ, những vị chưa chứng đắc giải thoát trong giáo pháp của các đấng Chiến Thắng.
3.
3.
3.
‘‘Teneva sambodhimukhena dhīrā, ajjhāsayenāpi mahābalena;
Paññāya tejena sutikkhapaññā, sabbaññubhāvaṃ anupāpuṇanti.
'...those wise ones, having extremely sharp wisdom, attain the state of an All-Knowing One by that very path to supreme enlightenment, by their resolve of great power, and by the might of their wisdom.'
‘Những bậc hiền trí ấy, với trí tuệ rất sắc bén, nhờ vào chính con đường dẫn đến Chánh Giác ấy, nhờ vào chí nguyện hùng mạnh, và nhờ vào năng lực của trí tuệ, đã tuần tự đạt đến trạng thái Toàn Giác.’
4.
4.
4.
‘‘Ahampi pubbabuddhesu, buddhattamabhipatthayiṃ,
Manasāyeva hutvāna, dhammarājā asaṅkhiyā.
'I too, in the presence of previous Buddhas, aspired to Buddhahood, having made the resolution only with my mind. Those Kings of Dhamma were innumerable.'
‘Ta cũng vậy, nơi các Đức Phật quá khứ, đã phát nguyện thành Phật chỉ bằng ý trong tâm. Các bậc Pháp Vương (nơi ta phát nguyện) nhiều không kể xiết.’
5.
5.
5.
‘‘Atha buddhāpadānāni, suṇātha suddhamānasā;
Tiṃsapāramisampuṇṇā, dhammarājā asaṅkhiyā.
'Now then, you of pure minds, listen to the chronicles of the Buddhas. Complete with the thirty perfections, the Kings of Dhamma are innumerable.'
‘Này các vị có tâm thanh tịnh, hãy lắng nghe ký sự về các Đức Phật. Các bậc Pháp Vương, là những vị đã viên mãn ba mươi pháp ba-la-mật, nhiều không kể xiết.’
6.
6.
6.
‘‘Sambodhiṃ buddhaseṭṭhānaṃ, sasaṅghe lokanāyake;
Dasaṅgulī namassitvā, sirasā abhivādayiṃ †.
'Having paid reverence with my ten fingers joined, I paid homage with my head to the supreme enlightenment of the excellent Buddhas, and to the World-Leader together with the Saṅgha.'
‘Ta đã chắp mười ngón tay, cúi đầu đảnh lễ sự Giác Ngộ của các bậc Phật-đà tối thượng, các đấng Lãnh đạo thế gian cùng với Tăng đoàn của các Ngài.’
7.
7.
7.
‘‘Yāvatā buddhakhettesu, ratanā vijjantisaṅkhiyā;
Ākāsaṭṭhā ca bhūmaṭṭhā †, manasā sabbamāhariṃ.
'However many innumerable jewels exist in the Buddha-fields, those in the sky and those on the earth, I brought them all forth with my mind.'
‘Tất cả vô số châu báu nào có trong các cõi Phật, dù ở trên hư không hay ở trên mặt đất, ta đã dùng tâm ý mang tất cả về đây.’
8.
8.
8.
‘‘Tattha rūpiyabhūmiyaṃ, pāsādaṃ māpayiṃ ahaṃ;
Nekabhummaṃ ratanamayaṃ, ubbiddhaṃ nabhamuggataṃ.
'There, on a ground of silver, I caused a palace to be created: with many stories, made of jewels, lofty, and risen up to the sky.'
‘Ở đó, trên nền đất bằng bạc, ta đã hóa hiện một lâu đài nhiều tầng, làm bằng châu báu, cao vút, vươn thẳng lên trời cao.’
9.
9.
9.
‘‘Vicittathambhaṃ sukataṃ, suvibhattaṃ mahārahaṃ;
Kanakamayasaṅghāṭaṃ, kontacchattehi maṇḍitaṃ.
'It had variegated pillars, was well-made, well-proportioned, and of great value; it had a golden framework and was adorned with spears and parasols.'
‘(Ta đã hóa hiện một lâu đài) có những cột trụ đa dạng, được chế tác khéo léo, phân chia cân đối, xứng với bậc vĩ nhân, có rui mè bằng vàng, được trang hoàng với lọng và giáo.’
10.
10.
10.
‘‘Paṭhamā veḷuriyā bhūmi, vimalabbhasamā subhā;
Naḷinajalajākiṇṇā, varakañcanabhūmiyā.
'The first floor was of beryl, resplendent and like a stainless cloud; on its excellent golden ground, it was strewn with water-born lotuses.'
‘Tầng thứ nhất làm bằng ngọc lưu ly, đẹp đẽ như đám mây không tì vết. Trên nền đất bằng vàng quý, đầy dẫy các loài hoa sen mọc trong nước.’
11.
11.
11.
‘‘Pavāḷaṃsā pavāḷavaṇṇā, kāci lohitakā subhā;
Indagopakavaṇṇābhā, bhūmi obhāsatī disā.
'Some floors were of masses of coral, some were beautifully red; some, with a lustre like the cochineal insect, illuminated all directions.'
‘Có tầng làm bằng san hô, có màu sắc của san hô, có tầng màu đỏ, thật đẹp đẽ. Có tầng lại có màu sắc và ánh quang như loài côn trùng Indagopaka, chiếu sáng khắp các phương.’
12.
12.
12.
‘‘Suvibhattā gharamukhā, niyyūhā sīhapañjarā;
Caturo vedikā jālā, gandhāveḷā manoramā.
'Well-proportioned were the gables, pinnacles, and lion-windows; the four railings, the lattices, and the delightful fragrant garlands were all well-arranged.'
‘Các cổng vào, các tháp nhỏ, các cửa sổ hình sư tử, bốn hàng lan can, các mạng lưới, và các tràng hoa thơm, tất cả đều được phân chia cân đối và đẹp mắt.’
13.
13.
13.
‘‘Nīlā pītā lohitakā, odātā suddhakāḷakā;
Kūṭāgāravarūpetā, sattaratanabhūsitā.
'Endowed with excellent pinnacled chambers, they were blue, yellow, red, white, and black, and adorned with the seven kinds of jewels.'
‘Các gian phòng có đỉnh nhọn tuyệt hảo, được trang hoàng bằng bảy loại châu báu, có màu xanh, vàng, đỏ, trắng, và màu đen tuyền.’
14.
14.
14.
‘‘Olokamayā padumā, vāḷavihaṅgasobhitā;
Nakkhattatārakākiṇṇā, candasūrehi † maṇḍitā.
'There were lotuses made to face upwards; it was beautified with figures of beasts and birds, strewn with constellations and stars, and adorned with moons and suns.'
‘Các hoa sen được chạm khắc hướng lên trên, được trang hoàng với hình các loài dã thú và chim chóc. Lâu đài cũng đầy dẫy các chòm sao và tinh tú, được điểm xuyết bằng mặt trăng và mặt trời.’
15.
15.
15.
‘‘Hemajālena sañchannā, soṇṇakiṅkiṇikāyutā;
Vātavegena kūjanti, soṇṇamālā manoramā.
'It was covered with a golden net and endowed with golden bells, which chimed with the force of the wind; the golden garlands were delightful.'
‘Lâu đài được bao phủ bởi một mạng lưới bằng vàng, gắn những chiếc chuông vàng. Khi gió thổi, chúng reo vang. Những tràng hoa bằng vàng trông thật đẹp mắt.’
16.
16.
16.
‘‘Mañjeṭṭhakaṃ lohitakaṃ, pītakaṃ haripiñjaraṃ;
Nānāraṅgehi sampītaṃ †, ussitaddhajamālinī †.
'It was adorned with rows of raised banners—madder-colored, red, yellow, and tawny—all dyed with various colors.'
‘Có những hàng cờ phướn được dựng lên, nhuộm bằng nhiều màu sắc khác nhau: màu đỏ thẫm, màu đỏ, màu vàng, và màu vàng cam.’
17.
17.
17.
‘‘Na naṃ † bahūnekasatā, phalikā rajatāmayā;
Maṇimayā lohitaṅgā, masāragallamayā tathā;
Nānāsayanavicittā, saṇhakāsikasanthatā.
'There was nothing that was not there; there were many hundreds of couches made of crystal, silver, gems, ruby, and also emerald, variegated with various coverings and spread with soft Kasi cloth.'
‘Có vô số, hàng trăm giường nằm làm bằng pha lê, bằng bạc, bằng ngọc, bằng hồng ngọc, và cả bằng ngọc masāragalla. Chúng được trang hoàng với nhiều loại đồ nằm khác nhau và được trải bằng vải Kāsī mịn màng.’
18.
18.
18.
‘‘Kampalā dukūlā cīnā, paṭṭuṇṇā paṇḍupāvurā;
Vividhattharaṇaṃ sabbaṃ, manasā paññapesahaṃ.
'There were woolen blankets, fine muslin cloths, Chinese silks, Paṭṭuṇṇa cloths, and pale-colored coverings. I prepared all these various spreads with my mind.'
‘Có các loại chăn bằng len, bằng vải mịn, bằng lụa Trung Hoa, bằng len xứ Paṭṭuṇṇa, và các loại vải choàng màu nhạt. Ta đã dùng tâm ý sắp đặt tất cả các loại thảm trải đa dạng này.’
19.
19.
19.
‘‘Tāsu tāsveva bhūmīsu, ratanakūṭalaṅkataṃ;
Maṇiverocanā ukkā, dhārayantā sutiṭṭhare.
'On those very floors, adorned with jeweled pinnacles, figures bearing torches of Verocana gems stood firmly.'
‘Trên mỗi tầng lầu ấy, đều được trang hoàng với những đỉnh tháp bằng châu báu. Những ngọn đèn làm bằng ngọc verocana chiếu sáng, được đặt đứng vững vàng.’
20.
20.
20.
‘‘Sobhanti esikā thambhā, subhā kañcanatoraṇā;
Jambonadā sāramayā, atho rajatamayāpi ca.
'The pillars and gate-posts shone beautifully, as did the archways made of gold, of Jambunada gold, of heartwood, and also of silver.'
‘Các cột trụ và cổng chào bằng vàng ròng Jambu, bằng gỗ lõi, và cả bằng bạc nữa, tất cả đều tỏa sáng đẹp đẽ.’
21.
21.
21.
‘‘Nekā sandhī suvibhattā, kavāṭaggaḷacittitā;
Ubhato puṇṇaghaṭānekā, padumuppalasaṃyutā.
'There were many well-proportioned door-panels, adorned with ornate bolts. On both sides were many full water-pots, containing lotuses and water lilies.'
‘Nhiều cánh cửa và then cài được trang trí tinh xảo, các mối ghép được phân chia cân đối. Ở hai bên có nhiều bình nước đầy, cắm các loại hoa sen hồng và sen xanh.’
22.
22.
22.
‘‘Atīte sabbabuddhe ca, sasaṅghe lokanāyake;
Pakativaṇṇarūpena, nimminitvā sasāvake.
'Having mentally created all the Buddhas of the past—the World-Leaders, together with their Saṅghas and their disciples—in their natural color and form...'
‘Ta đã hóa hiện tất cả các Đức Phật trong quá khứ, những bậc Lãnh đạo thế gian, cùng với Tăng đoàn và các vị Thinh văn đệ tử của các Ngài, với hình dáng và sắc tướng tự nhiên của họ.’
23.
23.
23.
‘‘Tena dvārena pavisitvā, sabbe buddhā sasāvakā;
Sabbasoṇṇamaye pīṭhe, nisinnā ariyamaṇḍalā.
'...and having them enter through that door, all the Buddhas with their disciples, a noble assembly, were seated on a seat made entirely of gold.'
‘Đi vào qua cánh cửa ấy, tất cả các Đức Phật cùng với các vị Thinh văn đệ tử, là hội chúng các bậc Thánh, đã an tọa trên những pháp tòa hoàn toàn bằng vàng.’
24.
24.
24.
‘‘Ye ca etarahi atthi, buddhā loke anuttarā;
Atīte vattamānā ca, bhavanaṃ sabbe samāhariṃ.
'And those unsurpassed Buddhas in the world who exist now, and those of the past—I gathered them all to the mansion.'
‘Và những Đức Phật vô song nào hiện đang có mặt trên thế gian, cùng với các vị trong quá khứ, tất cả các Ngài đều được ta thỉnh mời hội tụ về lâu đài này.’
25.
25.
25.
‘‘Paccekabuddhenekasate, sayambhū aparājite;
Atīte vattamāne ca, bhavanaṃ sabbe samāhariṃ.
'I gathered to the mansion many hundreds of Paccekabuddhas from the past and present, who are self-arisen and unconquered.'
Hàng trăm vị Phật Độc Giác, bậc Tự Giác Ngộ, bậc Vô Năng Thắng, trong quá khứ và cả hiện tại, tất cả đã được tôi cung thỉnh đến cung điện.
26.
26.
26.
‘‘Kapparukkhā bahū atthi, ye dibbā ye ca mānusā;
Sabbaṃ dussaṃ samāhantā, acchādemi ticīvaraṃ.
'There were many wish-fulfilling trees, both divine and human; gathering all the cloth and making it into the three robes, I clothed them.'
Có nhiều cây như ý, những cây ở cõi trời và những cây ở cõi người. Con đã gom góp tất cả vải lụa, làm thành tam y để cúng dường.
27.
27.
27.
‘‘Khajjaṃ bhojjaṃ sāyanīyaṃ, sampannaṃ pānabhojanaṃ;
Maṇimaye subhe patte, saṃpūretvā adāsahaṃ.
'Hard food, soft food, and food for tasting—all kinds of excellent food and drink—I gave, having filled beautiful gem-encrusted bowls completely.'
Vật thực cứng, vật thực mềm, vật để nếm, cùng các loại đồ ăn thức uống đầy đủ, con đã làm cho đầy trong những chiếc bát đẹp đẽ bằng ngọc báu rồi đã cúng dường.
28.
28.
28.
‘‘Dibbavatthasamā hutvā, maṭṭhā † cīvarasaṃyutā;
Madhurā sakkharā ceva, telā ca madhuphāṇitā.
'They were endowed with smooth robes like divine cloths; and with sweet things—sugar, oil, honey, and molasses...'
(Các Ngài) có y phục giống như y trời, mịn màng, đầy đủ với y ca-sa. (Con đã cúng dường) đường phèn ngọt ngào, dầu, mật ong và đường mật.
29.
29.
29.
‘‘Tappitā paramannena, sabbe te ariyamaṇḍalā;
Ratanagabbhaṃ pavisitvā, kesarīva guhāsayā.
'...and with the most excellent milk-rice, I satisfied that entire noble assembly. Then, entering the jewel chamber, they were like lions dwelling in a cave.'
Tất cả hội chúng Thánh nhân ấy đã được làm cho thỏa thích với cơm sữa hảo hạng. (Các Ngài) đã đi vào phòng báu, như vua sư tử ngự trong hang.
30.
30.
30.
‘‘Mahārahamhi sayane, sīhaseyyamakappayuṃ;
Sampajānā samuṭṭhāya, sayane † pallaṅkamābhujuṃ.
'On a couch worthy of great ones, they assumed the lion's sleeping posture. Then, rising with full awareness, they sat cross-legged upon the couch.'
Trên giường nằm xứng đáng cho bậc vĩ nhân, các Ngài đã thực hiện giấc ngủ của sư tử. Với đầy đủ tỉnh giác, các Ngài thức dậy, và ngồi kiết già trên giường.
31.
31.
31.
‘‘Gocaraṃ sabbabuddhānaṃ, jhānaratisamappitā;
Aññe dhammāni desenti, aññe kīḷanti iddhiyā.
'Endowed with the delight of jhāna, taking as their object the sphere of all Buddhas, some taught the Dhamma, while others sported by means of psychic power.'
Hướng đến cảnh giới của tất cả chư Phật, các Ngài an trú trong hỷ lạc của thiền định. Một số vị thuyết giảng Chánh pháp, một số vị khác thị hiện thần thông.
32.
32.
32.
‘‘Aññe abhiññā appenti, abhiññā vasibhāvitā;
Vikubbanā vikubbanti, aññenekasahassiyo.
'Some, having developed mastery over the higher knowledges, entered into those states of direct knowledge. Others performed transformations, creating many thousands of manifestations.'
Một số vị khác, đã thuần thục các thắng trí, nhập vào các thắng trí. Một số vị khác biến hóa, thực hiện hàng ngàn phép biến hóa.
33.
33.
33.
‘‘Buddhāpi buddhe pucchanti, visayaṃ sabbaññumālayaṃ;
Gambhīraṃ nipuṇaṃ ṭhānaṃ, paññāya vinibujjhare.
'Even Buddhas would ask other Buddhas questions concerning the domain that is the sphere of omniscience. They would penetrate with wisdom that state which is profound and subtle.'
Chư Phật cũng hỏi chư Phật về cảnh giới, nơi nương tựa của bậc Nhất Thiết Trí. Các Ngài dùng trí tuệ để liễu tri những điểm sâu sắc, tế nhị.
34.
34.
34.
‘‘Sāvakā buddhe pucchanti, buddhā pucchanti sāvake;
Aññamaññañca pucchitvā †, aññoññaṃ byākaronti te.
'Disciples would ask the Buddhas, and Buddhas would ask the disciples. Having questioned one another, they in turn would give answers to one another.'
Các vị Thinh Văn hỏi chư Phật, chư Phật hỏi các vị Thinh Văn. Sau khi hỏi lẫn nhau, các Ngài giải đáp cho nhau.
35.
35.
35.
‘‘Buddhā paccekabuddhā ca, sāvakā paricārakā;
Evaṃ sakāya ratiyā, pāsādebhiramanti te.
The Buddhas, the Paccekabuddhas, the disciples, and the attendants—thus all of them, with their own delight, rejoice in the palace.
Chư Phật, chư Phật Độc Giác, các vị Thinh Văn và những người hầu cận, như vậy, các Ngài đều hoan hỷ trong cung điện với niềm vui của riêng mình.
36.
36.
36.
‘‘Chattā tiṭṭhantu ratanā, kañcanāveḷapantikā;
Muttājālaparikkhittā, sabbe dhārentu † matthake.
Let jeweled parasols with rows of golden fringes stand forth, encircled by nets of pearls; let them all be held above their heads.
Mong cho những cây lọng báu, có hàng dây tua bằng vàng, được bao quanh bởi mạng lưới ngọc trai, hãy hiện ra. Mong cho tất cả (lọng) che trên đỉnh đầu (các Ngài).
37.
37.
37.
‘‘Bhavantu ceḷavitānā, soṇṇatārakacittitā;
Vicittamalyavitatā, sabbe dhārentu matthake.
Let there be cloth canopies adorned with golden stars, spread with various garlands; let them all be held above their heads.
Mong cho những tấm lọng vải, được trang trí bằng những ngôi sao vàng, hãy hiện ra. Được giăng bằng những tràng hoa rực rỡ, mong cho tất cả che trên đỉnh đầu.
38.
38.
38.
‘‘Vitatā malyadāmehi, gandhadāmehi sobhitā;
Dussadāmaparikiṇṇā, ratanadāmabhūsitā.
Spread with garlands of flowers, made beautiful with garlands of perfume, strewn with garlands of cloth, and adorned with garlands of jewels.
(Cung điện) được giăng bằng những tràng hoa, được làm đẹp bằng những tràng hương, được rải đầy những tràng vải, được trang hoàng bằng những tràng châu báu.
39.
39.
39.
‘‘Pupphābhikiṇṇā sucittā, surabhigandhabhūsitā;
Gandhapañcaṅgulikatā †, hemacchadanachāditā.
Strewn with flowers, beautifully adorned, fragrant with fine scents, marked with the five-fingered handprint of perfume, and covered with a golden covering.
Rải đầy hoa, vô cùng rực rỡ, tỏa ngát hương thơm, được in dấu năm ngón tay bằng hương liệu, được lợp bằng vải vàng.
40.
40.
40.
‘‘Catuddisā pokkharañño, padumuppalasanthatā;
Sovaṇṇarūpā khāyantu, padmaṃreṇurajuggatā.
Let lotus ponds appear in the four directions, filled with red and blue lotuses. Let them appear golden, with the pollen dust of lotuses rising up.
Mong cho các hồ sen ở bốn phương, đầy hoa sen và hoa súng (hãy hiện ra). Mong cho những hình tượng bằng vàng hãy xuất hiện, (và các hồ sen) rực rỡ với phấn hoa sen bay lên.
41.
41.
41.
‘‘Pupphantu pādapā sabbe, pāsādassa samantato;
Sayañca pupphā muñcitvā, gantvā bhavanamokiruṃ.
Let all the trees around the palace bloom. And the flowers, releasing themselves, went to the mansion and scattered over it.
Mong cho tất cả cây cối xung quanh cung điện hãy nở hoa. Và những đóa hoa tự rụng xuống, bay đến và rải khắp cung điện.
42.
42.
42.
‘‘Sikhino tattha naccantu, dibbahaṃsā pakūjare;
Karavīkā ca gāyantu, dijasaṅghā samantato.
Let peacocks dance there; let divine geese cry out; let karavīka birds sing; and all around, let the flocks of birds sing.
Tại nơi ấy, mong cho công hãy múa, thiên nga hãy hót vang. Và chim ca-lăng-tần-già hãy ca, các loài chim xung quanh hãy hót.
43.
43.
43.
‘‘Bheriyo sabbā vajjantu, vīṇā sabbā rasantu † tā;
Sabbā saṅgīti vattantu, pāsādassa samantato.
Let all the drums sound all around the palace; let all those lutes sound; let all kinds of harmonious music arise.
Mong cho tất cả trống hãy vang lên, tất cả đàn tỳ bà hãy trỗi tiếng. Mong cho tất cả các loại âm nhạc hãy diễn ra xung quanh cung điện.
44.
44.
44.
‘‘Yāvatā buddhakhettamhi, cakkavāḷe tato pare;
Mahantā jotisampannā, acchinnā ratanāmayā.
As far as the Buddha-field extends, in the world-system and beyond, let there be great, radiant, unbroken, jewel-made...
Trong cõi Phật, trong các thế giới, và cả những nơi xa hơn nữa, (mong cho hiện ra những ngai vàng) to lớn, tràn đầy ánh sáng, không gián đoạn, làm bằng châu báu.
45.
45.
45.
‘‘Tiṭṭhantu soṇṇapallaṅkā, dīparukkhā jalantu te;
Bhavantu ekapajjotā, dasasahassiparamparā.
...golden thrones. Let those lamp-trees shine; in a continuous series through ten thousand world-systems, let them become a single radiance.
Mong cho những ngai vàng hãy hiện ra, những cây đèn ấy hãy tỏa sáng. Mong cho (ánh sáng) trở thành một khối sáng duy nhất, chiếu khắp mười ngàn thế giới.
46.
46.
46.
‘‘Gaṇikā lāsikā ceva, naccantu accharāgaṇā;
Nānāraṅgā padissantu, pāsādassa samantato.
Let dancing women, female performers, and groups of celestial nymphs dance; let various kinds of performances appear all around the palace.
Mong cho các vũ nữ, ca nữ, và đoàn tiên nữ Apsara hãy múa hát. Mong cho những buổi trình diễn đa dạng hãy xuất hiện xung quanh cung điện.
47.
47.
47.
‘‘Dumagge pabbatagge vā, sinerugirimuddhani;
Ussāpemi dhajaṃ sabbaṃ, vicittaṃ pañcavaṇṇikaṃ.
On the treetops, on the mountain peaks, or on the summit of Mount Sineru, I hoist aloft every kind of banner, varied and of five colors.
Trên ngọn cây hay trên đỉnh núi, trên đỉnh núi Tu-di, con dựng lên tất cả các loại cờ phướn rực rỡ năm màu.
48.
48.
48.
‘‘Narā nāgā ca gandhabbā, sabbe devā upentu te;
Namassantā pañjalikā, pāsādaṃ parivārayuṃ.
‘Let humans, nāgas, gandhabbas, and all the devas approach.’ They, paying homage with hands joined in reverence, surrounded the palace.
Mong cho người, rồng, và càn-thát-bà, tất cả chư thiên hãy đến đây. Họ đã đến, chắp tay đảnh lễ, và vây quanh cung điện.
49.
49.
49.
‘‘Yaṃ kiñci kusalaṃ kammaṃ, kattabbaṃ kiriyaṃ mama;
Kāyena vācā manasā, tidase sukataṃ kataṃ.
Whatever wholesome action was to be done, my deed has been performed with body, speech, and mind; for the realm of the thirty-three gods, it was well done.
Bất cứ nghiệp thiện nào, việc làm nào nên làm của con, bằng thân, khẩu, ý, con đã làm. Việc thiện lành để sanh về cõi trời Ba Mươi Ba đã được thực hiện.
50.
50.
50.
‘‘Ye sattā saññino atthi, ye ca sattā asaññino;
Kataṃ puññaphalaṃ mayhaṃ, sabbe bhāgī bhavantu te.
Whatever beings with perception there are, and whatever beings without perception there are, may all of them become sharers in the fruit of the merit I have made.
Những chúng sanh nào là loài hữu tưởng, và những chúng sanh nào là loài vô tưởng, mong cho tất cả các vị ấy đều được chia phần quả phước mà con đã tạo.
51.
51.
51.
‘‘Yesaṃ kataṃ suviditaṃ, dinnaṃ puññaphalaṃ mayā;
Ye ca tattha † na jānanti, devā gantvā nivedayuṃ.
To those for whom the merit I have made is well known, the fruit has been given by me. And for those who do not know of it, may the devas go and inform them.
Những ai đã biết rõ việc phước con đã làm, quả phước đã được con chia cho. Và những ai ở nơi ấy không biết, mong chư thiên hãy đi đến và thông báo.
52.
52.
52.
‘‘Sabbalokamhi † ye sattā, jīvantāhārahetukā;
Manuññaṃ bhojanaṃ sabbaṃ †, labhantu mama cetasā.
Whatever beings there are in all the world who live sustained by food, may they, through the power of my mind, obtain all kinds of delightful nourishment.
Trong tất cả thế gian, những chúng sanh nào sống nhờ vào vật thực, mong cho các vị ấy nhận được tất cả vật thực vừa ý, nhờ vào tâm của con.
53.
53.
53.
‘‘Manasā dānaṃ mayā dinnaṃ, manasā pasādamāvahiṃ;
Pūjitā sabbasambuddhā, paccekā jinasāvakā.
With my mind a gift was given by me; with my mind I brought forth confidence. All the Fully Enlightened Buddhas, the Paccekabuddhas, and the disciples of the Conqueror have been honored.
Con đã bố thí với tâm (hoan hỷ), đã làm phát sanh lòng tịnh tín. Tất cả chư Phật Chánh Đẳng Giác, chư Phật Độc Giác, và các vị Thinh Văn của bậc Chiến Thắng đã được con cúng dường.
54.
54.
54.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done deed, and by my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Nhờ vào nghiệp thiện đã được làm tốt đẹp ấy, và nhờ vào các tác ý cùng lời nguyện, sau khi từ bỏ thân người, con đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
55.
55.
55.
‘‘Duve bhave pajānāmi, devatte atha mānuse;
Aññaṃ gatiṃ na jānāmi, manasā patthanāphalaṃ.
I know distinctly two existences: that of devas and also that of humans. I know of no other destiny; this is the fruit of an aspiration made with the mind.
Ta biết rõ hai cảnh giới, là cõi trời và cõi người; ta không biết cảnh giới nào khác, (đây là) quả của sự mong mỏi bằng tâm ý.
56.
56.
56.
‘‘Devānaṃ adhiko homi, bhavāmi manujādhipo;
Rūpalakkhaṇasampanno, paññāya asamo bhave.
I am superior to the devas; I become a lord of humans, endowed with beautiful form and characteristics; in wisdom I am without equal.
Ta vượt trội hơn chư Thiên, ta là vua của loài người; ta đầy đủ tướng mạo và đặc điểm, về trí tuệ ta không ai sánh bằng trong các cõi.
57.
57.
57.
‘‘Bhojanaṃ vividhaṃ seṭṭhaṃ, ratanañca anappakaṃ;
Vividhāni ca vatthāni, nabhā † khippaṃ upenti maṃ.
Various kinds of excellent food, abundant jewels, and various garments swiftly come to me from the sky.
Vật thực nhiều loại thượng hạng, và châu báu không ít; cùng các loại y phục khác nhau, từ trên trời nhanh chóng đến với ta.
58.
58.
58.
‘‘Pathabyā pabbate ceva, ākāse udake vane;
Yaṃ yaṃ hatthaṃ pasāremi, dibbā bhakkhā upenti maṃ.
On the earth and on the mountains, in the sky, in the water, and in the forest—to whichever direction I stretch my hand, from there divine foods come to me.
Trên đất liền và trên núi, trên không trung, trong nước, trong rừng; ta duỗi tay ra hướng nào, vật thực của chư Thiên liền đến với ta từ hướng ấy.
59.
59.
59.
‘‘Pathabyā pabbate ceva, ākāse udake vane;
Yaṃ yaṃ hatthaṃ pasāremi, ratanā sabbe upenti maṃ.
On the earth and on the mountains, in the sky, in the water, and in the forest—to whichever direction I stretch my hand, from there all treasures come to me.
Trên đất liền và trên núi, trên không trung, trong nước, trong rừng; ta duỗi tay ra hướng nào, tất cả châu báu liền đến với ta từ hướng ấy.
60.
60.
60.
‘‘Pathabyā pabbate ceva, ākāse udake vane;
Yaṃ yaṃ hatthaṃ pasāremi, sabbe gandhā upenti maṃ.
On the earth and on the mountains, in the sky, in the water, and in the forest—to whichever direction I stretch my hand, from there all fragrances come to me.
Trên đất liền và trên núi, trên không trung, trong nước, trong rừng; ta duỗi tay ra hướng nào, tất cả hương thơm liền đến với ta từ hướng ấy.
61.
61.
61.
‘‘Pathabyā pabbate ceva, ākāse udake vane;
Yaṃ yaṃ † hatthaṃ pasāremi, sabbe yānā upenti maṃ.
On the earth and on the mountains, in the sky, in the water, and in the forest—to whichever direction I stretch my hand, from there all vehicles come to me.
Trên đất liền và trên núi, trên không trung, trong nước, trong rừng; ta duỗi tay ra hướng nào, tất cả xe cộ liền đến với ta từ hướng ấy.
62.
62.
62.
‘‘Pathabyā pabbate ceva, ākāse udake vane;
Yaṃ yaṃ hatthaṃ pasāremi, sabbe mālā upenti maṃ.
On the earth and on the mountains, in the sky, in the water, and in the forest—to whichever direction I stretch my hand, from there all flowers come to me.
Trên đất liền và trên núi, trên không trung, trong nước, trong rừng; ta duỗi tay ra hướng nào, tất cả vòng hoa liền đến với ta từ hướng ấy.
63.
63.
63.
‘‘Pathabyā pabbate ceva, ākāse udake vane;
Yaṃ yaṃ hatthaṃ pasāremi, alaṅkārā upenti maṃ.
On the earth and on the mountains, in the sky, in the water, and in the forest—to whichever direction I stretch my hand, from there all ornaments come to me.
Trên đất liền và trên núi, trên không trung, trong nước, trong rừng; ta duỗi tay ra hướng nào, các đồ trang sức liền đến với ta từ hướng ấy.
64.
64.
64.
‘‘Pathabyā pabbate ceva, ākāse udake vane;
Yaṃ yaṃ hatthaṃ pasāremi, sabbā kaññā upenti maṃ.
On the earth and on the mountains, in the sky, in the water, and in the forest—to whichever direction I stretch my hand, from there all maidens come to me.
Trên đất liền và trên núi, trên không trung, trong nước, trong rừng; ta duỗi tay ra hướng nào, tất cả thiếu nữ liền đến với ta từ hướng ấy.
65.
65.
65.
‘‘Pathabyā pabbate ceva, ākāse udake vane;
Yaṃ yaṃ hatthaṃ pasāremi, madhusakkharā upenti maṃ.
On the earth and on the mountains, in the sky, in the water, and in the forest—to whichever direction I stretch my hand, from there honey and sugar come to me.
Trên đất liền và trên núi, trên không trung, trong nước, trong rừng; ta duỗi tay ra hướng nào, mật ong và đường phèn liền đến với ta từ hướng ấy.
66.
66.
66.
‘‘Pathabyā pabbate ceva, ākāse udake vane;
Yaṃ yaṃ hatthaṃ pasāremi, sabbe khajjā upenti maṃ.
On the earth and on the mountains, in the sky, in the water, and in the forest—to whichever direction I stretch my hand, from there all delicacies come to me.
Trên đất liền và trên núi, trên không trung, trong nước, trong rừng; ta duỗi tay ra hướng nào, tất cả vật thực cứng liền đến với ta từ hướng ấy.
67.
67.
67.
‘‘Adhane addhika † jane, yācake ca pathāvino;
Dadāmihaṃ † dānavaraṃ, sambodhivarapattiyā.
To the destitute, to travelers on a long journey, to beggars, and to wayfarers, I give an excellent gift for the sake of attaining supreme enlightenment.
Đối với người nghèo khó, người đi đường xa, người ăn xin, và người bộ hành; ta thực hiện sự bố thí cao quý, để đạt được quả vị Chánh Đẳng Giác cao thượng.
68.
68.
68.
‘‘Nādento pabbataṃ selaṃ, gajjento bahalaṃ giriṃ;
Sadevakaṃ hāsayanto, buddho loke bhavāmahaṃ.
Making the rocky mountain resound, making the great mountain thunder, causing the world with its devas to rejoice, I become a Buddha in the world.
Làm vang dội núi non và vách đá, làm rung chuyển ngọn núi vĩ đại; làm cho thế giới cùng với chư Thiên hoan hỷ, ta đã trở thành vị Phật ở trong đời.
69.
69.
69.
‘‘Disā dasavidhā loke, yāyato natthi antakaṃ;
Tasmiñca disābhāgamhi, buddhakhettā asaṅkhiyā.
In the world, there are ten directions; for one who traverses them, there is no end. And in those regions of the directions, the Buddha-fields are innumerable.
Trong thế gian có mười phương hướng, người đi đến không có nơi kết thúc; và trong các phần của phương hướng ấy, có vô số các cõi Phật.
70.
70.
70.
‘‘Pabhā pakittitā mayhaṃ, yamakā raṃsivāhanā;
Etthantare raṃsijālaṃ, āloko vipulo bhave.
My twin radiance, which carries rays, is spread about; within this space, a net of rays and a vast light come to be.
Ánh sáng của ta được lan tỏa, từng cặp mang theo các tia sáng; trong khoảng không gian này, mạng lưới tia sáng và ánh sáng rộng lớn đã phát sinh.
71.
71.
71.
‘‘Ettake lokadhātumhi, sabbe passantu maṃ janā;
Sabbe maṃ anuvattantu, yāva brahmanivesanaṃ †.
In this very world-system, may all people see me; may all follow me, up to the abode of Brahmā.
Trong các cõi thế giới này, mong tất cả chúng sanh hãy nhìn thấy ta; mong tất cả hãy đi theo ta, cho đến tận trú xứ của Phạm Thiên.
72.
72.
72.
‘‘Visiṭṭhamadhunādena, amatabherimāhaniṃ;
Etthantare janā sabbe, suṇantu madhuraṃ giraṃ.
With an excellent and sweet sound, I have struck the drum of the Deathless. Within this space, may all people hear my melodious voice.
Với âm thanh đặc biệt ngọt ngào, ta đã đánh lên trống bất tử; trong khoảng không gian này, mong tất cả chúng sanh hãy lắng nghe lời nói ngọt ngào.
73.
73.
73.
‘‘Dhammameghena vassante, sabbe hontu anāsavā;
Yettha pacchimakā sattā, sotāpannā bhavantu te.
When the cloud of the Dhamma rains, may all become free from taints; among this assembly, may those beings who are in their final existence become stream-enterers.
Khi đám mây Chánh pháp đổ mưa xuống, mong tất cả đều trở nên vô lậu; những chúng sanh nào ở đây là hạng thấp kém, mong rằng họ sẽ trở thành bậc Dự lưu.
74.
74.
74.
‘‘Datvā dātabbakaṃ dānaṃ, sīlaṃ pūretvā asesato;
Nekkhammapāramiṃ gantvā, patto sambodhimuttamaṃ.
Having given the gift that should be given, having fulfilled virtue completely, having fulfilled the perfection of renunciation, I have attained supreme enlightenment.
Sau khi cho đi vật bố thí đáng cho, sau khi làm cho viên mãn giới hạnh không còn dư sót; sau khi thực hành ba-la-mật xuất gia, ta đã đạt được sự Giác ngộ tối thượng.
75.
75.
75.
‘‘Paṇḍite paripucchitvā, katvā vīriyamuttamaṃ;
Khantiyā pāramiṃ gantvā, patto sambodhimuttamaṃ.
Having repeatedly questioned the wise, having made supreme effort, and having fulfilled the perfection of patience, I have attained supreme enlightenment.
Sau khi hỏi han các bậc hiền trí, sau khi thực hiện sự tinh tấn tối thượng; sau khi thực hành ba-la-mật nhẫn nại, ta đã đạt được sự Giác ngộ tối thượng.
76.
76.
76.
‘‘Katvā daḷhamadhiṭṭhānaṃ, saccapārami pūriya;
Mettāya pāramiṃ gantvā, patto sambodhimuttamaṃ.
Having made a firm determination, having fulfilled the perfection of truth, and having fulfilled the perfection of loving-kindness, I have attained supreme enlightenment.
Sau khi thực hiện sự quyết định vững chắc, sau khi làm cho viên mãn ba-la-mật chân thật; sau khi thực hành ba-la-mật tâm từ, ta đã đạt được sự Giác ngộ tối thượng.
77.
77.
77.
‘‘Lābhālābhe sukhe dukkhe, sammāne cāvamānane †;
Sabbattha samako hutvā, patto sambodhimuttamaṃ.
In gain and loss, in pleasure and pain, in honor and dishonor, having become impartial in all things, I have attained supreme enlightenment.
Trong được và mất, trong vui và khổ, trong kính trọng và khinh miệt; sau khi giữ tâm bình đẳng trong tất cả, ta đã đạt được sự Giác ngộ tối thượng.
78.
78.
78.
‘‘Kosajjaṃ bhayato disvā, vīriyaṃ cāpi khemato;
Āraddhavīriyā hotha, esā buddhānusāsanī.
Seeing laziness as a danger and effort as security, be of ardent effort; this is the instruction of the Buddhas.
Hãy xem sự lười biếng là điều đáng sợ, và sự tinh tấn là điều an ổn; hãy là những người có tinh tấn đã được khởi xướng, đây là lời giáo huấn của chư Phật.
79.
79.
79.
‘‘Vivādaṃ bhayato disvā, avivādañca khemato;
Samaggā sakhilā hotha, esā buddhānusāsanī.
Seeing disputation as a danger and non-disputation as security, be united and amiable; this is the instruction of the Buddhas.
Hãy xem sự tranh cãi là điều đáng sợ, và sự không tranh cãi là điều an ổn; hãy sống hòa hợp và thân ái, đây là lời giáo huấn của chư Phật.
80.
80.
80.
‘‘Pamādaṃ bhayato disvā, appamādañca khemato;
Bhāvethaṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ, esā buddhānusāsanī.
Seeing heedlessness as a danger and heedfulness as security, develop the Eightfold Path; this is the instruction of the Buddhas.
Hãy xem sự dễ duôi là điều đáng sợ, và sự không dễ duôi là điều an ổn; hãy tu tập Bát Chánh Đạo, đây là lời giáo huấn của chư Phật.
81.
81.
81.
‘‘Samāgatā bahū buddhā, arahantā † ca sabbaso;
Sambuddhe arahante ca, vandamānā namassatha.
Many Buddhas and all the Arahants have assembled; paying homage, venerate the Perfectly Enlightened Ones and the Arahants.
Nhiều vị Phật đã hội tụ, và tất cả các vị A-la-hán; hãy đảnh lễ và tôn kính các bậc Chánh Đẳng Giác và các vị A-la-hán.
82.
82.
82.
‘‘Evaṃ acintiyā buddhā, buddhadhammā acintiyā;
Acintiye pasannānaṃ, vipāko hoti acintiyo’’’.
Thus, Buddhas are inconceivable, the qualities of a Buddha are inconceivable; for those with faith in the inconceivable, the result is inconceivable.
Như vậy, chư Phật là không thể nghĩ bàn, các Pháp của Phật cũng không thể nghĩ bàn; đối với những người có tín tâm nơi điều không thể nghĩ bàn, quả báo cũng là không thể nghĩ bàn.
Itthaṃ sudaṃ bhagavā attano buddhacariyaṃ sambhāvayamāno buddhāpadāniyaṃ † nāma dhammapariyāyaṃ abhāsitthāti.
Thus indeed, the Blessed One, extolling his own career as a Buddha, spoke this discourse on the Dhamma entitled the Chronicle of the Buddha.
Như vậy, Thế Tôn, trong khi tán thán hạnh Phật của chính mình, đã thuyết giảng bài pháp có tên là Phật Sử.
Buddhāpadānaṃ samattaṃ.
The Chronicle of the Buddha is concluded.
Phần Phật Sử đã hoàn tất.