- Therīgāthā 14.1
- Tiṁsanipāta
Bản dịch
THIG 14.1 — Kệ ngôn của Trưởng lão ni Subhājīvakambavanikā
Subhājīvakambavanikātherīgāthā
BJT 365“Trong khi vị tỳ khưu ni Subhā đang đi đến khu vườn xoài đáng yêu của Jīvaka, có kẻ vô lại đã cản ngăn nàng. Subhā đã nói với gã ấy điều này:
BJT 366‘Này ông, tôi đã làm điều gì xúc phạm đến ông, mà ông đứng cản ngăn tôi? Bởi vì việc người nam đụng chạm đến người nữ xuất gia là không được phép.
BJT 367Điều học này đã được bậc Thiện Thệ thuyết giảng trong Giáo Pháp khả kính của bậc Đạo Sư. Tôi là người nữ có bản thể thanh tịnh, không nhơ bẩn, tại sao ông đứng cản ngăn tôi?
BJT 368Ông có tâm bị nhiễu loạn, còn tôi không bị nhiễu loạn, ông có sự luyến ái, còn tôi có sự luyến ái đã được xa lìa, không nhơ bẩn, có tâm ý đã được giải thoát về mọi lãnh vực, tại sao ông đứng cản ngăn tôi?’
BJT 369‘Nàng trẻ trung và không xấu xa, việc xuất gia sẽ làm điều gì cho nàng? Nàng hãy quăng bỏ y ca-sa, hãy đến, chúng ta hãy vui thú ở khu rừng đã được trổ hoa.
BJT 370Các cây cối, vươn lên với bụi phấn của những bông hoa, tỏa ra khắp nơi mùi hương ngọt ngào. Tháng đầu xuân là mùa hoan lạc; nàng hãy đến, chúng ta hãy vui thú ở khu rừng đã được trổ hoa.
BJT 371Các cây cối với những đỉnh chóp đã được đơm bông tựa như đang di chuyển đến (mỗi khi) được lay động bởi gió. Sẽ có sự hứng thú gì cho nàng, nếu nàng một mình đi sâu vào trong khu rừng?
BJT 372Nàng không bạn đồng hành muốn đi vào khu rừng lớn, vắng vẻ, có sự kinh hoàng, được lai vãng bởi các bầy thú dữ, bị khuấy động bởi những con voi cái động cỡn với những con voi đực.
BJT 373Nàng đi tới lui tựa như con búp bê làm bằng vàng, tựa như nàng tiên ở vườn hoa Cittaratha. Ôi tuyệt thế giai nhân, nàng chói sáng với các loại vải Kāsī tinh tế, bóng láng.
BJT 374Ôi người có đôi mắt dịu dàng của loài nhân điểu, ta có thể chiều theo sự sai bảo của nàng nếu chúng ta chung sống ở bên trong khu rừng, bởi vì không có sanh linh nào đáng yêu hơn nàng.
BJT 375Nếu nàng sẽ làm theo lời nói của ta, được an vui, nàng hãy đến, hãy ngụ ở trong nhà, với việc cư ngụ ở trong sự an toàn của tòa lâu đài, có những người nữ làm công việc hầu hạ nàng.
BJT 376Hãy mặc vào các tấm vải Kāsī tinh tế, hãy trưng diện tràng hoa và vật thoa. Ta sẽ tạo ra cho nàng nhiều nữ trang các loại làm bằng vàng, ngọc ma-ni, và ngọc trai.
BJT 377Nàng hãy ngự lên chiếc giường ngủ vô cùng quý giá, có màn che được giặt sạch bụi bặm, xinh đẹp, được trải lên bằng lớp nệm lông thú, mới tinh, được trang trí bằng gỗ trầm có hương thơm ngát.
BJT 378Giống như đóa sen xanh kia, được vươn lên từ trong nước, được thân cận với phi nhân, tương tự như vậy với việc thực hành Phạm hạnh, nàng sẽ đi đến tuổi già khi các phần thân thể còn thuộc về riêng mình.’
BJT 379‘Đối với ông, ở đây, ở cái thân xác có bản chất tan rã, chứa đầy các vật ghê tởm, làm cho các bãi tha ma phát triển, vật gì được xem là cốt lõi mà sau khi nhìn thấy vật ấy thì ông mất hồn và nhìn đắm đuối?’
BJT 380‘Đôi mắt (của nàng) tựa như (cặp mắt) của loài nai cái, tựa như (cặp mắt) của nữ nhân điểu ở trong khu rừng. Sau khi nhìn theo đôi mắt của nàng, niềm thích thú dục tình của ta gia tăng thêm nữa.
BJT 381(Đôi mắt của nàng) giống như chóp đỉnh của đóa sen xanh ở trên khuôn mặt tựa như vàng không vết bẩn của nàng. Sau khi nhìn theo đôi mắt của nàng, mức độ dục tình của ta gia tăng thêm nữa.
BJT 382Hỡi người có lông mi dài, hỡi người có cái nhìn trong trắng, cho dầu nàng đi xa, ta (sẽ) nhớ (nàng). Hỡi người có đôi mắt dịu dàng của loài nhân điểu, bởi vì không có cặp mắt nào đáng yêu hơn cặp mắt của nàng.’
BJT 383‘Ông muốn đi vào con đường sái quấy, ông muốn tầm cầu mặt trăng làm đồ chơi, ông muốn nhảy qua ngọn núi Meru, (khi) ông đeo đuổi người con của đức Phật.
BJT 384Thậm chí ở thế gian luôn cả chư Thiên, giờ đây không có sự luyến ái nào có thể hiện hữu ở ta. Ta cũng không biết sự ái luyến ấy là loại nào một khi nó đã bị tiêu diệt tận gốc rễ bởi Đạo Lộ (thánh thiện).
BJT 385(Sự luyến ái) tựa như (tàn lửa) được văng ra từ chậu than hồng, tựa như bát chất độc đã được làm cho tiêu tán. Ta cũng không biết sự ái luyến ấy là loại nào một khi nó đã bị tiêu diệt tận gốc rễ bởi Đạo Lộ (thánh thiện).
BJT 386Đối với người nữ nào, (năm uẩn này) chưa được quán xét hay là bậc Đạo Sư chưa được phụng sự, ông hãy đi quyến rũ người nữ như thế ấy. (Nếu quyến rũ) con người đã nhận biết này, ông đây (sẽ) bị khốn khổ.
BJT 387Bởi vì khi bị mắng nhiếc hay được lễ bái, khi có sự an lạc hay khổ đau, niệm của tôi đều được thiết lập. Sau khi biết rằng: ‘Pháp bị tạo tác là không tốt đẹp,’ tâm của tôi không bám víu vào bất cứ nơi nào.
BJT 388Tôi đây là nữ đệ tử của bậc Thiện Thệ, có sự di chuyển bằng chiếc xe Đạo Lộ tám chi phần, có mũi tên đã được nhổ lên, không còn lậu hoặc, đã được đi đến căn nhà trống vắng, tôi thỏa thích.
BJT 389Bởi vì tôi đã nhìn thấy những con búp bê khéo được tô màu, hoặc những con rối bằng gỗ, được buộc chặt bằng những sợi dây và những thanh gỗ, nhảy múa theo nhiều kiểu.
BJT 390Khi (những) sợi dây và thanh gỗ ấy được lấy ra, được tháo rời, được gỡ bỏ, được phân tán, đã được làm thành mảnh vụn, không thể tìm ra, trong trường hợp ấy thì tâm có thể trú vào cái gì?
BJT 391Tương tự như thế ấy, các phần thân thể của tôi không vận hành nếu thiếu đi các pháp ấy (đất, nước, v.v…); (cơ thể) không vận hành nếu thiếu đi các phần (tay, chân, v.v…), trong trường hợp ấy thì tâm có thể trú vào cái gì?
BJT 392Giống như ông đã nhìn thấy bức tranh vẽ (hình người) được bôi màu vàng, được tạo ra ở bức tường, cái nhìn của ông về cái (hình người) ấy đã bị bóp méo, cái tưởng về con người (đứng ở bức tường) là không có ý nghĩa.
BJT 393Tựa như ảo ảnh được tạo ra ở phía trước, tựa như cái cây bằng vàng ở trong giấc mơ, tựa như sự phô bày hình thức ở giữa đám người, này kẻ mù lòa, ông đi theo cái không thật.
BJT 394(Con mắt) tựa như viên bi tròn được đặt vào cái hốc, có cái bong bóng ở chính giữa cùng với nước mắt, chất ghèn được tiết ra ở nơi ấy, các phần tử của con mắt được xoay chuyển theo nhiều lối.’
BJT 395Với tâm ý không luyến tiếc, vị ni có khuôn mặt dễ thương, đã móc lấy (con mắt), và đã không tiếc nuối (nói rằng): ‘Này, ông hãy mang đi con mắt cho ông đi,’ đồng thời đã trao con mắt cho gã đàn ông ấy.
BJT 396Liền khi ấy sự luyến ái của gã ấy đã ngưng hẳn, và tại nơi ấy gã đã xin vị ni thứ lỗi: ‘Thưa vi ni thực hành Phạm hạnh, có thể tốt lành được chăng? Việc như thế này sẽ không tái diễn.
BJT 397Sau khi xúc phạm con người như thế này, tựa như đã ôm lấy ngọn lửa cháy bùng, giống như đã cầm lấy nọc độc của con rắn. Còn có thể tốt lành được chăng? Xin hãy thứ lỗi cho tôi.’
BJT 398Và đã được tự do lìa khỏi gã ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã đi đến gặp đức Phật cao quý. Sau khi nhìn thấy tướng trạng phước báu cao quý, con mắt đã trở nên giống như tình trạng trước đây.”
Trưởng lão ni Subhā ngụ ở vườn xoài của Jīvaka đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Subhā ngụ ở vườn xoài của Jīvaka.
Nhóm Ba Mươi được chấm dứt.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Verses of the Senior Nuns 14.1
- The Book of the Thirties
Subhā of Jīvaka’s Mango Grove
1. Kệ của Trưởng lão ni Subhā ở vườn xoài của Jīvaka
Jīvakambavanaṁ rammaṁ, Gacchantiṁ bhikkhuniṁ subhaṁ; Dhuttako sannivāresi, Tamenaṁ abravī subhā.
Going to the lovely mango grove of Jīvaka, the nun Subhā was held up by a rascal. Subhā said this to him:
Tỳ-kheo-ni Subhā đang đi đến vườn xoài Jīvaka khả ái, một gã du đãng đã chặn đường nàng. Tỳ-kheo-ni Subhā liền nói với gã ấy.
“Kiṁ te aparādhitaṁ mayā, Yaṁ maṁ ovariyāna tiṭṭhasi; Na hi pabbajitāya āvuso, Puriso samphusanāya kappati.
“What harm have I done to you, that you stand in my way? Respectable sir, it’s not proper that a man should touch a woman gone forth.
“Này hiền hữu, tôi đã có lỗi gì với anh, mà anh lại chặn đường tôi và đứng đó? Này hiền hữu, đối với người nữ xuất gia, người nam không được phép xúc chạm.”
Garuke mama satthusāsane, Yā sikkhā sugatena desitā; Parisuddhapadaṁ anaṅgaṇaṁ, Kiṁ maṁ ovariyāna tiṭṭhasi.
This training was taught by the Holy One, it is a serious matter in my teacher’s instructions. I am pure and rid of blemishes, so why do you stand in my way?
“Trong giáo pháp tôn quý của Bậc Đạo Sư, học giới đã được bậc Thiện Thệ thuyết giảng. Tôi là người có nền tảng thanh tịnh, không cấu uế, tại sao anh lại chặn đường tôi và đứng đó?”
Āvilacitto anāvilaṁ, Sarajo vītarajaṁ anaṅgaṇaṁ; Sabbattha vimuttamānasaṁ, Kiṁ maṁ ovariyāna tiṭṭhasi”.
One whose mind is clouded against one unclouded; one who is lustful against one free of lust; unblemished, my heart is freed in every respect, so why do you stand in my way?”
“Tâm anh vẩn đục, còn vương bụi trần, (sao lại chặn đường) tôi, người tâm không vẩn đục, đã lìa bụi trần, không cấu uế, tâm đã giải thoát khỏi tất cả. Tại sao anh lại chặn đường tôi và đứng đó?”
“Daharā ca apāpikā casi, Kiṁ te pabbajjā karissati; Nikkhipa kāsāyacīvaraṁ,
“You’re young and flawless—what will going-forth do for you? Throw away the ocher robe,
“Này cô em, cô còn trẻ và xinh đẹp, việc xuất gia sẽ mang lại gì cho cô? Hãy cởi bỏ chiếc y cà sa này đi. Hãy đến đây, chúng ta hãy cùng vui hưởng trong khu rừng hoa nở rộ.”
Madhurañca pavanti sabbaso, Kusumarajena samuṭṭhitā dumā; Paṭhamavasanto sukho utu, Ehi ramāma supupphite vane.
Everywhere, the scent of pollen wafts sweet, born of the flowering woods. The start of spring is a happy time—come and play in the blossom grove.
“Cây cối vương đầy phấn hoa, tỏa hương thơm ngát khắp nơi. Tiết đầu xuân thật dễ chịu. Hãy đến đây, chúng ta hãy cùng vui hưởng trong khu rừng hoa nở rộ.”
Kusumitasikharā ca pādapā, Abhigajjantiva māluteritā; Kā tuyhaṁ rati bhavissati, Yadi ekā vanamogahissasi.
And trees crested with flowers cry out, as it were, in the gale. But what kind of fun will you have if you plunge into the woods all alone?
“Những ngọn cây đầy hoa, bị gió lay động, dường như đang reo vang. Cô sẽ có niềm vui gì nếu một mình đi sâu vào khu rừng này?”
Vāḷamigasaṅghasevitaṁ, Kuñjaramattakareṇuloḷitaṁ; Asahāyikā gantumicchasi, Rahitaṁ bhiṁsanakaṁ mahāvanaṁ.
Frequented by packs of predators, and cow elephants aroused by rutting bulls; you wish to go without a friend to the deserted, awe-inspiring forest.
“Cô muốn đi một mình không bạn đồng hành vào khu rừng lớn vắng vẻ và đáng sợ này, nơi các bầy thú dữ lui tới, bị khuấy động bởi những con voi đực và voi cái đang say?”
Tapanīyakatāva dhītikā, Vicarasi cittalateva accharā; Kāsikasukhumehi vaggubhi, Sobhasī suvasanehi nūpame.
Like a doll made of glittering gold, like a nymph wandering the park of bright vines, your matchless beauty will shine in graceful clothes of delicate Kāsian cloth.
“Cô đi lại như một bức tượng vàng, như một thiên nữ trong vườn Cittalatā. Này cô em không gì sánh bằng, cô sẽ tỏa sáng trong những y phục lụa Kasi mềm mại và xinh đẹp.”
Ahaṁ tava vasānugo siyaṁ, Yadi viharemase kānanantare; Na hi matthi tayā piyattaro, Pāṇo kinnarimandalocane.
I’ll be under your sway, if we are to stay in the forest. I love no creature more than you, O pixie with such captivating eyes.
“Hỡi người có đôi mắt tròn như mắt tiên nữ Kinnarī, tôi sẽ chiều theo ý cô nếu chúng ta sống cùng nhau trong rừng sâu. Đối với tôi, không có sinh linh nào thân thương hơn cô.”
Yadi me vacanaṁ karissasi, Sukhitā ehi agāramāvasa; Pāsādanivātavāsinī, Parikammaṁ te karontu nāriyo.
Were you to take up my invitation—‘Come, be happy, and live in a house’—you’ll stay in a longhouse sheltered from wind; let the ladies look to your needs.
“Nếu cô nghe lời tôi, hãy đến sống hạnh phúc trong gia đình. Hãy ở trong cung điện kín gió, và để các thị nữ phục vụ cô.”
Kāsikasukhumāni dhāraya, Abhiropehi ca mālavaṇṇakaṁ; Kañcanamaṇimuttakaṁ bahuṁ, Vividhaṁ ābharaṇaṁ karomi te.
Dressed in delicate Kāsian cloth, put on your garlands and your cosmetics. I’ll make all sorts of adornments for you, of lustrous gold and gems and pearls.
“Hãy mặc những tấm vải Kasi mềm mại, hãy trang điểm bằng vòng hoa và phấn sáp. Tôi sẽ làm cho cô nhiều loại trang sức bằng vàng, ngọc và trân châu.”
Sudhotarajapacchadaṁ subhaṁ, Gonakatūlikasanthataṁ navaṁ; Abhiruha sayanaṁ mahārahaṁ, Candanamaṇḍitasāragandhikaṁ.
Climb onto a costly bed, its coverlet so clean and nice, with a new woolen mattress, so fragrant, sprinkled with sandalwood.
“Hãy bước lên chiếc giường quý giá, mới mẻ, đẹp đẽ, có tấm trải sạch không bụi, được trải nệm len và bông gòn, được trang hoàng và tỏa hương chiên đàn.”
Uppalaṁ cudakā samuggataṁ, Yathā taṁ amanussasevitaṁ; Evaṁ tvaṁ brahmacārinī, Sakesaṅgesu jaraṁ gamissasi”.
As a blue lily risen from the water remains untouched by men, so too, O chaste and holy lady, your limbs grow old unshared.”
“Giống như bông hoa súng mọc lên từ nước, được phi nhân bảo vệ nên không ai hái được, cũng vậy, cô, người sống đời phạm hạnh, sẽ đi đến già nua trong chính các chi phần của mình.”
“Kiṁ te idha sārasammataṁ, Kuṇapapūramhi susānavaḍḍhane; Bhedanadhamme kaḷevare, Yaṁ disvā vimano udikkhasi”.
“This carcass is full of putrefaction, it swells the charnel ground, for its nature is to fall apart. What do you think is so essential in it that you stare at me so crazily?”
“Trong thân xác này, vốn đầy những thứ hôi thối, có bản chất tan rã, làm lớn thêm nghĩa địa, anh cho rằng cái gì là cốt lõi? Cái mà anh nhìn chằm chằm với tâm xáo trộn ấy?”
“Akkhīni ca tūriyāriva, Kinnariyāriva pabbatantare; Tava me nayanāni dakkhiya, Bhiyyo kāmaratī pavaḍḍhati.
“Your eyes are like those of a doe, or a pixie in the mountains; seeing them, erotic delight swells in me all the more.
“Đôi mắt cô như mắt nai, như mắt tiên nữ Kinnarī trong khe núi. Khi tôi thấy đôi mắt cô, niềm vui ái dục của tôi càng thêm tăng trưởng.”
Uppalasikharopamāni te, Vimale hāṭakasannibhe mukhe; Tava me nayanāni dakkhiya, Bhiyyo kāmaguṇo pavaḍḍhati.
Your eyes are like a blue lily’s bud in your flawless face <j>shining like coruscant gold. Seeing them, sensual excitement swells in me all the more.
“Trên khuôn mặt không tì vết, tựa như vàng của cô, đôi mắt cô giống như đầu cánh hoa súng xanh. Khi tôi thấy đôi mắt cô, dục lạc của tôi càng thêm tăng trưởng.”
Api dūragatā saramhase, Āyatapamhe visuddhadassane; Na hi matthi tayā piyattaro, Nayanā kinnarimandalocane”.
Though you may wander far, I’ll still think of you, with lashes so long and eyes so bright. I love no eyes more than yours, O pixie with such bashful eyes.”
“Dù cô có đi xa, chúng tôi vẫn sẽ nhớ đôi mắt có lông mi dài và cái nhìn trong sáng của cô. Hỡi người có đôi mắt tròn như mắt tiên nữ Kinnarī, đối với tôi, không có gì thân thương hơn đôi mắt của cô.”
“Apathena payātumicchasi, Candaṁ kīḷanakaṁ gavesasi; Meruṁ laṅghetumicchasi, Yo tvaṁ buddhasutaṁ maggayasi.
“You’re setting out on the wrong road! You’re looking to take the moon for your toy! You’re trying to leap over Mount Meru! You, who are hunting a child of the Buddha!
“Anh muốn đi vào con đường sai trái, anh tìm kiếm mặt trăng như một món đồ chơi. Anh muốn nhảy qua núi Meru, khi anh theo đuổi con gái của Đức Phật.”
Natthi hi loke sadevake, Rāgo yatthapi dāni me siyā; Napi naṁ jānāmi kīriso, Atha maggena hato samūlako.
For in this world with all its gods, there will be no more lust anywhere in me. I don’t even know what kind it could be, it’s been smashed root and all by the path.
“Trong thế gian này cùng với chư thiên, không còn nơi nào mà tham ái có thể khởi lên trong tôi. Tôi cũng không biết nó như thế nào, vì nó đã bị diệt tận gốc bởi Thánh đạo.”
Iṅgālakuyāva ujjhito, Visapattoriva aggito kato; Napi naṁ passāmi kīriso, Atha maggena hato samūlako.
Cast out like sparks from fiery coals, it’s worth no more than a bowl of poison. I don’t even see what kind it could be, it’s been smashed root and all by the path.
“Như vật bị vứt vào hố than hồng, như chén thuốc độc bị hủy hoại hoàn toàn, tôi không còn thấy nó như thế nào, vì nó đã bị diệt tận gốc bởi Thánh đạo.”
Yassā siyā apaccavekkhitaṁ, Satthā vā anupāsito siyā; Tvaṁ tādisikaṁ palobhaya, Jānantiṁ so imaṁ vihaññasi.
Well may you try to seduce the type of lady who has not reflected on these things, or who has never attended the Teacher: but <em>this</em> is a lady who knows—now you’re in trouble!
“Người nữ nào chưa quán xét (thân này), hoặc chưa thân cận Bậc Đạo Sư, anh hãy đi dụ dỗ người như vậy. Còn với người này, người biết rõ, anh đang tự làm khổ mình.”
Mayhañhi akkuṭṭhavandite, Sukhadukkhe ca satī upaṭṭhitā; Saṅkhatamasubhanti jāniya, Sabbattheva mano na limpati.
No matter if I am reviled or praised, or feel pleasure or pain: I stay mindful. Knowing that conditions are ugly, my mind clings to nothing.
“Đối với tôi, trong mắng nhiếc và tán dương, trong lạc và khổ, niệm luôn được thiết lập. Biết rõ các pháp hữu vi là bất tịnh, tâm tôi không dính mắc vào bất cứ đâu.”
Sāhaṁ sugatassa sāvikā, Maggaṭṭhaṅgikayānayāyinī; Uddhaṭasallā anāsavā, Suññāgāragatā ramāmahaṁ.
I am a disciple of the Holy One, riding in the carriage of the eightfold path. The dart pulled out, free of defilements, I’m happy to have reached an empty place.
“Tôi là nữ đệ tử của bậc Thiện Thệ, người đi trên cỗ xe Bát Chánh Đạo. Tôi đã nhổ mũi tên phiền não, không còn lậu hoặc, tôi tìm thấy hỷ lạc khi đi đến nơi vắng vẻ.”
Diṭṭhā hi mayā sucittitā, Sombhā dārukapillakāni vā; Tantīhi ca khīlakehi ca, Vinibaddhā vividhaṁ panaccakā.
I’ve seen brightly painted dolls and wooden puppets, tied to sticks and strings, and made to dance in many ways.
“Tôi đã từng thấy những con rối hay búp bê gỗ được trang trí đẹp đẽ, được buộc lại với nhau bằng dây và chốt, và chúng nhảy múa theo nhiều cách.”
Tamhuddhaṭe tantikhīlake, Vissaṭṭhe vikale parikrite; Na vindeyya khaṇḍaso kate, Kimhi tattha manaṁ nivesaye.
But when the sticks and strings are taken off—loosed, disassembled, dismantled, irrecoverable, stripped to parts—on what could the mind be fixed?
“Khi dây và chốt được tháo ra, khi chúng bị vứt bỏ, hỏng hóc, phân tán, làm thành từng mảnh, người ta không thể tìm thấy (con rối). Vậy thì, nên đặt tâm vào đâu trong đó?”
Tathūpamā dehakāni maṁ, Tehi dhammehi vinā na vattanti; Dhammehi vinā na vattati, Kimhi tattha manaṁ nivesaye.
That’s what my body is really like, without those things it can’t go on. This being so, on what could the mind be fixed?
“Đối với tôi, những thân thể này cũng tương tự như vậy. Không có các pháp (như đất, nước, lửa, gió), chúng không tồn tại. Không có các pháp, nó không tồn tại. Vậy thì, nên đặt tâm vào đâu trong đó?”
Yathā haritālena makkhitaṁ, Addasa cittikaṁ bhittiyā kataṁ; Tamhi te viparītadassanaṁ, Saññā mānusikā niratthikā.
It’s like when you saw a mural made by painting yellow orpiment on a wall, and your vision was deceived by that—the perception ‘human’ is pointless.
“Giống như người ta thấy một bức tranh được vẽ trên tường bằng hùng hoàng. Trong đó, cái thấy của anh là sai lầm, và tưởng về một con người là vô ích.”
Māyaṁ viya aggato kataṁ, Supinanteva suvaṇṇapādapaṁ; Upagacchasi andha rittakaṁ, Janamajjheriva rupparūpakaṁ.
Like an illusion cast before you, or a golden tree in a dream, you chase what is hollow, blind one, like a painted doll among the people.
“Hỡi kẻ mù quáng, anh đang tiếp cận cái trống rỗng, giống như một màn ảo thuật được trình diễn trước mắt, như một cây vàng trong giấc mơ, như một hình nhân bằng bạc giữa đám đông.”
Vaṭṭaniriva koṭarohitā, Majjhe pubbuḷakā saassukā; Pīḷakoḷikā cettha jāyati, Vividhā cakkhuvidhā ca piṇḍitā”.
Like a ball in a socket, with a pupil in the middle, and tears, and mucus comes from there as well, different eye-parts are lumped together.”
“Giống như những viên nhựa cây đặt trong hốc cây, ở giữa là những bong bóng cùng với nước mắt. Ghèn mắt cũng sinh ra ở đây, và nhiều bộ phận của mắt được kết hợp lại.”
Uppāṭiya cārudassanā, Na ca pajjittha asaṅgamānasā; “Handa te cakkhuṁ harassu taṁ”, Tassa narassa adāsi tāvade.
Having plucked it out, the fair-eyed lady was undismayed, unchained in mind. “Come now, take this eye,” she said, and gave it to the man right then.
Nàng Subhā khả ái, tâm không vướng mắc, đã móc mắt mình ra và không hề luyến tiếc; nàng nói: 'Này, hãy cầm lấy con mắt này đi', và ngay lúc ấy đã trao cho người đàn ông kia.
Tassa ca viramāsi tāvade, Rāgo tattha khamāpayī ca naṁ; “Sotthi siyā brahmacārinī, Na puno edisakaṁ bhavissati”.
And right then he lost his lust, and asked for her forgiveness: “May you be well, O chaste and holy lady; such a thing will not happen again.
Ngay lúc ấy, lòng tham dục của người ấy đối với con mắt liền tan biến. Hắn đã xin nàng tha thứ: 'Thưa bậc Phạm hạnh, mong ngài được an lành. Chuyện như thế này sẽ không bao giờ tái diễn nữa'.
“Āsādiya edisaṁ janaṁ, Aggiṁ pajjalitaṁva liṅgiya; Gaṇhiya āsīvisaṁ viya, Api nu sotthi siyā khamehi no”.
Attacking a person such as this is like holding on to a blazing fire, or grabbing a deadly viper! May you be well, please forgive me.”
'Khi xúc phạm đến một người như ngài, con như thể đã ôm lấy một ngọn lửa bùng cháy, như thể đã nắm phải một con rắn độc. Mong ngài được an lành! Xin hãy tha thứ cho con'.
Muttā ca tato sā bhikkhunī, Agamī buddhavarassa santikaṁ; Passiya varapuññalakkhaṇaṁ, Cakkhu āsi yathā purāṇakanti.
When that nun was released she went to the presence of the excellent Buddha. Seeing the one with excellent marks of merit, her eye became just as it was before.
Được giải thoát khỏi người ấy, vị Tỳ-khưu-ni đã đi đến sự hiện diện của Đức Phật Tối Thắng. Khi nhìn thấy các tướng hảo của bậc vĩ nhân, con mắt của nàng đã được phục hồi như xưa.
… Subhā jīvakambavanikā therī ….
... Trưởng lão ni Subhā ở vườn xoài của Jīvaka ...
Tiṁsanipāto niṭṭhito.
Phẩm Ba Mươi Kệ đã kết thúc.