- Therīgāthā 13.3
- Vīsatinipāta
Cāpātherīgāthā
“Laṭṭhihattho pure āsi, so dāni migaluddako; Āsāya palipā ghorā, nāsakkhi pārametave.
Bản dịch
Cāpātherīgāthā
BJT 291“‘Trước đây, người ấy đã là vị (đạo sĩ) có gậy ở bàn tay. Bây giờ, người ấy là thợ săn thú rừng. Vì tham ái, người ấy đã không thể đi đến bờ kia từ đầm lầy ghê rợn.
BJT 292Trong khi nghĩ rằng tôi là vô cùng cởi mở, Cāpā đã chọc giỡn đứa con trai. Sau khi cắt đứt sự trói buộc của Cāpā, tôi sẽ xuất gia lại lần nữa.’
BJT 293‘Ôi vị đại anh hùng, xin chàng chớ giận thiếp! Ôi vị đại hiền trí, xin chàng chớ giận thiếp! Bởi vì sự thanh tịnh không có cho người bị sự giận dữ chế ngự, từ đâu mà có được sự khổ hạnh?’
BJT 294‘Tôi sẽ rời khỏi Nālā. Ai sẽ sống ở nơi đây, tại Nālā, trong khi cô, với sắc đẹp nữ nhân, trói buộc các Sa-môn có cuộc sống theo Giáo Pháp?’
BJT 295‘Chàng Kāḷa ơi, chàng hãy đến, chàng hãy quay về, chàng hãy thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây. Thiếp và những người nào là thân quyến của thiếp sẽ chịu sự sai khiến của chàng.’
BJT 296‘Chỉ cần một phần tư của điều ấy, giống như lời nàng nói với ta, điều ấy quả thật là quý hóa cho người đàn ông đã say đắm nàng.’
BJT 297‘Chàng Kāḷa ơi, (thiếp) tựa như chồi non của cây takkārī đã được đơm hoa ở trên đỉnh núi, tựa như giống dây leo dāḷima đã được nở rộ hoa, tựa như cây hoa kèn ở bên trong hòn đảo.
BJT 298(Thiếp) có tay chân được bôi trầm hương màu vàng, mặc loại vải Kāsī thượng hạng, trong khi thiếp đây đang có sắc đẹp, bởi vì ai chàng nỡ bỏ thiếp ra đi?’
BJT 299‘Giống y như người thợ bẫy chim muốn bắt con chim, nàng muốn trói buộc ta bằng sắc đẹp hấp dẫn. Nàng sẽ không cám dỗ được ta.’
BJT 300‘Chàng Kāḷa ơi, còn kết quả đứa con trai này của thiếp là do chàng đã tạo ra. Trong khi thiếp đây có con trai, bởi vì ai chàng nỡ bỏ thiếp ra đi?’
BJT 301‘Các bậc có trí tuệ lìa bỏ những đứa con trai, rồi các thân quyến, sau đến tài sản. Các bậc đại anh hùng xuất gia, tựa như con voi đã ra đi sau khi giật đứt sự trói buộc.’
BJT 302‘Giờ đây, bằng cây gậy hoặc bằng con dao, thiếp có thể làm đứa con trai này của chàng té ngã ở trên mặt đất. Vì sự lo âu cho con trai, chàng không ra đi.’
BJT 303‘Này cô nàng tồi tệ, nếu nàng cho đứa con trai đến những con chó rừng, đến những con chó hoang, do việc đã làm đối với đứa con trai, nàng cũng sẽ không làm cho ta quay trở lại.’
BJT 304‘Đã thế thì thưa bậc đạo hạnh, giờ đây thì hãy như vậy đi. Này chàng Kāḷa, chàng sẽ đi đâu? Làng mạc, thị trấn , thành phố , các kinh đô nào?’
BJT 305‘Trước đây, bọn ta đã có đồ chúng, không phải là các Sa-môn, nhưng nghĩ là Sa-môn. Bọn ta đã lang thang từ làng này đến làng khác, đến các thành phố, đến các kinh đô.
BJT 306Bởi vì đức Phật Thế Tôn ấy, ở cạnh dòng sông Nerañjarā, thuyết giảng Giáo Pháp nhằm việc dứt bỏ tất cả khổ đau cho các sanh linh. Ta sẽ đi đến gặp vị ấy; vị ấy sẽ là bậc Đạo Sư của ta.’
BJT 307‘Chàng nên thuật lại với đấng Bảo Hộ Thế Gian vô thượng về sự kính lễ bây giờ (của thiếp), và sau khi đã hướng bên phải nhiễu quanh, chàng nên trình lên vật cúng dường (của thiếp).’
BJT 308‘Điều ấy quả là khả dĩ đối với bọn ta, giống như lời nàng nói với ta. Ta sẽ thuật lại với đấng Bảo Hộ Thế Gian vô thượng về sự kính lễ bây giờ (của nàng), và sau khi đã hướng bên phải nhiễu quanh, ta sẽ trình lên vật cúng dường (của nàng).’
BJT 309Ngay sau đó, Kāḷa ra đi về phía dòng sông Nerañjarā. Vị ấy đã nhìn thấy đấng Toàn Giác đang thuyết giảng về vị thế Bất Tử, …
BJT 310… về Khổ, về sự sanh lên của Khổ, về sự vượt qua Khổ, và về Thánh Đạo tám chi phần đưa đến sự yên lặng của Khổ.
BJT 311Sau khi đảnh lễ hai bàn chân của Ngài, sau khi hướng bên phải nhiễu quanh Ngài, sau khi trình lên (vật cúng dường) của Cāpā, vị ấy đã xuất gia sống đời không nhà. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Trưởng lão ni Cāpā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Cāpā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Laṭṭhihattho pure āsi, so dāni migaluddako; Āsāya palipā ghorā, nāsakkhi pārametave.
“Once I carried a hermit’s staff, but these days I hunt deer. My desires have made me unable to cross from the awful marsh to the far shore.
“Trước kia, chàng là người tay cầm gậy, nay chàng là thợ săn. Vì tham ái, vũng lầy ghê gớm, chàng đã không thể vượt qua bờ bên kia.”
Sumattaṁ maṁ maññamānā, cāpā puttamatosayi; Cāpāya bandhanaṁ chetvā, pabbajissaṁ punopahaṁ”.
Thinking me so in love with her, Cāpā kept our son happy. Having cut Cāpā’s bond, I’ll go forth once again.”
“Nghĩ rằng ta say đắm nàng, Cāpā đã dỗ dành con trai. Ta sẽ cắt đứt sự trói buộc của Cāpā, và một lần nữa ta sẽ xuất gia.”
“Mā me kujjhi mahāvīra, mā me kujjhi mahāmuni; Na hi kodhaparetassa, suddhi atthi kuto tapo”.
“Don’t be mad at me, great hero! Don’t be mad at me, great sage! If you’re mired in anger you can’t stay pure, let alone be fervent.”
“Xin đừng giận con, hỡi bậc Đại Hùng! Xin đừng giận con, hỡi bậc Đại Mâu-ni! Vì người bị sân hận chi phối, làm gì có sự thanh tịnh, huống chi là khổ hạnh.”
“Pakkamissañca nāḷāto, kodha nāḷāya vacchati; Bandhantī itthirūpena, samaṇe dhammajīvino”.
“I’m going to leave Nālā! For who’d stay here at Nālā! With their figures, the women trap ascetics who live righteously.”
“Ta sẽ rời khỏi Nāḷā, ai sẽ ở lại Nāḷā đây? Nàng dùng sắc đẹp nữ nhân để trói buộc các sa-môn sống đúng Chánh pháp.”
“Ehi kāḷa nivattassu, bhuñja kāme yathā pure; Ahañca te vasīkatā, ye ca me santi ñātakā”.
“Please, Kāḷa, come back to me. Enjoy pleasures like you did before. I’ll be under your control, along with any relatives I have.”
“Hãy đến đây, Kāḷa, hãy quay lại! Hãy hưởng thụ các dục lạc như xưa. Cả em và những người thân của em đều sẽ phục tùng chàng.”
“Etto cāpe catubbhāgaṁ, yathā bhāsasi tvañca me; Tayi rattassa posassa, uḷāraṁ vata taṁ siyā”.
“Cāpā, if even a quarter of what you say were true, it would be a splendid thing for a man in love with you!”
“Này Cāpā, dù nàng có nói những lời ngọt ngào gấp bốn lần những gì nàng vừa nói với ta, điều đó quả thật là tuyệt vời đối với một người đàn ông còn tham đắm nàng.”
“Kāḷaṅginiṁva takkāriṁ, pupphitaṁ girimuddhani; Phullaṁ dālimalaṭṭhiṁva, antodīpeva pāṭaliṁ.
“Kāḷa, I am like a sprouting iris flowering on a mountain top, like a blossoming pomegranate, like a patala tree on an isle;
“Như cây Takkāri (Kāḷaṅginī) nở hoa trên đỉnh núi, như cây lựu trổ bông, như cây Pāṭali ở giữa đảo.”
Haricandanalittaṅgiṁ, kāsikuttamadhāriniṁ; Taṁ maṁ rūpavatiṁ santiṁ, kassa ohāya gacchasi”.
my limbs are anointed with yellow sandalwood, and I wear the finest Kāsi cloth: when I am so very beautiful, how can you abandon me and leave?”
“Thân em thoa đàn hương, mình mặc lụa Kāsī thượng hạng. Vì sao chàng lại từ bỏ em, người có sắc đẹp như vậy, để ra đi?”
“Sākuntikova sakuṇiṁ, yathā bandhitumicchati; Āharimena rūpena, na maṁ tvaṁ bādhayissasi”.
“You’re like a fowler who wants to catch a bird; but you won’t trap me with your costumed form.”
“Như người bẫy chim muốn bắt chim, nàng muốn trói buộc ta bằng sắc đẹp giả tạo. Nàng sẽ không còn làm phiền ta được nữa.”
“Imañca me puttaphalaṁ, kāḷa uppāditaṁ tayā; Taṁ maṁ puttavatiṁ santiṁ, kassa ohāya gacchasi”.
“But this child, my fruit, was begotten by you, Kāḷa. When I have this child, how can you abandon me and leave?”
“Hỡi Kāḷa, kết quả này là đứa con của em, do chàng tạo ra. Vì sao chàng lại từ bỏ em, người mẹ của con chàng, để ra đi?”
“Jahanti putte sappaññā, tato ñātī tato dhanaṁ; Pabbajanti mahāvīrā, nāgo chetvāva bandhanaṁ”.
“The wise give up children, family, and wealth. Great heroes go forth like elephants breaking their bonds.”
“Bậc trí tuệ từ bỏ con cái, rồi đến thân quyến, rồi đến tài sản. Các bậc Đại Hùng xuất gia, như voi chúa phá tung xiềng xích.”
“Idāni te imaṁ puttaṁ, Daṇḍena churikāya vā; Bhūmiyaṁ vā nisumbhissaṁ, Puttasokā na gacchasi”.
“Now, this son of yours: I’ll strike him to the ground right here, with a stick or with a knife! Grieving your son, you will not leave.”
“Bây giờ, em sẽ dùng gậy hoặc dao găm, đánh đập đứa con này của chàng, hoặc ném nó xuống đất. Vì sầu muộn cho con, chàng sẽ không đi nữa.”
“Sace puttaṁ siṅgālānaṁ, kukkurānaṁ padāhisi; Na maṁ puttakatte jammi, punarāvattayissasi”.
“Even if you feed our son to jackals and dogs, I’d never return again, you bitch, not even for the child’s sake.”
“Hỡi người đàn bà xấu xa, dù nàng có ném con cho chó rừng và chó nhà, nàng cũng không thể vì cớ đứa con mà khiến ta quay trở lại.”
“Handa kho dāni bhaddante, kuhiṁ kāḷa gamissasi; Katamaṁ gāmanigamaṁ, nagaraṁ rājadhāniyo”.
“Well then, sir, tell me, where will you go, Kāḷa? To what village or town, city or capital?”
“Vậy bây giờ, thưa ngài Kāḷa khả kính, ngài sẽ đi đâu? Đến làng nào, thị trấn nào, thành phố hay kinh đô nào?”
“Ahumha pubbe gaṇino, Assamaṇā samaṇamānino; Gāmena gāmaṁ vicarimha, Nagare rājadhāniyo.
“Last time we had followers, we weren’t ascetics, we just thought we were. We wandered from village to village, to cities and capitals.
“Trước kia, chúng ta là những người đứng đầu giáo phái, không phải sa-môn nhưng tự cho mình là sa-môn. Chúng ta đã đi lang thang từ làng này sang làng khác, đến các thành phố và kinh đô.”
Eso hi bhagavā buddho, nadiṁ nerañjaraṁ pati; Sabbadukkhappahānāya, dhammaṁ deseti pāṇinaṁ; Tassāhaṁ santikaṁ gacchaṁ, so me satthā bhavissati”.
But now the Blessed One, the Buddha, back on the bank of the Nerañjara River, teaches the Dhamma so that living creatures may abandon all suffering. I shall go to his presence, he shall be my Teacher.”
“Kìa, đức Thế Tôn, bậc Giác Ngộ, bên bờ sông Nerañjarā, đang thuyết pháp cho chúng sinh để đoạn trừ mọi khổ đau. Ta sẽ đến gần Ngài, Ngài sẽ là Bậc Đạo Sư của ta.”
“Vandanaṁ dāni vajjāsi, lokanāthaṁ anuttaraṁ; Padakkhiṇañca katvāna, ādiseyyāsi dakkhiṇaṁ”.
“Now please convey my respects to the supreme protector of the world. Circling him to your right, dedicate my religious donation.”
“Bây giờ, xin chàng hãy thay em đảnh lễ bậc Lãnh đạo Thế gian, đấng Vô Thượng. Sau khi đi nhiễu quanh theo chiều phải, xin hãy hồi hướng phần phước cho em.”
“Etaṁ kho labbhamamhehi, yathā bhāsasi tvañca me; Vandanaṁ dāni te vajjaṁ, lokanāthaṁ anuttaraṁ; Padakkhiṇañca katvāna, ādisissāmi dakkhiṇaṁ”.
“This is the proper thing to do, just as you have said to me. I’ll convey your respects to the supreme protector of the world. Circling him to my right, I’ll dedicate your religious donation.”
“Điều này chúng ta có thể làm được, như nàng đã nói với ta. Bây giờ, ta sẽ thay nàng đảnh lễ bậc Lãnh đạo Thế gian, đấng Vô Thượng. Sau khi đi nhiễu quanh theo chiều phải, ta sẽ hồi hướng phần phước cho nàng.”
Tato ca kāḷo pakkāmi, nadiṁ nerañjaraṁ pati; So addasāsi sambuddhaṁ, desentaṁ amataṁ padaṁ.
Then Kāḷa set out back to the bank of the Nerañjara River. He saw the Awakened One teaching the state free of death:
Rồi Kāḷa ra đi, đến bờ sông Nerañjarā. Chàng đã thấy bậc Chánh Đẳng Giác đang thuyết giảng về trạng thái bất tử.
Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ, dukkhassa ca atikkamaṁ; Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ, dukkhūpasamagāminaṁ.
suffering, suffering’s origin, suffering’s transcendence, and the noble eightfold path that leads to the stilling of suffering.
(Ngài thuyết về) Khổ, sự tập khởi của Khổ, sự vượt qua Khổ, và Bát Chánh Đạo, con đường đưa đến sự chấm dứt Khổ.
Tassa pādāni vanditvā, Katvāna naṁ padakkhiṇaṁ; Cāpāya ādisitvāna, Pabbajiṁ anagāriyaṁ; Tisso vijjā anuppattā, Kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
… Cāpā therī ….
He paid homage at his feet, circling him to his right, and conveyed Cāpā’s dedication; then he went forth to homelessness. He attained the three knowledges, and fulfilled the Buddha’s instructions.
Đảnh lễ dưới chân Ngài, và đi nhiễu quanh theo chiều phải, sau khi hồi hướng phước cho Cāpā, ta đã xuất gia vào đời sống không nhà. Ba minh đã được chứng đắc, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.