- Theragāthā 6.4
- Chakkanipāta
- Paṭhamavagga
Kullattheragāthā
“Kullo sivathikaṁ gantvā, addasa itthimujjhitaṁ; Apaviddhaṁ susānasmiṁ, khajjantiṁ kimihī phuṭaṁ.
Āturaṁ asuciṁ pūtiṁ, passa kulla samussayaṁ; Uggharantaṁ paggharantaṁ, bālānaṁ abhinanditaṁ.
Bản dịch
Kullattheragāthā
BJT 393“Sau khi đi đến bãi tha ma, Kulla tôi đã nhìn thấy (thây) người phụ nữ bị liệng bỏ, bị quăng ở nghĩa địa, đang bị gặm nhấm, lúc nhúc những dòi.
BJT 394Này Kulla, ngươi hãy nhìn thấy xác thân là bệnh hoạn, không trong sạch, hôi thối, đang tiết ra, đang rò rỉ, được những kẻ ngu thích thú.
BJT 395Sau khi cầm lấy cái gương soi Giáo Pháp, nhằm đạt được trí tuệ và sự hiểu biết, tôi đã quán xét thân này là rỗng không bên trong lẫn bên ngoài.
BJT 396Thân này thế nào, thân kia thế ấy; thân kia thế nào, thân này thế ấy. Phần dưới thế nào, phần trên thế ấy; phần trên thế nào, phần dưới thế ấy.
BJT 397Ban ngày thế nào, ban đêm thế ấy; ban đêm thế nào, ban ngày thế ấy. Trước đây thế nào, sau này thế ấy; sau này thế nào, trước đây thế ấy.
BJT 398Sự thích thú đối với nhạc cụ gồm năm loại là không được giống như (sự thích thú) của vị có tâm chuyên nhất đang nhìn thấy rõ Giáo Pháp một cách đúng đắn.”
Đại đức trưởng lão Kulla đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Kulla.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Kullo sivathikaṁ gantvā, addasa itthimujjhitaṁ; Apaviddhaṁ susānasmiṁ, khajjantiṁ kimihī phuṭaṁ.
Āturaṁ asuciṁ pūtiṁ, passa kulla samussayaṁ; Uggharantaṁ paggharantaṁ, bālānaṁ abhinanditaṁ.
I, Kulla, went to a charnel ground and saw a woman’s body abandoned there, dumped in a cemetery, full of worms that devoured.
“See this bag of bones, Kulla—diseased, filthy, rotten, oozing and trickling, a fool’s delight.”
“Này Kulla, hãy nhìn xem thân thể này, bệnh hoạn, không trong sạch, hôi thối; đang rỉ ra, đang chảy ra, được những kẻ ngu ưa thích.”
Dhammādāsaṁ gahetvāna, ñāṇadassanapattiyā; Paccavekkhiṁ imaṁ kāyaṁ, tucchaṁ santarabāhiraṁ.
Taking the teaching as a mirror for realizing knowledge and vision, I examined this body, hollow, inside and out.
“Sau khi đã lấy tấm gương Pháp, để đạt được tri kiến, ta đã quán xét thân này, trống rỗng ở bên trong và bên ngoài.”
Yathā idaṁ tathā etaṁ, yathā etaṁ tathā idaṁ; Yathā adho tathā uddhaṁ, yathā uddhaṁ tathā adho.
As this is, so is that; as that is, so is this. As below, so above; as above, so below.
“Như thế này, cũng như thế kia; như thế kia, cũng như thế này. Như ở bên dưới, cũng như ở bên trên; như ở bên trên, cũng như ở bên dưới.”
Yathā divā tathā rattiṁ, yathā rattiṁ tathā divā; Yathā pure tathā pacchā, yathā pacchā tathā pure.
As by day, so by night; as by night, so by day. As before, so behind; as behind, so before.
“Như vào ban ngày, cũng như vào ban đêm; như vào ban đêm, cũng như vào ban ngày. Như trước đây, cũng như sau này; như sau này, cũng như trước đây.”
Pañcaṅgikena turiyena, Na ratī hoti tādisī; Yathā ekaggacittassa, Sammā dhammaṁ vipassato”ti.
… Kullo thero ….
Even the music of a five-piece band can never give such pleasure as when, with unified mind, you rightly discern the Dhamma.
“Với dàn nhạc năm loại, không có được sự hoan hỷ giống như là sự hoan hỷ của người có tâm nhất điểm, đang quán thấy các pháp một cách chân chánh.”