- Theragāthā 18.1
- Cattālīsanipāta
- Paṭhamavagga
Mahākassapattheragāthā
“Na gaṇena purakkhato care, Vimano hoti samādhi dullabho; Nānājanasaṅgaho dukho,
Bản dịch
Mahākassapattheragāthā
BJT 1057“Không nên sống được tôn vinh bởi đồ chúng; bị bận tâm, định là điều khó đạt được. Sự giao du với nhiều hạng người là khổ sở, sau khi nhìn thấy như thế, không nên ưa thích đồ chúng.
BJT 1058Vị hiền trí không nên đi đến các gia đình; bị bận tâm, định là điều khó đạt được. Là người năng nổ, bị tham đắm ở vị nếm, vị ấy bỏ bê mục đích, nguồn đem lại sự an lạc.
BJT 1059Các vị đã tuyên bố việc đảnh lễ và cúng dường ở các gia đình chỉ là ‘bùn lầy.’ Mũi tên mảnh mai thì khó rút ra, sự tôn vinh là khó từ bỏ đối với người ti tiện.
BJT 1060Sau khi từ chỗ trú ngụ đi xuống, tôi đã đi vào làng để khất thực. Có người đàn ông bị cùi đang ăn, một cách nghiêm chỉnh tôi đã đứng gần gã ấy.
BJT 1061Người ấy với bàn tay bị lở loét đã dâng vắt cơm cho tôi. Trong khi người ấy để vắt cơm vào, ngón tay của gã cũng đã bị rụng xuống ở nơi ấy.
BJT 1062Và tôi đã dựa vào chân của vách tường, rồi thọ dụng vắt cơm ấy. Ngay trong khi đang ăn, hoặc đã ăn xong, sự ghê tởm không có ở nơi tôi.
BJT 1063Vị nào có vắt cơm do đã đứng (khất thực) là thức ăn, và nước tiểu hôi thối là phương thuốc, chỗ nằm ngồi là gốc cây, và vải bị quăng bỏ là y phục, sau khi thọ hưởng các thứ này, chính vị ấy là người của bốn phương.
BJT 1064Nơi nào nhiều người bị khổ nhọc trong khi leo lên ngọn núi, nơi ấy vị Kassapa, người thừa tự của đức Phật, có sự nhận biết rõ, có niệm, được hỗ trợ bởi năng lực của thần thông, leo lên.
BJT 1065Trong khi trở về sau khi khất thực, vị Kassapa trèo lên tảng đá, tham thiền, không còn chấp thủ, sự sợ hãi và khiếp đảm đã được dứt bỏ.
BJT 1066Trong khi trở về sau khi khất thực, vị Kassapa trèo lên tảng đá, tham thiền, không còn chấp thủ, được tịch tịnh giữa những kẻ đang bị thiêu đốt.
BJT 1067Trong khi trở về sau khi khất thực, vị Kassapa trèo lên tảng đá, tham thiền, không còn chấp thủ, có phận sự đã được làm xong, không còn lậu hoặc.
BJT 1068Những thửa đất, được trải rộng với những tràng hoa kareri, làm thích ý, những tảng núi đá đáng yêu ấy, vang dội tiếng rống của loài voi, khiến tôi thích thú.
BJT 1069Có màu sắc của những đám mây xanh, những dòng chảy tinh khiết, được ưa thích, mát lạnh nhờ vào nước, những tảng núi đá ấy, được che kín bởi những con mối đỏ, khiến tôi thích thú.
BJT 1070Tương tự đỉnh chóp của đám mây xanh, tương đương với ngôi nhà mái nhọn cao quý, những tảng núi đá đáng yêu ấy, vang dội tiếng kêu của loài voi, khiến tôi thích thú.
BJT 1071Mặt đất bằng đáng yêu được đổ cơn mưa lớn, các hòn núi được các vị ẩn sĩ lai vãng, những tảng núi đá ấy, vang dội tiếng kêu bởi những con chim công, khiến tôi thích thú.
BJT 1072Vừa đủ cho tôi, người có ước muốn tham thiền, có bản tính cương quyết, có niệm. Vừa đủ cho tôi, vị tỳ khưu có ước muốn về mục đích, có bản tính cương quyết.
BJT 1073Vừa đủ cho tôi, vị tỳ khưu có ước muốn về sự thoải mái, có bản tính cương quyết. Vừa đủ cho tôi, người có ước muốn rèn luyện, có bản tính cương quyết như thế ấy.
BJT 1074Tương tự như những đóa hoa của cây sợi gai, giống như bầu trời được bao phủ bởi những đám mây, những tảng núi đá ấy, được đông đúc các giống chim nhiều loại, khiến tôi thích thú.
BJT 1075Không đông đảo những người tại gia, được lai vãng bởi những bầy nai, những tảng núi đá ấy, được đông đúc với các giống chim nhiều loại, khiến tôi thích thú.
BJT 1076Với nước trong vắt, với những tảng đá lớn, được lai vãng bởi các con khỉ và nai, được bao phủ bởi rong rêu ẩm ướt, những tảng núi đá ấy khiến tôi thích thú.
BJT 1077Theo tôi, sự thích thú đối với năm loại nhạc cụ là không phải thế ấy, giống như (sự thích thú) của vị có tâm chuyên nhất đang nhìn thấy rõ Giáo Pháp một cách đúng đắn.
BJT 1078Không nên làm việc nhiều, nên tránh xa mọi người, không nên gắng sức. Là người năng nổ, bị tham đắm ở vị nếm, vị ấy bỏ bê mục đích, nguồn đem lại sự an lạc.
BJT 1079Không nên làm việc nhiều, nên tránh xa việc không đưa đến mục đích. Thân thể bị kiệt quệ, mệt mỏi; bị khổ nhọc, vị ấy không tìm thấy sự vắng lặng.
BJT 1080Chỉ với việc mấp máy đôi môi, cũng không nhìn thấy được bản ngã. Kẻ có cái cổ cứng cỏi bước đi, nghĩ rằng: ‘Ta là tốt hơn.’
BJT 1081Không tốt hơn, kẻ ngu dốt nghĩ rằng bản thân là tốt hơn. Những người hiểu biết không khen ngợi con người có tâm ý cứng cỏi ấy.
BJT 1082Người nào không dao động ở các trạng thái tự phụ (nghĩ rằng): ‘Ta là tốt hơn,’ hoặc là ‘Ta không là tốt hơn,’ ‘Ta là kém cỏi hoặc tương đương,’ …
BJT 1083… vị tương tự như thế ấy, có trí tuệ, khéo chuyên chú vào các giới, được gắn bó với sự vắng lặng của tâm; quả vậy, những người hiểu biết khen ngợi vị ấy.
BJT 1084Kẻ nào không có sự kính trọng đối với các vị đồng Phạm hạnh, (kẻ ấy) bị cách xa khỏi Chánh Pháp, giống như trái đất so với bầu trời.
BJT 1085Còn đối với những vị nào, sự hổ thẹn và ghê sợ (tội lỗi) luôn được thiết lập một cách đúng đắn, Phạm hạnh được tiến triển, đối với những vị ấy việc tái sanh lần nữa được cạn kiệt.
BJT 1086Vị tỳ khưu tự kiêu, chao đảo, đã khoác lên với tấm vải bị quăng bỏ, tựa như con khỉ với tấm da sư tử, vị ấy không chói sáng với y ấy.
BJT 1087Vị không tự kiêu, không chao đảo, thận trọng, có giác quan đã được thu thúc, chói sáng với tấm vải bị quăng bỏ, tựa như con sư tử ở trong hang núi.
BJT 1088Nhiều vị Thiên nhân này, có thần thông, có danh tiếng, tất cả mười ngàn vị Thiên nhân ấy là thuộc về tập thể của đấng Phạm Thiên.
BJT 1089Các vị đứng, chắp tay lại, đang lễ bái vị Tướng Quân Chánh Pháp Sāriputta, bậc anh hùng, có thiền chứng lớn lao, được định tĩnh.
BJT 1090‘Thưa bậc siêu nhân, xin kính lễ ngài. Thưa bậc tối thượng nhân, xin kính lễ ngài. Chúng tôi không thấu hiểu về việc ngài tham thiền nương vào đề mục nào.
BJT 1091Quả là điều kỳ diệu về việc chư Phật có hành xứ thâm sâu của bản thân, chúng tôi không thấu hiểu được các Ngài, (mặc dầu) được hội tụ sự (tinh tế như người bắn tên) xuyên thủng cọng tóc.’
BJT 1092Khi ấy, sau khi nhìn thấy vị Sāriputta ấy, vị xứng đáng sự tôn vinh, được tập thể chư Thiên tôn vinh như thế ấy, nụ cười đã hiện ra ở vị Kappina.
BJT 1093So sánh ở lãnh vực của chư Phật, ngoại trừ bậc Đại Hiền Trí, tôi được nổi bật về đức hạnh của các pháp từ khước, người tương tự như tôi không tìm thấy.
BJT 1094Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành, vật mang nặng đã được đặt xuống, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 1095Bậc Đại Hiền Trí có sự thiết lập niệm là cái cổ, có đức tin là cánh tay, có tuệ là cái đầu. Bậc có đại trí, luôn luôn du hành, được tịch tịnh.”
Đại đức trưởng lão Mahākassapa đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Mahākassapa.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Ở nhóm Bốn Mươi, vị tên Mahākassapa là vị trưởng lão độc nhất, và các câu kệ là bốn mươi hai.”
Nhóm Bốn Mươi được chấm dứt.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Na gaṇena purakkhato care, Vimano hoti samādhi dullabho; Nānājanasaṅgaho dukho,
“You shouldn’t live for the adulation of a following; it turns your mind, making it hard to get immersion. Seeing that popularity is suffering,
1. Kệ của Trưởng lão Tālapuṭa
“Không nên đi với đoàn thể vây quanh, tâm bị phân tán, định khó đạt được; Việc giao tiếp với nhiều người là khổ, thấy vậy nên không ưa thích đoàn thể.”
Na kulāni upabbaje muni, Vimano hoti samādhi dullabho; So ussukko rasānugiddho, Atthaṁ riñcati yo sukhāvaho.
A sage should not visit respectable families; it turns your mind, making it hard to get immersion. If you’re eager and greedy for flavors, you’ll miss the goal that brings such happiness.
“Bậc ẩn sĩ không nên thân cận các gia đình, tâm bị phân tán, định khó đạt được; Người hăng hái, tham đắm vị ngon, từ bỏ lợi ích mang lại hạnh phúc.”
Paṅkoti hi naṁ avedayuṁ, Yāyaṁ vandanapūjanā kulesu; Sukhumaṁ sallaṁ durubbahaṁ, Sakkāro kāpurisena dujjaho.
They know it really is a bog, this homage and veneration in respectable families. Honor is a subtle dart, hard to extract, and hard for a reprobate to give up.”
“Sự đảnh lễ và cúng dường trong các gia đình, các bậc hiền trí gọi đó là ‘vũng bùn’; Là mũi tên vi tế khó nhổ, sự cung kính đối với kẻ hạ liệt thật khó từ bỏ.”
Senāsanamhā oruyha, nagaraṁ piṇḍāya pāvisiṁ; Bhuñjantaṁ purisaṁ kuṭṭhiṁ, sakkaccaṁ taṁ upaṭṭhahiṁ.
“I came down from my lodging and entered the city for alms. I courteously stood by while a leper ate.
“Xuống từ nơi ở, ta đã vào thành để khất thực; Ta đã cung kính đứng gần một người cùi đang ăn.”
So me pakkena hatthena, ālopaṁ upanāmayi; Ālopaṁ pakkhipantassa, aṅguli cettha chijjatha.
With his putrid hand he offered me a morsel. Putting the morsel in my bowl, his finger dropped off right there.
“Người ấy với bàn tay lở loét, đã dâng một vắt cơm cho ta; Khi đang đặt vắt cơm vào, một ngón tay đã rớt vào đây.”
Kuṭṭamūlañca nissāya, ālopaṁ taṁ abhuñjisaṁ; Bhuñjamāne vā bhutte vā, jegucchaṁ me na vijjati.
Sitting by a wall, I ate that lump of rice. I did not feel any disgust while eating or afterwards.
“Dựa vào chân tường, ta đã ăn vắt cơm ấy; Dù đang ăn hay đã ăn xong, nơi ta không có sự ghê tởm.”
Uttiṭṭhapiṇḍo āhāro, pūtimuttañca osadhaṁ; Senāsanaṁ rukkhamūlaṁ, paṁsukūlañca cīvaraṁ; Yassete abhisambhutvā, sa ve cātuddiso naro.
Anyone who makes use of leftovers for food, rancid urine as medicine, the root of a tree as lodging, and cast-off rags as robes, is at ease in any quarter.”
“Thức ăn là vật thực khất thực, thuốc là nước tiểu hôi thối; Nơi ở là gốc cây, y là y phấn tảo; Người nào có được những thứ này, người ấy thực là người của bốn phương.”
Yattha eke vihaññanti, āruhantā siluccayaṁ; Tassa buddhassa dāyādo, sampajāno patissato; Iddhibalenupatthaddho, kassapo abhirūhati.
“Where some have fallen to ruin while climbing the mountain, there Kassapa ascends; an heir of the Buddha, aware and mindful, owing to his psychic powers.
“Nơi mà một số người bị mệt mỏi, khi leo lên núi đá; Người thừa tự của Đức Phật ấy, tỉnh giác và chánh niệm; Được hỗ trợ bởi thần lực, Kassapa leo lên.”
Piṇḍapātapaṭikkanto, selamāruyha kassapo; Jhāyati anupādāno, pahīnabhayabheravo.
Returning from almsround, Kassapa ascends the mountain, and practices absorption without grasping, with fear and dread given up.
“Trở về từ khất thực, Kassapa leo lên núi; Thiền định không chấp thủ, đã từ bỏ sợ hãi và kinh hoàng.”
Piṇḍapātapaṭikkanto, selamāruyha kassapo; Jhāyati anupādāno, ḍayhamānesu nibbuto.
Returning from almsround, Kassapa ascends the mountain, and practices absorption without grasping, quenched amongst those who burn.
“Trở về từ khất thực, Kassapa leo lên núi; Thiền định không chấp thủ, tịch tịnh giữa những gì đang bị thiêu đốt.”
Piṇḍapātapaṭikkanto, selamāruyha kassapo; Jhāyati anupādāno, katakicco anāsavo.
Returning from almsround, Kassapa ascends the mountain, and practices absorption without grasping, his task completed, free of defilements.”
“Trở về từ khất thực, Kassapa leo lên núi; Thiền định không chấp thủ, việc cần làm đã làm xong, không còn lậu hoặc.”
Karerimālāvitatā, bhūmibhāgā manoramā; Kuñjarābhirudā rammā, te selā ramayanti maṁ.
“Strewn with garlands of the musk-rose tree, these regions are so delightful, so lovely, echoing with the trumpeting of elephants: these rocky crags delight me!
“Được bao phủ bởi những vòng hoa kareri, những vùng đất làm vui thích tâm; Thú vị với tiếng rống của voi, những ngọn núi ấy làm ta vui thích.”
Nīlabbhavaṇṇā rucirā, vārisītā sucindharā; Indagopakasañchannā, te selā ramayanti maṁ.
Glistening, they look like blue stormclouds, with waters cool and streams so clear, and covered all in ladybugs: these rocky crags delight me!
“Có màu sắc như mây xanh, sáng đẹp, có nước mát, có đất trong sạch; Phủ đầy những con bọ rùa, những ngọn núi ấy làm ta vui thích.”
Nīlabbhakūṭasadisā, kūṭāgāravarūpamā; Vāraṇābhirudā rammā, te selā ramayanti maṁ.
Like the peak of a blue stormcloud, or like a fine bungalow, lovely, echoing with the trumpeting of elephants: these rocky crags delight me!
Những ngọn núi ấy làm ta hoan hỷ, có đỉnh núi tựa như đỉnh mây xanh, có hình dáng như lầu gác tuyệt vời, và khả ái với tiếng rống của loài voi.
Abhivuṭṭhā rammatalā, nagā isibhi sevitā; Abbhunnaditā sikhīhi, te selā ramayanti maṁ.
The rain comes down on the lovely flats, in the mountains frequented by seers. Echoing with the cries of peacocks, these rocky crags delight me!
Những ngọn núi ấy làm ta hoan hỷ, được mưa gội rửa, có bề mặt khả ái, được các vị ẩn sĩ thường lui tới, và vang dội tiếng kêu của loài công.
Alaṁ jhāyitukāmassa, pahitattassa me sato; Alaṁ me atthakāmassa, pahitattassa bhikkhuno.
It’s enough for me, who loves absorption, to remain resolute. It’s enough for me, a resolute monk who wants what’s best.
Nơi ấy thích hợp cho ta, người có chánh niệm, tâm hướng đến mục tiêu, và mong muốn thiền định. Nơi ấy thích hợp cho ta, vị tỳ khưu tâm hướng đến mục tiêu, và mong cầu lợi ích.
Alaṁ me phāsukāmassa, pahitattassa bhikkhuno; Alaṁ me yogakāmassa, pahitattassa tādino.
It’s enough for me, a resolute monk who loves comfort. It’s enough for me, resolute and unaffected, loving meditation.
Nơi ấy thích hợp cho ta, vị tỳ khưu tâm hướng đến mục tiêu, và mong muốn sự an ổn. Nơi ấy thích hợp cho ta, người vững chãi, tâm hướng đến mục tiêu, và mong muốn tinh tấn.
Umāpupphena samānā, gaganāvabbhachāditā; Nānādijagaṇākiṇṇā, te selā ramayanti maṁ.
Covered with flowers of flax, like the welkin covered with stormclouds, full of flocks of many different birds, these rocky crags delight me!
Những ngọn núi ấy làm ta hoan hỷ, có màu sắc như hoa lanh, được mây che phủ như bầu trời, và đầy ắp những đàn chim đủ loại.
Anākiṇṇā gahaṭṭhehi, migasaṅghanisevitā; Nānādijagaṇākiṇṇā, te selā ramayanti maṁ.
Empty of householders, frequented by herds of deer, full of flocks of many different birds, these rocky crags delight me!
Những ngọn núi ấy làm ta hoan hỷ, không đông đúc người tại gia, là nơi các đàn thú tìm đến, và đầy ắp những đàn chim đủ loại.
Acchodikā puthusilā, gonaṅgulamigāyutā; Ambusevālasañchannā, te selā ramayanti maṁ.
The water’s clear and the rocks are broad, monkeys and deer are all around; festooned with dewy moss, these rocky crags delight me!”
Những ngọn núi ấy làm ta hoan hỷ, có nước trong vắt, có phiến đá rộng, có các loài bò rừng, voọc, và nai, và được bao phủ bởi rêu và tảo nước.
Na pañcaṅgikena turiyena, Rati me hoti tādisī; Yathā ekaggacittassa, Sammā dhammaṁ vipassato.
“Even the music of a five-piece band can never give such pleasure as when, with unified mind, you rightly discern the Dhamma.”
Sự hoan hỷ của ta không đến từ dàn nhạc ngũ âm, mà đến từ việc có tâm nhất điểm, quán chiếu chánh pháp một cách đúng đắn.
Kammaṁ bahukaṁ na kāraye, Parivajjeyya janaṁ na uyyame; Ussukko so rasānugiddho, Atthaṁ riñcati yo sukhāvaho.
“Don’t get involved in lots of work, avoid people, and don’t try to acquire things. If you’re eager and greedy for flavors, you’ll miss the goal that brings such happiness.
Không nên làm nhiều công việc, nên tránh xa đám đông, không nên nỗ lực (theo cách thế gian). Người nào sốt sắng, tham đắm vị ngon, dù mang lại an lạc (cho mình), cũng từ bỏ mục đích.
Kammaṁ bahukaṁ na kāraye, Parivajjeyya anattaneyyametaṁ; Kicchati kāyo kilamati, Dukkhito so samathaṁ na vindati.
Don’t get involved in lots of work, avoid what doesn’t lead to the goal. The body gets worn out and fatigued, and when you ache, you won’t find serenity.”
Không nên làm nhiều công việc, nên tránh xa điều không mang lại lợi ích này. Thân thể sẽ mệt mỏi, kiệt sức; người đau khổ ấy không tìm thấy sự tĩnh lặng.
Oṭṭhappahatamattena, attānampi na passati; Patthaddhagīvo carati, ahaṁ seyyoti maññati.
“You won’t see yourself by merely reciting words, wandering stiff-necked and thinking, ‘I’m better than them.’
Chỉ bằng việc mấp máy môi, người ấy cũng không thấy được chính mình. Với cái cổ cứng ngắc, người ấy đi lại và tự cho rằng: 'Ta là bậc hơn cả'.
Aseyyo seyyasamānaṁ, bālo maññati attānaṁ; Na taṁ viññū pasaṁsanti, patthaddhamānasaṁ naraṁ.
The fool is no better, but they think they are. The wise don’t praise pompous people.
Kẻ ngu si, dù không phải bậc hơn, lại tự cho mình ngang bằng với bậc hơn. Bậc trí không tán thán người có tâm kiêu mạn cứng nhắc ấy.
Yo ca seyyohamasmīti, nāhaṁ seyyoti vā pana; Hīno taṁsadiso vāti, vidhāsu na vikampati.
Whoever does not waver due to the discriminations—‘I am better’, ‘I’m not better’, ‘I am worse’, or ‘I am the same’—
Còn người nào không dao động bởi các loại so sánh, dù là 'Ta là bậc hơn', hay 'Ta không phải bậc hơn', hay 'Ta là kẻ thấp kém', hay 'Ta ngang bằng'.
Paññavantaṁ tathā tādiṁ, sīlesu susamāhitaṁ; Cetosamathamanuttaṁ, tañce viññū pasaṁsare.
with such understanding, unaffected, steady in ethics, and devoted to serenity of mind: that is who the wise praise.”
Bậc trí sẽ tán thán người có trí tuệ, vững chãi như vậy, khéo an trú trong giới hạnh, và chuyên tâm vào sự tĩnh lặng của tâm.
Yassa sabrahmacārīsu, gāravo nūpalabbhati; Ārakā hoti saddhammā, nabhato puthavī yathā.
“Whoever has no respect for their spiritual companions is as far from the true teaching as the earth is from the sky.
Người nào không có lòng tôn kính đối với các bạn đồng phạm hạnh, người ấy xa rời chánh pháp, như đất xa trời vậy.
Yesañca hiriottappaṁ, sadā sammā upaṭṭhitaṁ; Virūḷhabrahmacariyā te, tesaṁ khīṇā punabbhavā.
Those whose conscience and prudence are always rightly established, thrive in the spiritual life; for them, there are no future lives.
Những ai luôn có lòng tàm và quý được thiết lập đúng đắn, phạm hạnh của họ đã tăng trưởng, và sự tái sanh của họ đã được đoạn tận.
Uddhato capalo bhikkhu, paṁsukūlena pāruto; Kapīva sīhacammena, na so tenupasobhati.
When a mendicant who is haughty and fickle wears rags from the rubbish-heap, that doesn’t make them shine: they’re like a monkey in a lion skin.
Vị tỳ khưu trạo cử, dao động, khoác y phấn tảo, cũng giống như con khỉ khoác da sư tử, không xứng hợp với y phục ấy.
Anuddhato acapalo, nipako saṁvutindriyo; Sobhati paṁsukūlena, sīhova girigabbhare.
But if they not restless or fickle, alert, with senses restrained, then, wearing rags from the rubbish-heap, they shine like a lion in a mountain cave.”
Người không trạo cử, không dao động, thận trọng, hộ trì các căn, sẽ tỏa sáng trong y phấn tảo, như sư tử trong hang núi.
Ete sambahulā devā, iddhimanto yasassino; Dasadevasahassāni, sabbe te brahmakāyikā.
“These many gods powerful and glorious, all 10,000 of them, belong to the host of the Divinity.
Có rất nhiều vị trời, đầy quyền năng và danh tiếng, mười ngàn vị trời, tất cả đều thuộc chúng Phạm thiên.
Dhammasenāpatiṁ vīraṁ, mahājhāyiṁ samāhitaṁ; Sāriputtaṁ namassantā, tiṭṭhanti pañjalīkatā.
They stand with cupped palms honoring Sāriputta, the General of the Dhamma, the hero, the serene great meditator:
Họ đứng chắp tay, đảnh lễ ngài Sāriputta, vị Tướng quân Chánh pháp, bậc anh hùng, bậc đại thiền giả, người có tâm định tĩnh.
‘Namo te purisājañña, namo te purisuttama; Yassa te nābhijānāma, yampi nissāya jhāyati.
‘Homage to you, O thoroughbred! Homage to you, supreme among men! We don’t understand the basis of your absorption.
‘Kính lễ ngài, bậc nhân trung hảo mã! Kính lễ ngài, bậc nhân trung tối thượng! Chúng con không biết được ngài y cứ vào điều gì mà thiền định.’
Accheraṁ vata buddhānaṁ, gambhīro gocaro sako; Ye mayaṁ nābhijānāma, vālavedhisamāgatā’.
The profound domain of the Buddhas is truly amazing. We don’t understand, though we’ve gathered here to split hairs.’
‘Thật kỳ diệu thay, cảnh giới của các vị Phật thật sâu xa, là của riêng các ngài! Dù chúng con (có trí tuệ) như những người bắn xuyên sợi lông, chúng con cũng không thể biết được.’
Taṁ tathā devakāyehi, pūjitaṁ pūjanārahaṁ; Sāriputtaṁ tadā disvā, kappinassa sitaṁ ahu.
When he saw the host of gods paying homage to Sāriputta—who is truly worthy of homage—Kappina smiled.”
Khi ấy, thấy ngài Sāriputta, bậc đáng được cúng dường, đang được các chúng trời cúng dường như vậy, ngài Kappina mỉm cười.
Yāvatā buddhakhettamhi, ṭhapayitvā mahāmuniṁ; Dhutaguṇe visiṭṭhohaṁ, sadiso me na vijjati.
“As far as the range of the Buddha extends, I am distinguished in austerities. I have no equal, apart from the great sage himself.
Trong khắp cõi Phật, ngoại trừ bậc Đại Mâu Ni, về các phẩm hạnh đầu đà, ta là bậc tối thắng, không ai sánh bằng ta.
Pariciṇṇo mayā satthā, kataṁ buddhassa sāsanaṁ; Ohito garuko bhāro, natthi dāni punabbhavo.
I’ve served the Teacher and fulfilled the Buddha’s instructions. The heavy burden is laid down, now there’ll be no more future lives.”
Ta đã phụng sự bậc Đạo Sư, đã thực hành lời dạy của Đức Phật. Gánh nặng đã được đặt xuống, nay không còn tái sanh nữa.
Na cīvare na sayane, bhojane nupalimpati; Gotamo anappameyyo, muḷālapupphaṁ vimalaṁva; Ambunā nekkhammaninno, tibhavābhinissaṭo.
“Like a lotus flower to which water will not stick, Gotama the immeasurable is unstained by robes, lodgings, or food. He inclines to renunciation, and has escaped the three states of existence.
Ngài không bị dính mắc bởi y phục, chỗ ở, hay vật thực. Đức Gotama, bậc không thể đo lường, giống như hoa sen không tì vết không dính nước, ngài hướng về sự xuất ly, đã thoát khỏi ba cõi.
Satipaṭṭhānagīvo so, saddhāhattho mahāmuni; Paññāsīso mahāñāṇī, sadā carati nibbuto”ti.
The great sage’s neck is mindfulness meditation; faith is his hands, and wisdom his head. Having great knowledge, he always wanders, quenched.”
Bậc Đại Mâu Ni ấy có Tứ Niệm Xứ là cổ, có đức tin là tay, có trí tuệ là đầu, có đại trí, và luôn an trú trong tịch tịnh.
… Mahākassapo thero …
… Trưởng lão Mahākassapa (Đại Ca Diếp) …
Cattālīsanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
The Book of the Forties is finished.
Phẩm Bốn Mươi Kệ đã kết thúc.
Cattālīsanipātamhi, mahākassapasavhayo; Ekova thero gāthāyo, cattālīsa duvepi cāti.
Trong Phẩm Bốn Mươi, có một vị trưởng lão tên là Mahākassapa, và các bài kệ của vị ấy.