- Theragāthā 5.5
- Pañcakanipāta
- Paṭhamavagga
Vaḍḍhattheragāthā
“Sādhū hi kira me mātā, Patodaṁ upadaṁsayi; Yassāhaṁ vacanaṁ sutvā, Anusiṭṭho janettiyā; Āraddhavīriyo pahitatto, Patto sambodhimuttamaṁ.
Bản dịch
Vaḍḍhattheragāthā
BJT 335“Lành thay! Quả đúng vậy mẹ của tôi đã giơ lên cây roi đầu nhọn. Sau khi lắng nghe lời nói của bà, được nhắc nhở bởi đấng sanh thành, tôi có sự nỗ lực tinh tấn, có bản tính cương quyết, đã đạt đến sự giác ngộ tối thượng.
BJT 336Tôi là vị A-la-hán, bậc xứng đáng cúng dường, có ba Minh, đã nhìn thấy sự Bất Tử. Sau khi chiến thắng đạo binh của Namuci (Ma Vương), tôi sống, không có lậu hoặc.
BJT 337Các lậu hoặc nào của tôi đã được tìm thấy ở bên trong và bên ngoài, tất cả, không thiếu sót, đã được trừ tuyệt và không sanh lên lại nữa.
BJT 338Người chị, quả có lòng tự tín, đã nói về sự việc này: ‘Sự không ham muốn quả nhiên cũng có ở nơi chị, và sự tham ái không tìm thấy ở nơi em.’
BJT 339Khổ đau đã được làm cho chấm dứt; đây là xác thân sau chót có sự luân hồi sanh tử, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
Đại đức trưởng lão Vaḍḍha đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Vaḍḍha.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Sādhū hi kira me mātā, Patodaṁ upadaṁsayi; Yassāhaṁ vacanaṁ sutvā, Anusiṭṭho janettiyā; Āraddhavīriyo pahitatto, Patto sambodhimuttamaṁ.
Oh so well was the goad shown to me by my mother, on hearing whose words, advised by my mother, energetic and resolute, I realized supreme awakening.
“Lành thay, mẹ của con đã chỉ cho con cây gậy thúc. Nghe lời của mẹ, được mẹ chỉ dạy, con đã tinh cần, quyết chí, và đã đạt được giác ngộ tối thượng.”
Arahā dakkhiṇeyyomhi, tevijjo amataddaso; Jetvā namucino senaṁ, viharāmi anāsavo.
I’m perfected, worthy of offerings, master of the three knowledges, <j>seer of freedom from death. I’ve conquered the army of Namuci, and live without defilements.
“Ta là bậc A-la-hán, xứng đáng được cúng dường, bậc Tam minh, người thấy được Bất tử. Sau khi chiến thắng quân đội của Namuci, ta sống không còn lậu hoặc.”
Ajjhattañca bahiddhā ca, ye me vijjiṁsu āsavā; Sabbe asesā ucchinnā, na ca uppajjare puna.
Those defilements that were found in me, internally and externally, are all cut off without remainder, and will not arise again.
“Những lậu hoặc nào đã từng có trong ta, cả bên trong lẫn bên ngoài, tất cả đã được đoạn trừ không còn dư sót, và sẽ không khởi lên lại nữa.”
Visāradā kho bhaginī, etamatthaṁ abhāsayi; ‘Apihā nūna mayipi, vanatho te na vijjati’.
My self-assured sister said this to me: ‘Now neither you nor I have any snarls.’
“Vị ni sư, người chị em (trong giáo pháp), đã can đảm nói lên điều này: ‘Chắc hẳn đối với ta, nơi con không còn ái dục nữa.’”
Pariyantakataṁ dukkhaṁ, antimoyaṁ samussayo; Jātimaraṇasaṁsāro, natthi dāni punabbhavo”ti.
… Vaḍḍho thero ….
Suffering is at an end; this bag of bones is my last in the transmigration through births and deaths; now there’ll be no more future lives.”
“Khổ đã được ta chấm dứt, đây là thân cuối cùng. Vòng luân hồi sanh tử, nay không còn tái sanh nữa.”