- Theragāthā 17.3
- Tiṁsanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
THAG 17.3 — Kệ ngôn của Trưởng lão Ānanda
Ānandattheragāthā
BJT 1018“Người sáng trí không nên kết bạn với kẻ nói đâm thọc, giận dữ, bỏn xẻn, vui với sự bất hạnh (của người khác); việc giao du với kẻ xấu là tệ hại.
BJT 1019Người sáng trí nên kết bạn với người có đức tin, khéo cư xử, có trí tuệ, và nghe nhiều; việc giao du với người tốt là may mắn.
BJT 1020Hãy nhìn xem bóng dáng được vẽ màu, nơi hội tụ các vết thương, được dựng lên (bằng ba trăm khúc xương), bệnh hoạn, nhiều suy tư (sái quấy), không có sự tồn tại trường cửu.
BJT 1021Hãy nhìn xem vóc dáng được vẽ màu, với ngọc ma-ni và với bông tai; là xương được bọc lại bởi da, nó rạng rỡ nhờ vải vóc.
BJT 1022Các bàn chân được sơn màu đỏ, khuôn mặt được bôi phấn bột, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
BJT 1023Các sợi tóc được làm thành tám lớp, các con mắt được bôi thuốc màu, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
BJT 1024Thân thể hôi thối đã được trang điểm tựa như hộp thuốc bôi đã được vẽ màu, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
BJT 1025Thợ săn đã đặt bẫy mồi, con nai đã không đến gần cái lưới bẫy. Sau khi ăn xong mồi nhử, chúng ta hãy ra đi, trong khi kẻ bắt thú đang than vãn.
BJT 1026Các bẫy mồi của gã thợ săn đã bị đứt lìa, con nai đã không đến gần cái lưới bẫy. Sau khi ăn xong mồi nhử, chúng ta hãy ra đi, trong khi kẻ săn thú sầu muộn.
BJT 1027Vị thị giả của đức Phật, nghe nhiều, có sự thuyết giảng tài ba, có gánh nặng đã được buông xuống, không bị ràng buộc, vị dòng dõi Gotama chuẩn bị việc nằm.
BJT 1028(Vị ấy) có lậu hoặc đã được cạn kiệt, không bị ràng buộc, đã vượt qua sự bám víu, đã khéo được tịch tịnh, đang duy trì thân mạng cuối cùng, là người đã đi đến bờ kia của sanh tử.
BJT 1029Vị dòng dõi Gotama ấy đấy, đứng ở Đạo Lộ dẫn đến Niết Bàn, nơi ấy các lời dạy của đức Phật, vị thân quyến của mặt trời, đã được thiết lập.
BJT 1030Tôi đã tiếp nhận tám mươi hai ngàn từ đức Phật, hai ngàn từ vị tỳ khưu, tám mươi bốn ngàn Pháp (uẩn) này là có sự vận hành.
BJT 1031Kẻ này ít học, tựa như con bò đực trở thành già cỗi, các bắp thịt của kẻ ấy tăng trưởng, trí tuệ của kẻ ấy không tăng trường.
BJT 1032Người nào học nhiều rồi khinh chê kẻ ít học về việc học, giống như người cầm cây đèn bị mù, điều nảy sanh trong trí của tôi tương tự y như thế.
BJT 1033Hãy phụng sự người học nhiều, và chớ hủy hoại việc học, việc ấy là gốc rễ của Phạm hạnh; vì thế nên là người có sự ghi nhớ về Giáo Pháp.
BJT 1034Là người biết điều nào trước điều nào sau, biết về ý nghĩa, rành rẽ về ngôn ngữ và từ vựng, nắm giữ điều đã được học tốt đẹp, và quán xét về ý nghĩa.
BJT 1035Đã nảy sanh ước muốn nhờ vào sự nhẫn nại, sau khi đã ra sức thì cân nhắc về điều ấy, vị ấy nỗ lực đúng thời điểm, nội tâm khéo được định tĩnh.
BJT 1036Vị đệ tử của đức Phật, có sự nghe nhiều, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, có trí tuệ, đang mong mỏi sự nhận thức về Giáo Pháp; nên thân cận vị có đức tính như thế ấy.
BJT 1037Vị đại ẩn sĩ, có sự nghe nhiều, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, có sự bảo vệ kho tàng (Giáo Pháp), là con mắt của tất cả thế gian; sự nghe nhiều đáng được cúng dường.
BJT 1038Có sự ưa thích Giáo Pháp, được thích thú Giáo Pháp, trong khi suy tư về Giáo Pháp, trong khi suy niệm về Giáo Pháp, vị tỳ khưu không rời bỏ Chánh Pháp.
BJT 1039Đối với kẻ có sự chú trọng ở việc ích kỷ về thân xác, trong khi đang bị tiêu hoại (dần), không thể tự sách tấn, đối với kẻ bị tham đắm trong sự khoái lạc của cơ thể, tính chất thoải mái của Sa-môn từ đâu mà có?
BJT 1040Mọi phương hướng không hiện rõ, các Giáo Pháp không hiển hiện cho tôi, khi người bạn tốt lành đã ra đi, như thể bóng tối xuất hiện.
BJT 1041Đối với vị có bạn hữu đã đi xa, đối với vị có bậc Đạo Sư đã qua rồi, đã ra đi, không có người bạn nào giống như thế ấy, giống như niệm đặt ở thân.
BJT 1042Những vị xưa kia đã qua rồi, tâm tôi không hợp với những vị mới. Hôm nay, tôi đây chỉ một mình, tham thiền, tựa như con chim đi về nơi trú ẩn.
BJT 1043‘Chớ ngăn cản nhiều người từ các xứ sở khác nhau đang đi đến để yết kiến, giờ là thời điểm, hãy để cho những người lắng nghe gặp Ta.’
BJT 1044Đấng Đạo Sư, bậc Hữu Nhãn, cho cơ hội đến những người từ các xứ sở khác nhau đang đi đến để yết kiến, không ngăn cản.
BJT 1045Hai mươi lăm năm, suy tưởng về ái dục đã không khởi lên ở tôi khi đang còn ở bản thể Hữu Học, hãy nhìn xem bản chất tốt đẹp của Giáo Pháp.
BJT 1046Hai mươi lăm năm, suy tưởng về sân hận đã không khởi lên ở tôi khi đang còn ở bản thể Hữu Học; hãy nhìn xem bản chất tốt đẹp của Giáo Pháp.
BJT 1047Hai mươi lăm năm, tôi đã hầu cận đức Thế Tôn với tâm từ qua thân nghiệp, như chiếc bóng không có sự xa lìa.
BJT 1048Hai mươi lăm năm, tôi đã hầu cận đức Thế Tôn với tâm từ qua khẩu nghiệp, như chiếc bóng không có sự xa lìa.
BJT 1049Hai mươi lăm năm, tôi đã hầu cận đức Thế Tôn với tâm từ qua ý nghiệp, như chiếc bóng không có sự xa lìa.
BJT 1050Khi đức Phật đang đi kinh hành, tôi đã đi theo ở phía sau. Khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng, trí đã khởi lên ở tôi.
BJT 1051Tôi là bậc Hữu Học, còn có việc cần phải làm, tâm ý chưa được đạt đến, và bậc Đạo Sư, người có lòng thương tưởng đến tôi, viên tịch Niết Bàn.
BJT 1052Khi bậc Toàn Giác, được hội đủ mọi biểu hiện cao quý, viên tịch Niết Bàn, khi ấy đã có sự kinh sợ, khi ấy đã có sự nổi da gà.
BJT 1053Vị Ānanda, bậc đại ẩn sĩ, có sự nghe nhiều, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, con mắt của tất cả thế gian, viên tịch Niết Bàn.
BJT 1054Vị đại ẩn sĩ, có sự nghe nhiều, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, có sự bảo vệ kho tàng (Giáo Pháp), con mắt của tất cả thế gian, có sự xua tan tăm tối ở bóng đêm.
BJT 1055Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành, vật mang nặng đã được đặt xuống, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
Đại đức trưởng lão Ānanda đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Ānanda.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Vị Phussa, vị Upatissa, vị Ānanda, là ba vị đã được thuật lại ở nhóm Ba Mươi, các câu kệ đã được tạo ra ở tại nơi ấy là một trăm lẻ năm.”
Nhóm Ba Mươi được chấm dứt.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Verses of the Senior Monks 17.3
- The Book of the Thirties
- Chapter One
Ānanda
3. Kệ của Trưởng lão Ānanda (A-nan-đà)
“Pisuṇena ca kodhanena ca, Maccharinā ca vibhūtanandinā; Sakhitaṁ na kareyya paṇḍito, Pāpo kāpurisena saṅgamo.
“The astute would not make friends with the slanderous or the hateful, with a miser or a gloater, for it’s bad to consort with reprobates.
“Người trí không nên kết bạn, với kẻ nói lời chia rẽ, kẻ hay phẫn nộ, với người keo kiệt, và kẻ vui với sự hủy hoại. Giao du với kẻ xấu là điều xấu xa.”
Saddhena ca pesalena ca, Paññavatā bahussutena ca; Sakhitaṁ kareyya paṇḍito, Bhaddo sappurisena saṅgamo.
The astute would make friends with the faithful and the pleasant, the wise and the learned, for it’s a blessing to consort with true persons.”
“Người trí nên kết bạn, với người có tín tâm, người khả ái, với người có trí tuệ và bậc đa văn. Giao du với bậc chân nhân là điều tốt lành.”
Passa cittakataṁ bimbaṁ, … pe … yassa natthi dhuvaṁ ṭhiti.
“See this fancy puppet, a body built of sores, diseased, obsessed over, in which nothing lasts at all.
“Hãy nhìn xem hình tượng được trang điểm... v.v... thứ không có sự tồn tại vững bền.”
Passa cittakataṁ bimbaṁ, … pe … vatthehi sobhati.
See this fancy puppet, with its gems and earrings; it is bones swathed in skin, made pretty by its clothes.
“Hãy nhìn xem hình tượng được trang điểm... v.v... chỉ đẹp đẽ khi có y phục.”
Alattakakatā, … pe … no ca pāragavesino.
Rouged feet and powdered face may be enough to beguile a fool, but not a seeker of the far shore.
“Đôi chân được tô bằng thuốc nhuộm... v.v... nhưng không (làm mê hoặc) người tìm cầu bờ kia.”
Aṭṭhapadakatā, … pe … no ca pāragavesino.
Hair in eight braids and eyeshadow may be enough to beguile a fool, but not a seeker of the far shore.
“Mái tóc được chải thành tám bím... v.v... nhưng không (làm mê hoặc) người tìm cầu bờ kia.”
Añjanīva navā, … pe … no ca pāragavesino.
A rotting body all adorned like a freshly painted makeup box may be enough to beguile a fool, but not a seeker of the far shore.”
“Như hộp đựng thuốc kẻ mắt mới... v.v... nhưng không (làm mê hoặc) người tìm cầu bờ kia.”
Bahussuto cittakathī, buddhassa paricārako; Pannabhāro visaññutto, seyyaṁ kappeti gotamo.
“Gotama is learned, a brilliant speaker, the attendant to the Buddha. With burden put down, detached, Gotama made his bed.
“Bậc đa văn, thuyết giả thiện xảo, là thị giả của Đức Phật, đã đặt gánh nặng xuống, đã được giải thoát, vị Gotama (A-nan-đà) nằm nghỉ.”
Khīṇāsavo visaññutto, saṅgātīto sunibbuto; Dhāreti antimaṁ dehaṁ, jātimaraṇapāragū.
Defilements ended, detached, he has got over clinging and become quenched. He bears his final body, having gone beyond birth and death.”
“Bậc đã tận diệt các lậu hoặc, đã được giải thoát, đã vượt qua các chấp trước, đã được tịch tịnh, bậc đã đến bờ kia của sanh và tử, đang mang thân cuối cùng.”
Yasmiṁ patiṭṭhitā dhammā, buddhassādiccabandhuno; Nibbānagamane magge, soyaṁ tiṭṭhati gotamo.
“Gotama stands firm on the path that leads to quenching, where the teachings of the Buddha, the Kinsman of the Sun, are grounded.”
“Vị mà các pháp của Đức Phật, bậc Thân Thuộc của mặt trời, được an lập; vị Gotama (A-nan-đà) ấy đang đứng trên con đường dẫn đến Niết Bàn.”
Dvāsīti buddhato gaṇhiṁ, dve sahassāni bhikkhuto; Caturāsītisahassāni, ye me dhammā pavattino.
“82,000 from the Buddha, and 2,000 more from the monks: 84,000 teachings I’ve learned, and these are what I promulgate.”
“Ta đã học tám mươi hai ngàn (pháp môn) từ Đức Phật, và hai ngàn từ các vị Tỳ khưu. Tám mươi bốn ngàn pháp môn ấy, ta đều thông suốt.”
Appassutāyaṁ puriso, balibaddova jīrati; Maṁsāni tassa vaḍḍhanti, paññā tassa na vaḍḍhati.
“A person of little learning ages like an ox—their flesh grows, but not their wisdom.
“Người ít học này, già đi như con bò đực. Thịt của nó tăng trưởng, nhưng trí tuệ của nó thì không.”
Bahussuto appassutaṁ, yo sutenātimaññati; Andho padīpadhārova, tatheva paṭibhāti maṁ.
A learned person who, on account of their learning, looks down on someone of little learning, strikes me as like a blind man holding a lamp.
“Người đa văn nào, vì sự học của mình mà khinh miệt người ít học, đối với ta, người ấy dường như kẻ mù cầm đèn.”
Bahussutaṁ upāseyya, sutañca na vināsaye; Taṁ mūlaṁ brahmacariyassa, tasmā dhammadharo siyā.
You should stay close to a learned person—don’t lose what you’ve learned. It is the root of the spiritual life, which is why you should memorize the teaching.
“Nên thân cận bậc đa văn, và không để sở học bị mất đi. Đó là gốc rễ của phạm hạnh, vì vậy, hãy là người hộ trì Chánh pháp.”
Pubbāparaññū atthaññū, niruttipadakovido; Suggahītañca gaṇhāti, atthañcopaparikkhati.
Knowing the sequence and meaning of the teaching, expert in the definition of terms, they make sure it is well memorized, and then examine the meaning.
“Biết trước và sau, biết ý nghĩa, thông thạo ngữ nguyên và văn cú; nắm bắt điều đã được khéo nắm bắt, và thẩm sát ý nghĩa.”
Khantyā chandikato hoti, ussahitvā tuleti taṁ; Samaye so padahati, ajjhattaṁ susamāhito.
Accepting the teachings, they become enthusiastic; making an attempt, they weigh up the teaching. When it’s time, they strive serene inside themselves.
“Với sự kham nhẫn, người ấy trở nên có ý muốn. Sau khi nỗ lực, người ấy cân nhắc điều đó. Vào đúng thời điểm, người ấy tinh tấn, nội tâm khéo định tĩnh.”
Bahussutaṁ dhammadharaṁ, sappaññaṁ buddhasāvakaṁ; Dhammaviññāṇamākaṅkhaṁ, taṁ bhajetha tathāvidhaṁ.
If you want to understand the teaching, you should befriend that sort, who are learned and have memorized the teachings, wise disciples of the Buddha.
“Bậc đa văn, hộ trì Chánh pháp, bậc có trí tuệ, là đệ tử của Đức Phật; người mong muốn liễu tri Chánh pháp, nên thân cận với vị như vậy.”
Bahussuto dhammadharo, kosārakkho mahesino; Cakkhu sabbassa lokassa, pūjanīyo bahussuto.
One who is learned <j>and has memorized the teaching, a keeper of the great seer’s treasury, is a visionary for the whole world, learned and honorable.
“Bậc đa văn, hộ trì Chánh pháp, là người giữ kho tàng của bậc Đại Sĩ. Là con mắt cho toàn thể thế gian, bậc đa văn đáng được cúng dường.”
Dhammārāmo dhammarato, dhammaṁ anuvicintayaṁ; Dhammaṁ anussaraṁ bhikkhu, saddhammā na parihāyati.
Delighting in the teaching, enjoying the teaching, contemplating the teaching, a mendicant who recollects the teaching doesn’t fall away from the true teaching.”
“Vị Tỳ khưu có Pháp làm khu vườn, hoan hỷ trong Pháp, suy nghiệm về Pháp, và tùy niệm Pháp, sẽ không thối thất khỏi Chánh pháp.”
Kāyamaccheragaruno, hiyyamāne anuṭṭhahe; Sarīrasukhagiddhassa, kuto samaṇaphāsutā.
“When your body is pampered and heavy, while your remaining time is running out, greedy for physical pleasure, how can you be comfortable as an ascetic?”
“Người nặng nề, keo kiệt với thân, không nỗ lực khi đang suy giảm; với kẻ tham đắm lạc thú của thân, làm sao có được sự an lạc của sa môn?”
Na pakkhanti disā sabbā, dhammā na paṭibhanti maṁ; Gate kalyāṇamittamhi, andhakāraṁva khāyati.
“I’m completely disorientated! The teachings don’t spring to mind! With the passing of our good friend, everything seems dark.
“Mọi phương hướng đều không sáng tỏ, các pháp không hiện khởi trong tâm ta. Khi thiện hữu đã ra đi, dường như bóng tối bao trùm.”
Abbhatītasahāyassa, atītagatasatthuno; Natthi etādisaṁ mittaṁ, yathā kāyagatā sati.
When your friend has passed away, and your Teacher is past and gone, there’s no friend like mindfulness of the body.
“Với người bạn đã qua đời, với bậc Đạo Sư đã ra đi, không có người bạn nào như vậy, giống như niệm thân.”
Ye purāṇā atītā te, navehi na sameti me; Svajja ekova jhāyāmi, vassupetova pakkhimā”.
The old have passed away, and I don’t agree with the new. Today I meditate alone like a bird snug in its nest.”
“Những người bạn cũ đã qua đời, ta không hòa hợp được với những người mới. Hôm nay, ta thiền định một mình, như con chim vào mùa mưa.”
“Dassanāya abhikkante, nānāverajjake bahū; Mā vārayittha sotāro, passantu samayo mamaṁ”.
“Many visitors from abroad have come to visit. Don’t block the audience, let the congregation see me.”
“Nhiều người từ các xứ khác nhau đến để yết kiến, chớ có ngăn cản họ, những người muốn lắng nghe. Hãy để họ thấy ta, đây là thời của ta.”
“Dassanāya abhikkante, nānāverajjake puthu; Karoti satthā okāsaṁ, na nivāreti cakkhumā.
“Lots of visitors from abroad have come to visit. The teacher grants them the opportunity, the Clear-eyed One doesn’t turn them away.”
“Nhiều người từ các xứ khác nhau đến để yết kiến, bậc Đạo Sư đã cho phép. Bậc có Mắt tuệ không ngăn cản.”
Paṇṇavīsativassāni, sekhabhūtassa me sato; Na kāmasaññā uppajji, passa dhammasudhammataṁ.
“In the twenty five years that have passed since I became a trainee, no sensual perception has arisen in me: behold the clear rightness of the teaching!
“Trong hai mươi lăm năm, khi ta còn là bậc hữu học, không một tưởng nào về dục ái khởi lên. Hãy xem sự tuyệt diệu của Chánh pháp!”
Paṇṇavīsativassāni, sekhabhūtassa me sato; Na dosasaññā uppajji, passa dhammasudhammataṁ.
In the twenty-five years since I became a trainee, no malicious perception has arisen in me: behold the clear rightness of the teaching!”
“Suốt hai mươi lăm năm, khi ta còn là bậc hữu học; Tưởng sân đã không khởi lên, hãy xem diệu pháp tính của các pháp.”
Paṇṇavīsativassāni, bhagavantaṁ upaṭṭhahiṁ; Mettena kāyakammena, chāyāva anapāyinī.
“For twenty-five years I attended on the Buddha with loving deeds, like a shadow that never left.
“Suốt hai mươi lăm năm, con đã hầu hạ Đức Thế Tôn; Bằng thân nghiệp từ ái, như bóng không rời hình.”
Paṇṇavīsativassāni, bhagavantaṁ upaṭṭhahiṁ; Mettena vacīkammena, chāyāva anapāyinī.
For twenty-five years I attended on the Buddha with loving words, like a shadow that never left.
“Suốt hai mươi lăm năm, con đã hầu hạ Đức Thế Tôn; Bằng khẩu nghiệp từ ái, như bóng không rời hình.”
Paṇṇavīsativassāni, bhagavantaṁ upaṭṭhahiṁ; Mettena manokammena, chāyāva anapāyinī.
For twenty-five years I attended on the Buddha with loving thoughts, like a shadow that never left.
“Suốt hai mươi lăm năm, con đã hầu hạ Đức Thế Tôn; Bằng ý nghiệp từ ái, như bóng không rời hình.”
Buddhassa caṅkamantassa, piṭṭhito anucaṅkamiṁ; Dhamme desiyamānamhi, ñāṇaṁ me udapajjatha.
While the Buddha was walking mindfully, I walked behind him. As he taught the Dhamma, knowledge arose in me.”
“Khi Đức Phật đang kinh hành, con đã kinh hành theo sau; Khi Pháp được thuyết giảng, trí tuệ đã khởi lên nơi con.”
Ahaṁ sakaraṇīyomhi, sekho appattamānaso; Satthu ca parinibbānaṁ, yo amhaṁ anukampako.
“I’m a trainee, who has more to do; my heart’s desire is still unfulfilled. Yet the Teacher, who was so compassionate to me, has become fully extinguished.
“Ta vẫn còn việc phải làm, là bậc hữu học, tâm chưa đạt đến; Và sự viên tịch của Bậc Đạo Sư, người đã thương tưởng chúng ta, đã gần kề.”
Tadāsi yaṁ bhiṁsanakaṁ, tadāsi lomahaṁsanaṁ; Sabbākāravarūpete, sambuddhe parinibbute”.
Then there was terror! Then they had goosebumps! When the Buddha, endowed with all fine qualities, was fully quenched.”
“Khi ấy đã có sự kinh hoàng, khi ấy đã có sự dựng tóc gáy; Khi bậc Chánh Đẳng Giác, vị toàn hảo trong mọi phương diện, đã viên tịch.”
“Bahussuto dhammadharo, kosārakkho mahesino; Cakkhu sabbassa lokassa, ānando parinibbuto.
“Ānanda, who was learned <j>and had memorized the teaching, a keeper of the great seer’s treasury, a visionary for the entire world, has become fully quenched.
“Là bậc đa văn, trì pháp, người giữ kho tàng của bậc Đại Sĩ; Là con mắt của toàn thể thế gian, Ānanda đã tịch tịnh (phiền não).”
Bahussuto dhammadharo, kosārakkho mahesino; Cakkhu sabbassa lokassa, andhakāre tamonudo.
He was learned <j>and had memorized the teaching, a keeper of the great seer’s treasury, a visionary for the entire world, in thick of night he dispelled the dark.
“Là bậc đa văn, trì pháp, người giữ kho tàng của bậc Đại Sĩ; Là con mắt của toàn thể thế gian, người xua tan bóng tối trong đêm đen.”
Gatimanto satimanto, dhitimanto ca yo isi; Saddhammadhārako thero, ānando ratanākaro”.
He is the seer who remembered the teachings, and mastered their sequence, holding them firm. The senior monk who memorized the teaching, Ānanda was a mine of gems.”
“Vị ẩn sĩ ấy là người có trí tuệ, có chánh niệm, và có sự kiên trì; Vị trưởng lão trì giữ diệu pháp, Ānanda là kho tàng châu báu.”
“Pariciṇṇo mayā satthā, kataṁ buddhassa sāsanaṁ; Ohito garuko bhāro, natthi dāni punabbhavo”ti.
… Ānando thero …
“I’ve served the Teacher and fulfilled the Buddha’s instructions. The heavy burden is laid down, now there’ll be no more future lives.”
“Bậc Đạo Sư đã được ta hầu hạ, giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành; Gánh nặng đã được đặt xuống, nay không còn tái sanh nữa.”
Tiṁsanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Phẩm Ba Mươi Kệ đã kết thúc.
Phusso patisso ānando, tayotime pakittitā; Gāthāyo tattha saṅkhātā, sataṁ pañca ca uttarīti.
Phussa, Upatissa, và Ānanda, ba vị này đã được kể đến; Số kệ ở đây được tính là một trăm và thêm năm.