- Theragāthā 3.14
- Tikanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
THAG 3.14 — Kệ ngôn của Trưởng lão Gotama
Gotamattheragāthā
BJT 258“Trong khi luân hồi, tôi đã đi đến địa ngục, tôi đã tiếp tục đi đến thế giới ngạ quỷ nhiều lần nữa. Thậm chí ở tình trạng khó thể chịu đựng thuộc dòng giống thú vật, tôi đã sống dai dẳng không chỉ một lần.
BJT 259Thậm chí sự hiện hữu là loài người cũng đã được thành tựu, tôi đã đi đến tập thể ở cõi trời lần này lần khác, và đã tồn tại ở các cõi sắc giới, các cõi vô sắc giới, và các cõi phi tưởng phi phi tưởng.
BJT 260Các sự hiện hữu đã được biết rõ là không có thực chất, bị tạo tác, bị chao đảo, luôn bị chuyển dịch. Sau khi biết được điều ấy có căn nguyên ở bản thân, là người có niệm, tôi đã tự mình chứng đắc sự tịch tịnh.”
Đại đức trưởng lão Gotama đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Gotama.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Verses of the Senior Monks 3.14
- The Book of the Threes
- Chapter One
Gotama (2nd)
14. Kệ của Trưởng lão Gotama
“Saṁsaraṁ hi nirayaṁ agacchissaṁ, Petalokamagamaṁ punappunaṁ; Dukkhamamhipi tiracchānayoniyaṁ, Nekadhā hi vusitaṁ ciraṁ mayā.
Transmigrating, I went to hell, and to the ghost realm time and again. Many times I dwelt long in the animal realm, so full of pain.
“Thật vậy, trong khi luân hồi, ta đã đi đến địa ngục, ta đã đi đến cảnh giới ngạ quỷ nhiều lần; và thật vậy, ta đã sống lâu dài trong loài bàng sanh khổ đau, theo nhiều cách khác nhau.
Mānusopi ca bhavobhirādhito, Saggakāyamagamaṁ sakiṁ sakiṁ; Rūpadhātusu arūpadhātusu, Nevasaññisu asaññisuṭṭhitaṁ.
I was also reborn as a human, and from time to time I went to heaven. I’ve stayed in realms of luminous form and formlessness, among the neither-percipient-nor-non-percipient, <j>and the non-percipient.
“Và kiếp người cũng đã được thành tựu, ta đã đi đến cõi trời nhiều lần; ta đã được sanh vào các cõi Sắc giới, các cõi Vô Sắc giới, vào cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, và vào cõi Vô Tưởng.
Sambhavā suviditā asārakā, Saṅkhatā pacalitā saderitā; Taṁ viditvā mahamattasambhavaṁ, Santimeva satimā samajjhagan”ti.
… Gotamo thero ….
I know well these created states are insubstantial—conditioned, quivering, always in motion. When I understood that this is created in myself, mindful, I found peace.
“Các cõi hữu đã được liễu tri là vô lõi, là pháp hữu vi, bị dao động, bị khuấy động. Sau khi biết được điều ấy và sự hiện hữu của tự thân, ta, người có chánh niệm, đã chứng ngộ được sự tịch tịnh.”