- Therīgāthā 13.4
- Vīsatinipāta
Sundarītherīgāthā
“Petāni bhoti puttāni, khādamānā tuvaṁ pure; Tuvaṁ divā ca ratto ca, atīva paritappasi.
Bản dịch
Sundarītherīgāthā
BJT 312“‘Này bà quý mến, trước đây trong khi để cho các người con trai đã chết bị nhai ngấu nghiến (bởi loài thú), bà quả thật vô cùng buồn bực ban ngày lẫn ban đêm.
BJT 313Này nữ Bà-la-môn Vāseṭṭhī, hôm nay sau khi đã để cho tất cả một trăm người con trai bị nhai ngấu nghiến, vì lý do gì mà bà đây không buồn bực nhiều?’
BJT 314‘Này ông Bà-la-môn, nhiều trăm đứa con trai và nhiều trăm tập thể thân quyến của tôi và của ông trong thời quá khứ đã bị để cho nhai ngấu nghiến (bởi loài thú).
BJT 315Sau khi biết được lối thoát ra khỏi sự sống và sự chết, tôi đây không sầu muộn, không khóc lóc, và cũng đã không còn buồn bực nữa.’
BJT 316‘Này Vāseṭṭhī, bà nói lời như thế quả thật là phi thường! Sau khi biết Giáo Pháp của ai mà bà nói lời vững chãi như thế?’
BJT 317‘Này ông Bà-la-môn, đấng Toàn Giác ấy, ở cạnh thành phố Mithilā, đã thuyết giảng Giáo Pháp nhằm việc dứt bỏ tất cả khổ đau cho các sanh linh.
BJT 318Này ông Bà-la-môn, sau khi lắng nghe Giáo Pháp không có mầm mống tái sanh của vị A-la-hán ấy, tại nơi ấy, với Chánh Pháp đã được nhận thức, tôi đã xua tan nỗi sầu muộn về những đứa con trai.’
BJT 319‘Tôi đây cũng sẽ đi về phía thành phố Mithilā. Có lẽ đức Thế Tôn ấy có thể giúp cho tôi giải thoát khỏi tất cả khổ đau.’ Vị Bà-la-môn đã nhìn thấy đức Phật, bậc đã được hoàn toàn giải thoát, không còn mầm mống tái sanh.
BJT 320Đấng Hiền Trí, bậc đã đi đến bờ kia của khổ đau, đã thuyết giảng Giáo Pháp cho vị (Bà-la-môn) ấy về Khổ, về sự sanh lên của Khổ, về sự vượt qua Khổ, và về Thánh Đạo tám chi phần đưa đến sự yên lặng của Khổ.
BJT 321Tại nơi ấy, với Chánh Pháp đã được nhận thức, vị ấy đã tự mình thích thú với việc xuất gia. Sau ba đêm, Sujāta đã chạm đến ba Minh.
BJT 322‘Này người đánh xe, hãy đến. Ngươi hãy đi, hãy đưa cỗ xe này về. Hãy chúc bà Bà-la-môn được mạnh khỏe (và nói rằng): Giờ đây, ông Bà-la-môn đã xuất gia. Sau ba đêm, Sujāta đã chạm đến ba Minh.’
BJT 323Và sau đó, người đánh xe đã nhận lấy cỗ xe và một ngàn (đồng tiền) rồi đã chúc bà Bà-la-môn được mạnh khỏe (và nói rằng): ‘Giờ đây, ông Bà-la-môn đã xuất gia. Sau ba đêm, Sujāta đã chạm đến ba Minh.’
BJT 324‘Này người đánh xe, sau khi biết được ông Bà-la-môn có được ba Minh, tôi cho ông một bình bát đầy với cỗ xe đã thắng ngựa này, và luôn cả một ngàn (đồng tiền).’
BJT 325‘Thưa bà Bà-la-môn, hãy để cỗ xe đã thắng ngựa này và luôn cả một ngàn (đồng tiền) lại cho chính bà. Tôi cũng sẽ xuất gia trong sự chứng minh của bậc có trí tuệ cao quý.’
BJT 326‘Sau khi từ bỏ voi, bò, ngựa, ngọc ma-ni, nhẫn, và tài sản gia đình dồi dào này, cha của con đã xuất gia. Này Sundarī, là người nữ thừa tự của gia đình, con hãy thọ hưởng các của cải.’
BJT 327‘Sau khi từ bỏ voi, bò, ngựa, ngọc ma-ni, nhẫn, và tài sản gia đình đáng yêu này, cha của con đã xuất gia, bị khổ sở vì nỗi sầu muộn về đứa con trai. Con cũng sẽ xuất gia, bị khổ sở vì nỗi sầu muộn về người em trai.’
BJT 328‘Này Sundarī, mong rằng ý định ấy của con, điều mà con ước nguyện, được thành tựu. Đồ ăn do đã đứng (chờ đợi), sự khất thực, và y may bằng vải quăng bỏ, trong khi chịu đựng những điều ấy, con sẽ không còn lậu hoặc ở đời kế tiếp.’
BJT 329‘Thưa ni sư, trong khi con là cô ni tu tập sự, Thiên nhãn (của con) được trong sạch, con biết đời sống trước đây, nơi con đã sống trước đây.
BJT 330Thưa đấng tốt lành, thưa bậc chói sáng của hội chúng trưởng lão ni, ba Minh đã được (con) thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 331Thưa ni sư, hãy cho phép con; con muốn đi đến Sāvatthi. Con sẽ rống tiếng rống của sư tử trong sự chứng minh của đức Phật tối cao.’
BJT 332‘Này Sundarī, ngươi hãy nhìn xem bậc Đạo Sư có sắc màu vàng, có làn da màu vàng, bậc thuần phục những kẻ chưa được thuần phục, đấng Toàn Giác, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.
BJT 333Ngài hãy nhìn Sundarī đang đi đến, đã được hoàn toàn giải thoát, không còn mầm mống tái sanh, có sự luyến ái đã được xa lìa, không còn bị ràng buộc, có phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.’
BJT 334‘Bạch đấng Đại Hùng, sau khi rời khỏi Bārāṇasī, con đã đi đến để gặp Ngài. Nữ đệ tử Sundarī xin đảnh lễ hai bàn chân của Ngài.
BJT 335Ngài là đức Phật. Ngài là bậc Đạo Sư. Bạch đấng Bà-la-môn, con là người con gái chính thống của Ngài, đã được sanh ra từ miệng, có phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.’
BJT 336‘Này vị ni hiền thiện, cô đây có việc đã đi đến tốt đẹp, do đó cô có việc đã đi đến không xấu xa. Bởi vì những người đã được thuần phục đi đến như vậy, đã được đảnh lễ hai bàn chân của bậc Đạo Sư, có luyến ái đã được xa lìa, không bị ràng buộc, có phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.’”
Trưởng lão ni Sundarī đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Sundarī.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Petāni bhoti puttāni, khādamānā tuvaṁ pure; Tuvaṁ divā ca ratto ca, atīva paritappasi.
“Before, worthy lady, when feeding your departed children, you’d be racked with despair all day and all night.
“Này bà, trước kia, khi ăn thịt những đứa con đã chết của mình, bà đã vô cùng đau khổ, cả ngày lẫn đêm.”
Sājja sabbāni khāditvā, sataputtāni brāhmaṇī; Vāseṭṭhi kena vaṇṇena, na bāḷhaṁ paritappasi”.
Today, brahmin lady, you have fed all seven children. Vāseṭṭhī, how do you explain why you’re not so filled with despair?”
“Hôm nay, sau khi đã ăn thịt tất cả hàng trăm đứa con, hỡi nữ Bà-la-môn Vāseṭṭhi, vì lý do gì mà bà không còn đau khổ tột cùng nữa?”
“Bahūni puttasatāni, ñātisaṅghasatāni ca; Khāditāni atītaṁse, mama tuyhañca brāhmaṇa.
“Many hundreds of children, hundreds of family circles, both mine and yours, brahmin, have been fed in the past.
Này Bà-la-môn, trong quá khứ, cả ta và ông đã ăn thịt hàng trăm người con và hàng trăm hội chúng quyến thuộc.
Sāhaṁ nissaraṇaṁ ñatvā, jātiyā maraṇassa ca; Na socāmi na rodāmi, na cāpi paritappayiṁ”.
Having known the escape from rebirth and death I neither grieve nor lament, nor do I despair.”
Ta đây, sau khi đã biết được sự giải thoát khỏi sanh và tử, không còn sầu muộn, không còn khóc lóc, cũng chẳng còn phiền não.
“Abbhutaṁ vata vāseṭṭhi, vācaṁ bhāsasi edisiṁ; Kassa tvaṁ dhammamaññāya, giraṁ bhāsasi edisiṁ”.
“Wow, Vaseṭṭhī, the words you speak really are amazing! Whose teaching did you understand that you say these things?”
Này Vāseṭṭhi, thật là phi thường thay, lời nói mà bà đã thốt ra! Bà đã hiểu được giáo pháp của vị thầy nào mà lại nói ra lời lẽ như vậy?
“Esa brāhmaṇa sambuddho, nagaraṁ mithilaṁ pati; Sabbadukkhappahānāya, dhammaṁ desesi pāṇinaṁ.
“Brahmin, the Awakened One back at the city of Mithilā, teaches the Dhamma so that living creatures may abandon all suffering.
Này Bà-la-môn, vị Chánh Đẳng Giác kia, gần thành Mithilā, đang thuyết giảng Chánh pháp cho chúng sanh để đoạn tận mọi khổ đau.
Tassa brahme arahato, dhammaṁ sutvā nirūpadhiṁ; Tattha viññātasaddhammā, puttasokaṁ byapānudiṁ”.
After hearing the perfected one’s teaching, brahmin, which is free of all attachments, having understood the true teaching there, I’ve cast aside grief for children.”
Này Bà-la-môn, sau khi nghe Chánh pháp vô nhiễm của bậc A-la-hán ấy, tại nơi ngài, tôi đã liễu tri Chánh pháp và đã trừ diệt được nỗi sầu muộn về con.
“So ahampi gamissāmi, nagaraṁ mithilaṁ pati; Appeva maṁ so bhagavā, sabbadukkhā pamocaye”.
“I too shall go to the city of Mithilā. Hopefully the Buddha may release me from all suffering.”
Ta đây cũng sẽ đi đến thành Mithilā. Biết đâu Đức Thế Tôn ấy có thể giải thoát cho ta khỏi mọi khổ đau.
Addasa brāhmaṇo buddhaṁ, vippamuttaṁ nirūpadhiṁ; Svassa dhammamadesesi, muni dukkhassa pāragū.
The brahmin saw the Buddha, liberated, free of attachments. He taught him the Dhamma, the sage gone beyond suffering:
Vị Bà-la-môn đã thấy Đức Phật, bậc đã giải thoát, không còn phiền não. Bậc Mâu-ni, người đã đến bờ kia của khổ, đã thuyết pháp cho vị ấy.
Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ, dukkhassa ca atikkamaṁ; Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ, dukkhūpasamagāminaṁ.
suffering, suffering’s origin, suffering’s transcendence, and the noble eightfold path that leads to the stilling of suffering.
(Ngài đã thuyết giảng về) Khổ, sự sanh khởi của Khổ, sự vượt qua Khổ, và Thánh đạo Tám ngành đưa đến sự chấm dứt Khổ.
Tattha viññātasaddhammo, pabbajjaṁ samarocayi; Sujāto tīhi rattīhi, tisso vijjā aphassayi.
Having understood the true teaching there, he chose to go forth. Three days later Sujāta realized the three knowledges.
Tại đó, sau khi liễu tri Chánh pháp, Sujāto đã xin xuất gia. Trong ba đêm, vị ấy đã chứng đắc Tam minh.
“Ehi sārathi gacchāhi, rathaṁ niyyādayāhimaṁ; Ārogyaṁ brāhmaṇiṁ vajja,
“Please, charioteer, go; take back this carriage. Bidding my brahmin lady good health, say:
Này người đánh xe, hãy lại đây, ngươi hãy đi, hãy giao lại cỗ xe này. Hãy báo tin ta được an lành cho bà-la-môn-nữ, rằng: 'Vị Bà-la-môn nay đã xuất gia; Sujāto trong ba đêm đã chứng đắc Tam minh'.
Tato ca rathamādāya, sahassañcāpi sārathi; Ārogyaṁ brāhmaṇiṁvoca, “pabbaji dāni brāhmaṇo; Sujāto tīhi rattīhi, tisso vijjā aphassayi”.
Then taking the carriage, along with a thousand coins, the charioteer bade the brahmin lady good health, and said: “The brahmin has now gone forth. After three days, Sujāta realized the three knowledges.”
Khi ấy, người đánh xe mang theo cỗ xe và một ngàn (đồng tiền), đã báo tin an lành cho bà-la-môn-nữ: 'Vị Bà-la-môn nay đã xuất gia; Sujāto trong ba đêm đã chứng đắc Tam minh'.
“Etañcāhaṁ assarathaṁ, sahassañcāpi sārathi; Tevijjaṁ brāhmaṇaṁ sutvā, puṇṇapattaṁ dadāmi te”.
Hearing that the brahmin had the three knowledges, <j>the lady replied: “I present to you this horse and carriage, O charioteer, along with 1000 coins, and a full bowl as a gift.”
Này người đánh xe, cỗ xe ngựa này và một ngàn (đồng tiền) này, ta xin tặng cho ngươi như một món quà xứng đáng, vì đã nghe tin vị Bà-la-môn đã chứng Tam minh.
“Tuyheva hotvassaratho, sahassañcāpi brāhmaṇi; Ahampi pabbajissāmi, varapaññassa santike”.
“Keep the horse and carriage, lady, along with the thousand coins. I too shall go forth in his presence, the one of such outstanding wisdom.”
Thưa bà-la-môn-nữ, cỗ xe ngựa và một ngàn (đồng tiền) này xin cứ thuộc về bà. Tôi cũng sẽ xuất gia nơi bậc có trí tuệ tối thượng.
“Hatthī gavassaṁ maṇikuṇḍalañca, Phītañcimaṁ gahavibhavaṁ pahāya; Pitā pabbajito tuyhaṁ, Bhuñja bhogāni sundarī; Tuvaṁ dāyādikā kule”.
“Elephants, cattle, jeweled earrings, such opulent domestic worth: having given it up, your father went forth, enjoy these riches Sundarī, you are the family heir.”
Voi, bò, ngựa, ngọc và hoa tai, cùng với gia sản sung túc này, cha con đã từ bỏ để xuất gia. Này Sundarī, con hãy hưởng thụ tài sản, con là người thừa kế trong gia tộc.
“Hatthī gavassaṁ maṇikuṇḍalañca, Rammaṁ cimaṁ gahavibhavaṁ pahāya; Pitā pabbajito mayhaṁ, Puttasokena aṭṭito;
“Elephants, cattle, jeweled earrings, such delightful domestic worth: having given it up, my father went forth, racked by grief for his son.
Voi, bò, ngựa, ngọc và hoa tai, cùng với gia sản đáng ưa thích này, cha con đã từ bỏ để xuất gia, vì bị dằn vặt bởi nỗi sầu muộn về con trai.
Con cũng sẽ xuất gia, vì bị dằn vặt bởi nỗi sầu muộn về em trai.
“So te ijjhatu saṅkappo, yaṁ tvaṁ patthesi sundarī; Uttiṭṭhapiṇḍo uñcho ca, paṁsukūlañca cīvaraṁ; Etāni abhisambhontī, paraloke anāsavā”.
“Sundarī, may the wish you desire come true. Leftovers as gleanings, and cast-off rags as robes—make do with these, free of defilements regarding the next life.”
Này Sundarī, nguyện cho ý nguyện mà con mong mỏi được thành tựu. Với vật thực khất thực, việc lượm lặt, và y phấn tảo, nguyện cho con có thể thành tựu những điều này, và sống không còn lậu hoặc trong đời sau.
“Sikkhamānāya me ayye, dibbacakkhu visodhitaṁ; Pubbenivāsaṁ jānāmi, yattha me vusitaṁ pure.
“Ma’am, while I am still a trainee nun, my clairvoyance is clarified; I know my past lives, the places I used to live.
Thưa Tôn sư, khi con còn là một học nữ, thiên nhãn của con đã được thanh lọc. Con biết được các kiếp quá khứ, nơi con đã từng sống trước đây.
Tuvaṁ nissāya kalyāṇi, theri saṅghassa sobhane; Tisso vijjā anuppattā, kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Relying on a fine lady like you, a senior nun who graces the Saṅgha, I’ve attained the three knowledges, and fulfilled the Buddha’s instructions.
Nhờ nương tựa vào ngài, hỡi bậc thiện hữu, bậc Trưởng lão ni trang nghiêm của Tăng đoàn, con đã chứng đắc Tam minh, giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành.
Anujānāhi me ayye, icche sāvatthi gantave; Sīhanādaṁ nadissāmi, buddhaseṭṭhassa santike”.
Give me permission ma’am, I wish to go to Sāvatthī, where I shall roar my lion’s roar before the best of Buddhas.”
Thưa Tôn sư, xin hãy cho phép con, con muốn đi đến Sāvatthī. Con sẽ cất lên tiếng rống của sư tử nơi Đức Phật tối thượng.
“Passa sundari satthāraṁ, hemavaṇṇaṁ harittacaṁ; Adantānaṁ dametāraṁ, sambuddhamakutobhayaṁ”.
“Sundarī, see the Teacher! Snow gold in tint, <j>with sun-golden skin; tamer of the untamed, the Awakened One who fears nothing <j>from any quarter.”
Này Sundarī, hãy đến chiêm ngưỡng Bậc Đạo Sư, người có màu sắc như vàng, làn da óng ánh, bậc điều ngự những ai chưa được điều phục, bậc Chánh Đẳng Giác, không còn sợ hãi từ bất cứ đâu.
“Passa sundarimāyantiṁ, vippamuttaṁ nirūpadhiṁ; Vītarāgaṁ visaṁyuttaṁ, katakiccamanāsavaṁ.
“See Sundarī coming, liberated, free of attachments. desireless, detached, her task completed, without defilements.”
Xin hãy nhìn Sundarī đang đến, người đã hoàn toàn giải thoát, không còn phiền não, đã ly tham, đã thoát ly các trói buộc, đã làm xong việc cần làm, đã không còn lậu hoặc.
Bārāṇasito nikkhamma, tava santikamāgatā; Sāvikā te mahāvīra, pāde vandati sundarī.
“Having set forth from Varanasi and come to your presence, great hero, your disciple Sundarī bows at your feet.
Rời khỏi Bārāṇasī, con đã đến nơi ngài. Thưa bậc Đại Hùng, đệ tử của ngài, Sundarī, xin đảnh lễ dưới chân ngài.
Tuvaṁ buddho tuvaṁ satthā, tuyhaṁ dhītāmhi brāhmaṇa; Orasā mukhato jātā, katakiccā anāsavā”.
You are the Buddha, you are the Teacher, I am your bosom daughter, brahmin, born of your mouth. I’ve completed the task <j>and am free of defilements.”
Ngài là Phật, ngài là Đạo Sư, thưa bậc Phạm hạnh. Con là con gái của ngài, sanh từ ngực, sanh từ miệng ngài, đã làm xong việc cần làm, không còn lậu hoặc.
“Tassā te svāgataṁ bhadde, tato te adurāgataṁ; Evañhi dantā āyanti, satthu pādāni vandikā; Vītarāgā visaṁyuttā, katakiccā anāsavā”.
“Then welcome, good lady, you’re by no means unwelcome. For this is how the tamed come bowing at the Teacher’s feet; desireless, detached, the task completed, without defilements.”
Này hiền nữ, con đến thật là tốt lành, con đến đây không có lỗi lầm. Cũng vậy, những vị đã được điều phục, ly tham, thoát ly trói buộc, đã làm xong việc cần làm, không còn lậu hoặc, đến để đảnh lễ dưới chân Bậc Đạo Sư.
… Sundarī therī ….
… Trưởng lão ni Sundarī (đã thuyết những kệ ngôn này) …