- Theragāthā 3.11
- Tikanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
THAG 3.11 — Kệ ngôn của Trưởng lão Upāli
Upālittheragāthā
BJT 249“Sau khi ra đi vì niềm tin, được xuất gia ở tuổi thanh xuân, vị mới tu nên giao thiệp với các bạn hữu tốt lành, (những người) có sự nuôi mạng trong sạch, không biếng nhác.
BJT 250Sau khi ra đi vì niềm tin, được xuất gia ở tuổi thanh xuân, vị mới tu, là tỳ khưu, trong khi sống ở hội chúng, nên học tập về Luật, có trí tuệ.
BJT 251Sau khi ra đi vì niềm tin, được xuất gia ở tuổi thanh xuân, vị mới tu, rành rẽ về điều được phép và không được phép, nên sống, không vọng tưởng.”
Đại đức trưởng lão Upāli đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Upāli.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Verses of the Senior Monks 3.11
- The Book of the Threes
- Chapter One
Upāli
11. Kệ của Trưởng lão Upāli
“Saddhāya abhinikkhamma, navapabbajito navo; Mitte bhajeyya kalyāṇe, suddhājīve atandite.
One newly gone forth, who has left their home out of faith, should mix with spiritual friends, who are tireless and pure of livelihood.
“Do đức tin, vị ấy đã xuất gia, là người mới tu, còn non trẻ; vị ấy nên kết giao với các thiện hữu, là những người có mạng sống trong sạch, không biếng nhác.
Saddhāya abhinikkhamma, navapabbajito navo; Saṅghasmiṁ viharaṁ bhikkhu, sikkhetha vinayaṁ budho.
One newly gone forth, who has left their home out of faith, a mendicant staying in the Saṅgha, being wise, would train in monastic discipline.
“Do đức tin, vị ấy đã xuất gia, là người mới tu, còn non trẻ; là vị tỳ khưu bậc trí, trong khi đang sống ở trong Tăng chúng, vị ấy nên học tập về Giới Luật.
Saddhāya abhinikkhamma, navapabbajito navo; Kappākappesu kusalo, careyya apurakkhato”ti.
… Upālitthero ….
One newly gone forth, who has left their home out of faith, skilled in what is appropriate and what is not, would wander undistracted.
“Do đức tin, vị ấy đã xuất gia, là người mới tu, còn non trẻ; là người khéo léo về các điều thích nghi và không thích nghi, vị ấy nên sống không bị lôi cuốn (bởi ái và kiến).”