- Therīgāthā 13.5
- Vīsatinipāta
Subhākammāradhītutherīgāthā
“Daharāhaṁ suddhavasanā, yaṁ pure dhammamassuṇiṁ; Tassā me appamattāya, saccābhisamayo ahu.
Tatohaṁ sabbakāmesu, bhusaṁ aratimajjhagaṁ; Sakkāyasmiṁ bhayaṁ disvā, nekkhammameva pīhaye.
Bản dịch
Subhākammāradhītutherīgāthā
BJT 337Tôi đã được nghe Giáo Pháp trước đây lúc còn trẻ tuổi, có y phục tinh khiết. Tôi đây, không bị xao lãng, đã có sự lãnh hội về các Sự Thật.
BJT 338Nhờ vậy, tôi đã đạt đến sự không thích thú lớn lao về tất cả các loại dục. Sau khi nhìn thấy nỗi sợ hãi về bản ngã, tôi ao ước chỉ mỗi việc xuất ly.
BJT 339Tôi đã lìa bỏ đám đông thân quyến, các nô lệ và những người hầu, các làng mạc ruộng đất phì nhiêu, các vật đáng yêu đã được vui thích.
BJT 340Sau khi dứt bỏ của cải không phải là ít, tôi đã xuất gia. Với niềm tin như thế, tôi đã xuất ly ở trong Chánh Pháp khéo được công bố. Việc này là không thích đáng đối với tôi, bởi vì tôi ước nguyện trạng thái không sở hữu.
BJT 341Người nào đã quăng bỏ vàng bạc không nên tiếp nhận trở lại. Bạc hay vàng không đưa đến sự giác ngộ, không đưa đến sự thanh tịnh. Việc này là không thích hợp với Sa-môn, việc này không là tài sản thánh thiện.
BJT 342Việc này là lòng tham, là sự say đắm, sự mê muội, sự tăng trưởng nhơ bẩn, có sự nguy hiểm, có nhiều phiền toái, và ở đây không có sự vững chắc, bền lâu.
BJT 343Ở đây, loài người bị tham đắm, và bị xao lãng, có tâm ý bị ô nhiễm. Bị đối chọi lẫn nhau, những kẻ phàm phu gây nên sự xung đột.
BJT 344Sự giết chóc, giam cầm, tai họa, mất mát, sầu muộn, than vãn, nhiều sự bất hạnh được nhìn thấy đối với những người bị đắm chìm trong các dục.
BJT 345Các người là thân quyến, tại sao lại lôi kéo tôi đây vào trong các dục, như là những kẻ thù vậy? Các người phải biết rằng tôi đã được xuất gia, có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi trong các dục.
BJT 346Các lậu hoặc không được cạn kiệt nhờ vào vàng khối hay vàng ròng. Các dục là những kẻ thù, những kẻ giết người, là đối nghịch, là những sự trói buộc vào các mũi tên (luyến ái, sân hận, si mê).
BJT 347Các người là thân quyến, tại sao lại lôi kéo tôi đây vào trong các dục, như là những kẻ thù vậy? Các người phải biết rằng tôi đã được xuất gia, đầu cạo, trùm lên y hai lớp.
BJT 348Đồ ăn do đã đứng (chờ đợi), sự khất thực, và y may bằng vải quăng bỏ, việc này quả là thích hợp với tôi, là (những) vật nâng đỡ cho người sống không nhà.
BJT 349Các dục, thuộc về cõi trời và thuộc về loài người, đã bị chối từ bởi các vị đại ẩn sĩ. Ở chốn an toàn, các vị ấy đã được hoàn toàn giải thoát, các vị ấy đã đạt đến sự an lạc không bị dao động.
BJT 350Tôi đây đã tiếp xúc với các dục, chỗ nương tựa ở nơi chúng không được tìm thấy. Các dục là những kẻ thù, những kẻ giết người, những sự khổ đau, tương tự như những đống lửa.
BJT 351(Các dục) ấy là sự trở ngại, là nỗi sợ hãi, có sự phá hoại, có gai nhọn. Sự ham muốn là vô cùng khập khiễng, là sự bôi bẩn, là nguyên nhân lớn tạo ra sự mê muội.
BJT 352Các dục là sự khuấy rối, có dáng vóc ghê rợn, tương tự cái đầu con rắn; những kẻ nào là ngu dốt, bị mù lòa, những kẻ phàm phu thì ưa thích.
BJT 353Bởi vì bị gắn bó với đám lầy của các dục, nhiều người ngu dốt ở thế gian không biết về việc chấm dứt sanh tử.
BJT 354Vì nguyên nhân các dục, nhiều người, quả nhiên bằng nhiều lối, thực hành con đường dẫn đến cảnh giới khổ đau, đem lại bệnh tật cho bản thân.
BJT 355Như vậy, các dục là sự sản sanh ra kẻ thù, là sự thiêu đốt, liên quan đến phiền não, là mồi nhử của thế gian cần được buộc trói lại, là sự trói buộc vào cái chết.
BJT 356Các dục là (nguyên nhân tạo ra) các sự điên cuồng, các sự tâng bốc, các sự kích động của tâm, là lưới bẫy đã được giăng ra bởi Ma Vương, đem lại phiền não cho các chúng sanh.
BJT 357Các dục có những điều bất lợi vô hạn, có nhiều khổ đau, là các chất độc mạnh, có ít khoái lạc, là những yếu tố gây nên khuấy rối, có sự tiêu diệt các thành phần trong sạch.
BJT 358Sau khi đã gây nên điều bất hạnh như thế ấy, có nguyên nhân là các dục, tôi sẽ không quay trở lại việc ấy nữa, luôn luôn thỏa thích Niết Bàn.
BJT 359Sau khi vượt qua sự khuấy rối của các dục, có sự mong mỏi trạng thái mát mẻ, không bị xao lãng, tôi sẽ an trú trong sự cạn kiệt các điều ràng buộc.
BJT 360Tôi sẽ đi theo Đạo Lộ không có sầu muộn, xa lìa luyến ái, an toàn, thánh thiện, có tám chi phần, thẳng tắp ấy, nhờ nó mà các bậc đại ẩn sĩ đã được vượt qua.
BJT 361‘Các vị hãy nhìn xem Subhā này, con gái người thợ rèn, đã đứng vững ở trong Giáo Pháp. Sau khi tiến đến sự không còn dục vọng, nàng tham thiền ở cội cây.
BJT 362Đã được xuất gia đến hôm nay là ngày thứ tám, có niềm tin, có sự chói sáng của Chánh Pháp, được hướng dẫn bởi vị ni Uppalavaṇṇā, nàng có ba Minh, có sự chiến thắng Thần Chết.
BJT 363Nàng đây là người (nô lệ đã được) tự do, không còn nợ nần, là vị tỳ khưu ni, có các giác quan đã được tu tập, đã tách rời mọi điều ràng buộc, có phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.’
BJT 364Vị chúa tể của các sanh linh Sakka, cùng với hội chúng chư Thiên, bằng thần thông đã đi đến gặp và lễ bái Subhā, con gái người thợ rèn.”
Trưởng lão ni Subhā, con gái người thợ rèn, đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Subhā, con gái người thợ rèn.
Nhóm Hai Mươi được chấm dứt.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Daharāhaṁ suddhavasanā, yaṁ pure dhammamassuṇiṁ; Tassā me appamattāya, saccābhisamayo ahu.
Tatohaṁ sabbakāmesu, bhusaṁ aratimajjhagaṁ; Sakkāyasmiṁ bhayaṁ disvā, nekkhammameva pīhaye.
“I was so young, my clothes so fresh, at that time I heard the teaching. Being diligent, I comprehended the truth;
and then I became profoundly dispassionate toward all sensual pleasures. Seeing fear in substantial reality, I longed for renunciation.
Do đó, ta đã có sự bất mãn mãnh liệt đối với tất cả các dục. Thấy được sự nguy hiểm trong thân kiến, ta chỉ khao khát sự xuất ly.
Hitvānahaṁ ñātigaṇaṁ, dāsakammakarāni ca; Gāmakhettāni phītāni, ramaṇīye pamodite.
Giving up my family circle, bonded servants and workers, and my flourishing village fields, so delightful and pleasant,
Ta đã từ bỏ hội chúng quyến thuộc, tôi tớ và người làm công, làng mạc và ruộng đất sung túc, những gì đáng ưa thích và vui thú.
Pahāyahaṁ pabbajitā, sāpateyyamanappakaṁ; Evaṁ saddhāya nikkhamma, saddhamme suppavedite.
I went forth; all that is no small wealth. Now that I’ve renounced in faith like this, in the true teaching so well proclaimed,
Con từ bỏ tài sản, không phải là ít ỏi, rồi xuất gia; như vậy, với đức tin, con đã ra đi, trong Chánh pháp được khéo giảng dạy.
Netaṁ assa patirūpaṁ, Ākiñcaññañhi patthaye; Yo jātarūpaṁ rajataṁ, Chaḍḍetvā punarāgame.
since I desire to have nothing, it would not be appropriate to take back gold and currency, having already got rid of them.
Điều ấy không thích hợp với con, con chỉ mong cầu sự vô sản; người nào đã từ bỏ vàng và bạc, rồi lại quay về với chúng.
Rajataṁ jātarūpaṁ vā, na bodhāya na santiyā; Netaṁ samaṇasāruppaṁ, na etaṁ ariyaddhanaṁ.
Currency or gold doesn’t lead to peace and awakening. It doesn’t befit an ascetic; it’s not the wealth of the noble ones;
Bạc hay vàng, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến an tịnh; điều này không thích hợp với sa-môn, đây không phải là tài sản của bậc Thánh.
Lobhanaṁ madanañcetaṁ, mohanaṁ rajavaḍḍhanaṁ; Sāsaṅkaṁ bahuāyāsaṁ, natthi cettha dhuvaṁ ṭhiti.
it’s greed and vanity, confusion and growing decadence, dubious and troublesome—there is nothing lasting there.
Đây là lòng tham, là sự say đắm, là sự si mê, làm tăng trưởng bụi bẩn; nó đầy hiểm nguy, nhiều phiền muộn, ở trong đó không có sự vững bền, ổn định.
Ettha rattā pamattā ca, saṅkiliṭṭhamanā narā; Aññamaññena byāruddhā, puthu kubbanti medhagaṁ.
Depraved and heedless, unenlightened folk, their hearts corrupt, fight each other, creating conflict.
Những người tham đắm và phóng dật trong đó, tâm trí bị ô nhiễm; họ chống đối lẫn nhau, gây ra nhiều tranh cãi.
Vadho bandho parikleso, jāni sokapariddavo; Kāmesu adhipannānaṁ, dissate byasanaṁ bahuṁ.
Killing, caging, misery, loss, grief, and lamentation; those sunk in sensual pleasures see many disastrous things.
Giết chóc, trói buộc, phiền não, mất mát, sầu bi và than khóc; đối với những người bị dục lạc chi phối, nhiều tai họa được thấy rõ.
Taṁ maṁ ñātī amittāva, kiṁ vo kāmesu yuñjatha; Jānātha maṁ pabbajitaṁ, kāmesu bhayadassiniṁ.
My family, why do you urge me on to pleasures, as if you were my enemies? You know I’ve gone forth, seeing fear in sensual pleasures.
Hỡi các quyến thuộc, sao lại thúc ép con vào dục lạc như kẻ thù vậy? Xin hãy biết con là người đã xuất gia, người thấy sự nguy hiểm trong các dục lạc.
Na hiraññasuvaṇṇena, parikkhīyanti āsavā; Amittā vadhakā kāmā, sapattā sallabandhanā.
It’s not due to gold, coined or uncoined, that defilements come to an end. Sensual pleasures are enemies and killers, hostile forces that bind you to thorns.
Không phải bằng vàng bạc mà các lậu hoặc được đoạn trừ; dục lạc là kẻ thù, là kẻ sát nhân, là đối phương, là sự trói buộc của mũi tên.
Taṁ maṁ ñātī amittāva, kiṁ vo kāmesu yuñjatha; Jānātha maṁ pabbajitaṁ, muṇḍaṁ saṅghāṭipārutaṁ.
My family, why do you urge me on to pleasures, as if you were my enemies? You know I’ve gone forth, shaven, wrapped in my outer robe.
Hỡi các quyến thuộc, sao lại thúc ép con vào dục lạc như kẻ thù vậy? Xin hãy biết con là người đã xuất gia, đầu đã cạo trọc, mình khoác y tăng-già-lê.
Uttiṭṭhapiṇḍo uñcho ca, paṁsukūlañca cīvaraṁ; Etaṁ kho mama sāruppaṁ, anagārūpanissayo.
Leftovers as gleanings, and cast-off rags as robes—that’s what’s fitting for me, the essentials of the homeless life.
Vật thực khất thực, lượm lặt, và y phấn tảo; những thứ này thực sự thích hợp với con, là những vật dụng của người không nhà.
Vantā mahesīhi kāmā, ye dibbā ye ca mānusā; Khemaṭṭhāne vimuttā te, pattā te acalaṁ sukhaṁ.
Great seers expel sensual pleasures, both human and heavenly. Safe in their sanctuary, they are freed, having found unshakable happiness.
Các dục lạc, dù ở cõi trời hay cõi người, đã được các bậc Đại sĩ từ bỏ; các vị ấy đã giải thoát, ở nơi an ổn, đã đạt được hạnh phúc không lay chuyển.
Māhaṁ kāmehi saṅgacchiṁ, yesu tāṇaṁ na vijjati; Amittā vadhakā kāmā, aggikkhandhūpamā dukhā.
May I not encounter sensual pleasures, for no shelter is found in them. Sensual pleasures are enemies and killers, as painful as a mass of fire.
Mong rằng con không kết giao với các dục lạc, nơi không có sự bảo vệ; dục lạc là kẻ thù, là kẻ sát nhân, đau khổ, ví như một khối lửa.
Paripantho esa bhayo, savighāto sakaṇṭako; Gedho suvisamo ceso, mahanto mohanāmukho.
This is a roadblock, a threat, full of distress and thorns; it is a blind spot, uneven, a great gateway to confusion.
Đây là chướng ngại, là sự sợ hãi, có phiền não, có gai góc; đây là lòng tham, rất hiểm độc, là cửa ngõ lớn của si mê.
Upasaggo bhīmarūpo, kāmā sappasirūpamā; Ye bālā abhinandanti, andhabhūtā puthujjanā.
Hazardous and terrifying, sensual pleasures are like a cobra’s head, where fools delight, the blind ordinary folk.
Là tai ương, có hình tướng đáng sợ, dục lạc ví như đầu rắn; những kẻ phàm phu ngu si, mù quáng lại vui thích trong đó.
Kāmapaṅkena sattā hi, bahū loke aviddasū; Pariyantaṁ na jānanti, jātiyā maraṇassa ca.
Stuck in the swamp of sensuality, there are so many ignorant in the world. They know nothing of the end of rebirth and death.
Thật vậy, nhiều người trong thế gian, những kẻ thiếu trí tuệ, bị dính mắc trong vũng lầy dục lạc; họ không biết được sự chấm dứt của sinh và tử.
Duggatigamanaṁ maggaṁ, manussā kāmahetukaṁ; Bahuṁ ve paṭipajjanti, attano rogamāvahaṁ.
Because of sensual pleasures, people jump right on to the path <j>that goes to a bad place. So many walk the path that brings disease onto themselves.
Con người, vì nguyên nhân dục lạc, thực hành nhiều con đường dẫn đến khổ cảnh, mang lại bệnh tật cho chính mình.
Evaṁ amittajananā, tāpanā saṅkilesikā; Lokāmisā bandhanīyā, kāmā maraṇabandhanā.
That’s how sensual pleasures create enemies; they are so tormenting, so corrupting, trapping beings with worldly pleasures of the flesh, they are nothing less than the bonds of death.
Như vậy, dục lạc sinh ra kẻ thù, gây phiền não, làm ô nhiễm; là mồi nhử của thế gian, là sự trói buộc, là sự ràng buộc của cái chết.
Ummādanā ullapanā, kāmā cittappamaddino; Sattānaṁ saṅkilesāya, khippaṁ mārena oḍḍitaṁ.
Maddening, enticing, sensual pleasures derange the mind. For the corruption of beings, swiftly ensnared by Māra.
Dục lạc làm cho điên cuồng, làm cho khoe khoang, giày vò tâm trí; là cái bẫy do Ma vương giăng ra nhanh chóng để làm ô nhiễm chúng sinh.
Anantādīnavā kāmā, bahudukkhā mahāvisā; Appassādā raṇakarā, sukkapakkhavisosanā.
Sensual pleasures are infinitely dangerous, they’re full of suffering, a terrible poison; offering little gratification, they’re makers of strife, withering bright qualities away.
Dục lạc có vô số hiểm họa, nhiều đau khổ, là chất độc mạnh; ít vị ngọt, gây ra xung đột, làm khô héo phần thiện.
Sāhaṁ etādisaṁ katvā, byasanaṁ kāmahetukaṁ; Na taṁ paccāgamissāmi, nibbānābhiratā sadā.
Since I’ve created so much ruination because of sensual pleasures, I will not relapse to them again, but will always delight in extinguishment.
Biết được tai họa như vậy do dục lạc gây ra, con sẽ không quay trở lại với nó nữa, luôn luôn hoan hỷ trong Niết-bàn.
Raṇaṁ karitvā kāmānaṁ, sītibhāvābhikaṅkhinī; Appamattā vihassāmi, sabbasaṁyojanakkhaye.
Having once made strife <j>for the sake of sensual pleasures, now I am longing for that cool state. I shall meditate diligently for the ending of all fetters.
Sau khi gây chiến với các dục lạc, mong cầu trạng thái thanh lương, con sẽ sống không phóng dật, hoan hỷ trong sự đoạn tận mọi kiết sử.
Asokaṁ virajaṁ khemaṁ, ariyaṭṭhaṅgikaṁ ujuṁ; Taṁ maggaṁ anugacchāmi, yena tiṇṇā mahesino”.
Sorrowless, stainless, secure—I follow that path, the straight noble eightfold way by which the seers have crossed over.”
Con đường không sầu muộn, không bụi bẩn, an ổn, Thánh đạo Tám ngành, thẳng tắp; con đi theo con đường ấy, con đường mà các bậc Đại sĩ đã vượt qua.
“Imaṁ passatha dhammaṭṭhaṁ, subhaṁ kammāradhītaraṁ; Anejaṁ upasampajja, rukkhamūlamhi jhāyati.
“Look at this: Subhā the smith’s daughter, standing firm in the teaching. She has entered the imperturbable state, meditating at the root of a tree.
Hãy nhìn Subhā này, con gái người thợ vàng, người đứng vững trong Pháp; đã đạt đến trạng thái bất động, nàng đang thiền định dưới gốc cây.
Ajjaṭṭhamī pabbajitā, saddhā saddhammasobhanā; Vinītuppalavaṇṇāya, tevijjā maccuhāyinī.
It’s just eight days since she went forth, the faithful one, grace of the true teaching. Guided by Uppalavaṇṇā, she is master of the three knowledges, <j>conqueror of death.
Hôm nay là ngày thứ tám kể từ khi nàng xuất gia, có đức tin, làm rạng rỡ Chánh pháp; được Uppalavaṇṇā huấn luyện, nàng là bậc Tam minh, đã vượt qua cái chết.
Sāyaṁ bhujissā anaṇā, bhikkhunī bhāvitindriyā; Sabbayogavisaṁyuttā, katakiccā anāsavā”.
This one is freed from slavery and debt, a nun with faculties developed. Unyoked from all yokes, she has completed the task <j>and is free of defilements.”
Vị tỳ-khưu-ni này đã được giải thoát, không còn nợ nần, các căn đã được tu tập; đã thoát ly khỏi mọi ách phược, đã làm xong việc cần làm, không còn lậu hoặc.
Taṁ sakko devasaṅghena, upasaṅkamma iddhiyā; Namassati bhūtapati, subhaṁ kammāradhītaranti.
Thus did Sakka, lord of all creatures, along with a host of gods, having come by their psychic powers, honor Subhā, the smith’s daughter.
Vua của các chúng sinh, Sakka, cùng với hội chúng chư thiên, đã dùng thần thông đến gần và đảnh lễ nàng Subhā, con gái người thợ vàng.
… Subhā kammāradhītā therī ….
… Trưởng lão ni Subhā, con gái người thợ vàng (đã thuyết những kệ ngôn này) …
Vīsatinipāto niṭṭhito.
Phẩm Hai Mươi Kệ đã chấm dứt.