- Theragāthā 6.5
- Chakkanipāta
- Paṭhamavagga
Mālukyaputtattheragāthā
“Manujassa pamattacārino, Taṇhā vaḍḍhati māluvā viya; So plavatī hurā huraṁ, Phalamicchaṁva vanasmi vānaro.
Bản dịch
Mālukyaputtattheragāthā
BJT 399“Đối với người có thói quen xao lãng, tham ái tăng trưởng tựa như giống dây chùm gởi, kẻ ấy trôi nổi từ đời này sang đời khác, tựa như con khỉ ở trong rừng đang muốn trái cây.
BJT 400Tham ái hạ liệt ấy, sự quyến luyến ở thế gian, chế ngự kẻ nào, các sầu muộn phát khởi nơi kẻ ấy, tựa như giống cỏ bīraṇa được đổ mưa.
BJT 401Và người nào chế ngự tham ái hạ liệt ấy, là việc khó vượt qua ở trên đời, các sầu muộn rơi khỏi vị ấy, tựa như giọt nước trượt khỏi lá sen.
BJT 402Tôi nói với quý vị về điều tốt đẹp ấy, cho đến hết thảy quý vị đã tụ hội ở đây. Quý vị hãy đào bới gốc rễ của tham ái, tựa như người cần rễ cỏ usīra đào bới cỏ bīraṇa. Chớ để Ma Vương còn tiếp tục bẻ gãy quý vị, tựa như chính dòng nước đã bẻ gãy cây sậy.
BJT 403Quý vị hãy thực hành lời dạy của đức Phật, chớ để thời khắc của quý vị trôi qua, bởi vì những kẻ đã để thời khắc trôi qua bị sầu muộn khi bị đưa vào trong địa ngục.
BJT 404Sự xao lãng luôn luôn là ô nhiễm, ô nhiễm được trỗi dậy do xao lãng, nhờ vào sự không xao lãng và sự hiểu biết, quý vị nên nhổ lên mũi tên của chính mình.”
Đại đức trưởng lão Māluṅkyaputta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Māluṅkyaputta.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Manujassa pamattacārino, Taṇhā vaḍḍhati māluvā viya; So plavatī hurā huraṁ, Phalamicchaṁva vanasmi vānaro.
When a man lives heedlessly, craving grows in them like a camel’s foot creeper. They jump from one thing to the next, like a langur greedy for fruit in a forest grove.
Đối với người sống dể duôi, ái dục tăng trưởng như dây leo māluvā; người ấy cứ phiêu dạt từ đời này sang đời khác, như con khỉ trong rừng nhảy tìm trái cây.
Yaṁ esā sahate jammī, taṇhā loke visattikā; Sokā tassa pavaḍḍhanti, abhivaṭṭhaṁva bīraṇaṁ.
Whoever is beaten by this wretched craving, this attachment to the world, their sorrow grows, like grass in the rain.
Kẻ nào bị ái dục thấp hèn, đầy sự dính mắc này chế ngự ở đời; sầu muộn của kẻ ấy sẽ tăng trưởng như cỏ bīraṇa gặp mưa nhiều.
Yo cetaṁ sahate jammiṁ, taṇhaṁ loke duraccayaṁ; Sokā tamhā papatanti, udabindūva pokkharā.
But whoever prevails over this wretched craving, so hard to get over in the world, their sorrows fall from them, like a drop from a lotus-leaf.
Nhưng người nào chế ngự được ái dục thấp hèn khó vượt qua này ở đời; sầu muộn sẽ tự rơi rụng khỏi người ấy, như giọt nước lăn khỏi lá sen.
Taṁ vo vadāmi bhaddaṁ vo, yāvantettha samāgatā; Taṇhāya mūlaṁ khaṇatha, usīratthova bīraṇaṁ; Mā vo naḷaṁva sotova, māro bhañji punappunaṁ.
Karotha buddhavacanaṁ, khaṇo vo mā upaccagā; Khaṇātītā hi socanti, nirayamhi samappitā.
Pamādo rajo pamādo, pamādānupatito rajo; Appamādena vijjāya, abbahe sallamattano”ti.
… Mālukyaputto thero ….
I say this to you, good people, all those who have gathered here: dig up the root of craving, as you’d dig up the grass in search of roots. Don’t let Māra break you again and again, like a stream breaking a reed.
Act on the Buddha’s words, don’t let the moment pass you by. For if you miss your moment you’ll grieve when sent to hell.
Negligence is always dust; dust follows right behind negligence. Through diligence and knowledge, pluck out the dart from yourself.
Ta nói điều này với các con, những người đang tụ họp tại đây, cầu chúc các con được an lành: Hãy đào tận gốc rễ của ái dục, như người tìm rễ hương bài (usīra) phải đào bới cỏ bīraṇa; đừng để Ma vương tàn phá các con hết lần này đến lần khác, như dòng nước lũ bẻ gãy cây sậy.