- Theragāthā 7.3
- Sattakanipāta
- Paṭhamavagga
Bhaddattheragāthā
“Ekaputto ahaṁ āsiṁ, piyo mātu piyo pitu; Bahūhi vatacariyāhi, laddho āyācanāhi ca.
Bản dịch
Bhaddattheragāthā
BJT 473“Tôi đã là con trai độc nhất, được mẹ yêu, được cha yêu. Do nhiều sự thực hành về phận sự và nhiều lần cầu khấn mà tôi được sanh ra.
BJT 474Và họ, vì lòng thương tưởng đến tôi, có ước muốn về sự tốt đẹp, có sự tầm cầu về lợi ích, cả hai, người cha và người mẹ, đã đưa tôi đến đức Phật.
BJT 475‘Người con trai này được sanh ra một cách khó nhọc, mảnh mai, khéo được nuôi dưỡng. Thưa đấng Bảo Hộ, chúng tôi xin dâng đến ngài đứa bé này để làm người phục vụ cho đấng Chiến Thắng.’
BJT 476Và bậc Đạo Sư, sau khi tiếp nhận tôi, đã nói với vị Ānanda điều này: ‘Hãy mau chóng xuất gia cho đứa bé này. Trẻ này sẽ là thuần chủng.’
BJT 477Sau khi đã cho tôi xuất gia, bậc Đạo Sư, đấng Chiến Thắng, đã đi vào trú xá. Sau đó, khi mặt trời còn chưa lặn xuống, tâm của tôi đã được giải thoát.
BJT 478Kế đó, đức Thế Tôn, sau khi hoàn tất (việc thể nhập), đã xuất khỏi thiền tịnh. Ngài đã nói với tôi rằng: ‘Này Bhadda, hãy đến;’ việc ấy đã là sự tu lên bậc trên của tôi.
BJT 479Việc tu lên bậc trên đã đạt được bởi tôi vào năm bảy tuổi kể từ lúc sanh, ba Minh đã được thành tựu, ôi bản chất tốt đẹp của Giáo Pháp!”
Đại đức trưởng lão Bhadda đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Bhadda.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Ekaputto ahaṁ āsiṁ, piyo mātu piyo pitu; Bahūhi vatacariyāhi, laddho āyācanāhi ca.
I was an only child, loved by my mother and father. They had me by practicing many supplications and observances.
Ta đã là người con trai duy nhất, được mẹ thương, được cha quý; được sinh ra nhờ nhiều hạnh nguyện và cả những lời cầu xin.
Te ca maṁ anukampāya, atthakāmā hitesino; Ubho pitā ca mātā ca, buddhassa upanāmayuṁ.
Out of sympathy for me wishing me well and wanting the best for me, my mother and father took me to see the Buddha.
Và hai vị ấy, vì lòng thương tưởng, mong cầu lợi ích và phúc lợi cho ta; cả cha và mẹ, đã dẫn dắt ta đến với Đức Phật.
‘Kicchā laddho ayaṁ putto, sukhumālo sukhedhito; Imaṁ dadāma te nātha, jinassa paricārakaṁ’.
“We had this son with difficulty; he is delicate and pampered. We offer him to you, Lord, to attend upon the victor.”
‘Đứa con này, có được một cách khó khăn, thật thanh tú, được nuôi dưỡng trong an lạc. Thưa Ngài, bậc Lãnh Đạo, chúng con xin dâng đứa trẻ này làm người phục vụ cho Đấng Chiến Thắng.’
Satthā ca maṁ paṭiggayha, ānandaṁ etadabravi; ‘Pabbājehi imaṁ khippaṁ, hessatyājāniyo ayaṁ’.
The teacher, having accepted me, declared to Ānanda: “Quickly give him the going-forth—this one will be a thoroughbred!”
Và bậc Đạo Sư, sau khi tiếp nhận ta, đã nói điều này với ngài Ānanda: ‘Hãy mau cho đứa trẻ này xuất gia. Người này sẽ trở thành bậc hảo hán (Ājāniya).’
Pabbājetvāna maṁ satthā, vihāraṁ pāvisī jino; Anoggatasmiṁ sūriyasmiṁ, tato cittaṁ vimucci me.
After he, the Teacher, had sent me forth, the victor entered his dwelling. Before the sun set my mind was freed.
Sau khi cho ta xuất gia, bậc Đạo Sư, Đấng Chiến Thắng, đã đi vào tịnh xá. Khi mặt trời chưa lặn, ngay sau đó, tâm của ta đã được giải thoát.
Tato satthā nirākatvā, paṭisallānavuṭṭhito; ‘Ehi bhaddā’ti maṁ āha, sā me āsūpasampadā.
Consequently, the Teacher didn’t neglect me; when he came out from seclusion, he said: “Come Bhadda!” That was my ordination.
Sau đó, bậc Đạo Sư, sau khi hoàn tất (việc riêng) và ra khỏi nơi độc cư, đã nói với ta: ‘Hãy đến đây, Bhadda.’ Đó chính là lễ cụ túc của ta.
Jātiyā sattavassena, laddhā me upasampadā; Tisso vijjā anuppattā, aho dhammasudhammatā”ti.
… Bhaddo thero ….
At seven years old I received ordination. I’ve attained the three knowledges; oh, the clear rightness of the teaching!
Vào năm bảy tuổi, ta đã được nhận lễ cụ túc. Ba minh đã được ta chứng đạt. Ôi, thật là diệu pháp của Chánh Pháp!