- Theragāthā 19.1
- Paññāsanipāta
- Paṭhamavagga
Tālapuṭattheragāthā
“Kadā nuhaṁ pabbatakandarāsu, Ekākiyo addutiyo vihassaṁ; Aniccato sabbabhavaṁ vipassaṁ, Taṁ me idaṁ taṁ nu kadā bhavissati.
Bản dịch
Tālapuṭattheragāthā
BJT 1097“Khi nào tôi sẽ sống đơn độc một mình, không hai, ở những hang núi, đang nhìn thấy rõ tất cả hiện hữu là vô thường? Điều này đây là (suy nghĩ) của tôi, khi nào điều ấy sẽ trở thành hiện thực?
BJT 1098Khi nào tôi (sẽ trở thành) vị hiền trí, mặc y vá bị rách rưới, với vải màu ca-sa, không sở hữu, không ham muốn, sau khi tiêu diệt luyến ái, sân hận, và si mê tương tự y như thế, rồi sẽ đi vào khu rừng sống có sự an lạc?
BJT 1099Khi nào tôi sẽ sống một mình, ở tại khu rừng, có sự sợ hãi đã được xa lìa, đang nhìn thấy rõ thân này là vô thường, hang ổ của sự hủy hoại và bệnh tật, bị áp chế bởi sự chết và sự già? Khi nào điều ấy sẽ trở thành hiện thực?
BJT 1100Khi nào tôi sẽ sống, sau khi cầm lấy cây gươm sắc bén làm bằng trí tuệ cắt đứt nhánh dây leo tham ái, nguồn sanh ra sợ hãi, vật đem lại khổ đau, có sự đeo bám với nhiều hình thức? Khi nào điều ấy sẽ trở thành hiện thực?
BJT 1101Khi nào tôi sẽ mạnh dạn cầm lấy con dao làm bằng trí tuệ, có quyền uy nổi trội của các vị ẩn sĩ và sẽ mạnh dạn đánh tan Ma Vương cùng với đạo quân binh nơi bảo tọa sư tử? Khi nào điều ấy sẽ trở thành hiện thực?
BJT 1102Khi nào ở các cuộc tụ hội của các bậc đức hạnh, tôi có thể được các vị có lòng tôn kính Giáo Pháp như thế ấy, có quan điểm đúng theo sự thật, có các giác quan đã được chế ngự, ghi nhận là có sự nỗ lực? Khi nào điều ấy sẽ trở thành hiện thực?
BJT 1103Khi nào các sự mệt mỏi, đói, khát, gió, nóng, hoặc các loài sâu bọ, rắn rết sẽ không quấy rối tôi, điều ấy ở Giribbaja là không tốt cho mục đích? Khi nào điều ấy sẽ trở thành hiện thực?
BJT 1104Khi nào, với bản thân đã được định tĩnh, có niệm, tôi sẽ đạt đến bằng trí tuệ điều đã được thấu triệt bởi bậc Đại Ẩn Sĩ, (tức là) bốn Sự Thật rất khó nhận thức? Khi nào điều ấy sẽ trở thành hiện thực?
BJT 1105Khi nào được gắn bó với các sự vắng lặng, tôi sẽ nhìn thấy bằng trí tuệ vô số các sắc, các thinh, các hương, các vị, các xúc, và các pháp là bị cháy rực? Khi nào điều này đây đối với tôi (sẽ trở thành hiện thực)?
BJT 1106Khi nào bị nói bằng lời nói thô lỗ, do hiện tượng ấy, tôi sẽ không trở nên phật ý, và ngay cả khi được ca ngợi, do hiện tượng ấy, tôi sẽ không trở nên hớn hở? Khi nào điều này đây đối với tôi (sẽ trở thành hiện thực)?
BJT 1107Khi nào tôi có thể xem các nhánh củi, các cọng cỏ, các dây leo, các uẩn này, và vô lượng các pháp, thuộc về nội phần luôn cả ngoại phần, là như nhau? Khi nào điều này đây đối với tôi (sẽ trở thành hiện thực)?
BJT 1108Khi nào đám mây đen thuộc mùa mưa với nước mới sẽ đổ mưa xuống tôi cùng với y áo trong khi tôi đang ở trong rừng bước đi trên đạo lộ đã được các bậc ẩn sĩ tiến bước? Khi nào điều ấy sẽ trở thành hiện thực?
BJT 1109Khi nào, sau khi nghe được tiếng kêu của chim công ở trong hang núi, loài chim có mào ở trong rừng, tôi sẽ thức dậy và tự suy nghiệm về sự chứng đạt Bất Tử? Khi nào điều ấy sẽ trở thành hiện thực?
BJT 1110Khi nào tôi sẽ vượt qua sông Gaṅgā, sông Yamunā, sông Sarassatī, vực thẳm của trái đất, và cửa ngõ vào địa ngục bằng thần thông, không bị trở ngại, không có hãi sợ? Khi nào điều ấy sẽ trở thành hiện thực?
BJT 1111Khi nào, trong khi xa lánh tất cả hiện tướng mỹ miều, được gắn bó với thiền, tôi sẽ phá tan lòng ham muốn ở năm loại dục, tựa như con voi có sự di chuyển không bị ràng buộc? Khi nào điều ấy sẽ trở thành hiện thực?
BJT 1112Khi nào tôi sẽ được vui mừng sau khi đã chứng đắc Giáo Pháp của bậc Đại Ẩn Sĩ, tựa như người nghèo khó, bị mắc nợ, bị áp bức bởi những kẻ có tài sản, sẽ được vui mừng sau khi tìm ra của cất giấu? Khi nào điều ấy sẽ trở thành hiện thực?
BJT 1113Trong nhiều năm, ta đã được ngươi yêu cầu rằng: ‘Điều này đối với ngài là quá đủ về việc sống ở gia đình!’ Việc ấy, giờ đây, trong khi ta đã xuất gia, này tâm, vì lý do gì mà ngươi không khích lệ?
BJT 1114Này tâm, không phải là ta đã được ngươi yêu cầu rằng: ‘Ở Giribbaja, những con chim có cánh nhiều màu sắc, có sự kêu gào bởi tiếng sấm của vị Thần Inda vĩ đại, chúng sẽ làm ngài vui thích, khi ngài tham thiền ở trong rừng?’
BJT 1115Sau khi đã lìa bỏ tất cả, bạn bè, các người yêu quý, và các thân quyến ở gia đình, thú vui và ngũ dục ở thế gian, ta đã đi đến nơi này; này tâm, như thế ngươi cũng chưa được hài lòng đối với ta sao?
BJT 1116Việc này chỉ liên quan đến ta, do đó không có ngươi và các thứ khác. Vào thời điểm mặc áo giáp, việc gì với sự than vãn? Trong khi xem xét rằng: ‘Mọi thứ này là dao động,’ ta đã ra đi tầm cầu vị thế Bất Tử.
BJT 1117Vị tuyên thuyết về lời đã khéo được thuyết giảng, bậc tối thượng của loài hai chân, vị thầy thuốc vĩ đại, đấng Điều Ngự Trượng Phu (đã nói rằng): ‘Tâm thì dao động tương tự con khỉ, với người có sự luyến ái chưa được xa lìa thì việc chế ngự vô cùng khó khăn.’
BJT 1118Bởi vì các dục là đa dạng, ngọt ngào, làm thích ý, các phàm nhân ngu si bị dính chặt vào chúng. Những kẻ ấy mong muốn khổ đau, có sự tầm cầu việc tái sanh, bị tâm dẫn dắt, xô đẩy vào địa ngục.
BJT 1119‘Ở khu rừng được kêu vang bởi các loài chim công, chim cò, trong khi sống được tôn vinh bởi những con báo, bởi những con hổ, ngài hãy từ bỏ sự mong mỏi ở thân, chớ lơi lỏng,’ này tâm, ngươi thường khích lệ ta trước đây như thế.
BJT 1120‘Ngài hãy tu tập các thiền và các quyền, các lực, các chi phần đưa đến giác ngộ, các sự tu tập về định, và hãy chạm đến ba Minh trong Giáo Pháp của đức Phật,’ này tâm, ngươi thường khích lệ ta trước đây như thế.
BJT 1121‘Ngài hãy tu tập đạo lộ đưa đến sự đạt được Bất Tử, có sự dẫn dắt ra khỏi, có sự đi sâu vào việc cạn kiệt tất cả khổ đau, có tám chi phần, có sự rửa sạch tất cả phiền não,’ này tâm, ngươi thường khích lệ ta trước đây như thế.
BJT 1122‘Ngài hãy xem xét theo đúng đường lối rằng các uẩn là khổ đau, và từ đó khổ đau sanh lên, ngài hãy từ bỏ nó; ngay tại nơi đây, ngài hãy thực hiện việc chấm dứt khổ đau,’ này tâm, ngươi thường khích lệ ta trước đây như thế.
BJT 1123‘Ngài hãy nhìn thấy rõ theo đúng đường lối là vô thường, là khổ đau, là không, là vô ngã, là bất hạnh, là hủy hoại; ngài hãy ngưng lại các sự lang thang của ý thuộc về tâm,’ này tâm, ngươi thường khích lệ ta trước đây như thế.
BJT 1124‘Đầu cạo, có sự hủy tướng, đã đi đến với sự mắng nhiếc, chỉ có cái bát ở bàn tay, ngài hãy khất thực ở những gia đình; ngài hãy gắn bó với lời dạy của bậc Đạo Sư, của vị Đại Ẩn Sĩ,’ này tâm, ngươi thường khích lệ ta trước đây như thế.
BJT 1125‘Có bản thân đã khéo được thu thúc, trong khi đi giữa đường ở nơi các gia đình, với tâm ý không bám víu ở các dục, giống như mặt trăng ở vào tháng sáng lạng và đầy đặn,’ này tâm, ngươi thường khích lệ ta trước đây như thế.
BJT 1126‘Ngài hãy là vị ngụ ở rừng và chuyên đi khất thực, hãy là vị ngụ ở mộ địa và mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, hãy là vị chuyên về oai nghi ngồi (không nằm), luôn luôn được vui thích ở hạnh từ khước,’ này tâm, ngươi thường khích lệ ta trước đây như thế.
BJT 1127Giống như người tầm cầu trái cây, sau khi gieo trồng các cây, có phải ngươi muốn chặt chính cái cây ấy ở gốc rễ? Này tâm, ngươi đã làm điều tương tự như thế, là việc ngươi khích lệ ta về vô thường, về dao động.
BJT 1128Này kẻ vô hình, kẻ đi xa, kẻ bước đi một mình, giờ đây ta sẽ không làm theo lời nói của ngươi, bởi vì các dục là khổ đau, cay đắng, có nỗi sợ hãi lớn lao, ta sẽ sống, có tâm hướng đến chỉ mỗi Niết Bàn.
BJT 1129Ta đã ra đi, không phải vì bất hạnh hoặc vì đã làm điều vô liêm sỉ, không phải vì lý do (bốc đồng) của tâm, không phải vì bị đày đi xa, không phải vì lý do nuôi mạng, này tâm, ta đã thực hiện lời hứa đối với ngươi.
BJT 1130‘Tánh ít ham muốn, việc dứt bỏ sự gièm pha, sự lắng dịu của khổ đau là được ca ngợi bởi các bậc thiện nhân,’ này tâm, vào lúc đó ngươi khích lệ ta như thế, giờ đây ngươi đi theo lối đã thực hành trước đây.
BJT 1131Tham ái và vô minh, đáng yêu và không đáng yêu, các sắc mỹ miều và các cảm thọ khoái lạc, và các loại dục làm thích ý đã được ói mửa ra, ta không thể ra sức nuốt vào các thứ đã được ói mửa ra.
BJT 1132Này tâm, lời nói của ngươi đã được ta thực hiện khắp mọi nơi, ngươi đã không bị tức giận với ta trong nhiều kiếp sống, sự hình thành nội tâm là nhờ vào lòng biết ơn của ngươi, trong khi (ta) bị luân hồi dài lâu, khổ đau đã được tạo ra là do ngươi.
BJT 1133Này tâm, chính ngươi làm chúng ta trở thành Bà-la-môn, ngươi làm cho trở thành vị Sát-đế-lỵ, hoặc ẩn sĩ của hoàng gia, một thời chúng ta là các thương buôn và các nô lệ, hoặc thậm chí bản thể chư Thiên cũng do chính ngươi thôi.
BJT 1134Với lý do chính vì ngươi, chúng ta trở thành các A-tu-la, có nguồn gốc là ngươi, chúng ta trở thành các người địa ngục, rồi một thời còn là các súc sanh, hoặc thậm chí bản thể ngạ quỷ cũng do chính ngươi thôi.
BJT 1135Không lẽ ngươi sẽ lừa gạt ta lần này lần khác, như là đang phô bày cái mặt nạ vào lúc này lúc khác, ngươi đùa giỡn với ta như là đùa giỡn với kẻ điên khùng, này tâm, ta đã bị sai sót bất cứ điều gì đối với ngươi?
BJT 1136Trước đây, cái tâm này đã du hành lang thang bằng cách nào theo ý thích, đến nơi nào theo ước muốn, một cách thoải mái, giờ đây tôi sẽ chế ngự nó theo đúng đường lối, tựa như người cầm móc câu chế ngự con voi bị phát dục.
BJT 1137Và bậc Đạo Sư của ta đã khẳng định thế gian này là vô thường, không trường cửu, không cốt lõi. Này tâm, ngươi hãy lao vào Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, hãy giúp cho ta vượt qua dòng lũ lớn rất khó vượt qua.
BJT 1138Này tâm, điều này đối với ngươi không giống như trước đây, ta không thể quay về trong sự khống chế của ngươi, ta đã xuất gia trong Giáo Pháp của bậc Đại Ẩn Sĩ, những người như ta không gánh chịu sự tổn hại.
BJT 1139Các núi, các biển, các dòng sông, trái đất, bốn hướng chính, các hướng phụ, phần bên dưới, các thế giới chư Thiên, tất cả ba cõi đều vô thường, bị áp chế; này tâm, ngươi sẽ đi đến đâu vui thích khoái lạc?
BJT 1140Này tâm, ta là người có sự vững chãi là mục đích tối hậu, ngươi sẽ làm gì ta? Này tâm, ta không còn là kẻ đi theo sự khống chế của ngươi. Đương nhiên, không nên chạm đến túi da có miệng ở hai đầu, thật ghê tởm cái vật chứa đầy chín dòng chảy!
BJT 1141Ở dốc núi và chóp đỉnh rất thiên nhiên và xinh đẹp, bị xâm nhập, lai vãng bởi loài heo rừng và linh dương, ở khu rừng được rưới rắc bởi những con mưa với làn nước mới, được đi đến ngôi nhà hang động ở nơi ấy, ngươi sẽ vui thích.
BJT 1142Những con chim có cánh nhiều màu sắc, có cổ màu xanh xinh xinh, có mồng xinh, có lông và cánh được tô màu xinh đẹp, có sự kêu gào bởi tiếng sấm vang dội vô cùng êm dịu, chúng sẽ làm ngươi vui thích, khi ngươi tham thiền ở trong rừng?
BJT 1143Khi trời đã đổ mưa, khi cỏ dại dài bốn lóng tay, khi khu rừng đã được nở rộ hoa trông như đám mây, ta sẽ nằm ở giữa các ngọn núi như là loài cây cối, (tấm thảm cỏ) ấy sẽ êm ái đối với ta tương tự bông gòn.
BJT 1144Tuy nhiên, ta sẽ hành động thậm chí như là vị chúa tể. Hãy là vừa đủ cho ta với bất cứ vật nào được thọ nhận. Giống như kẻ không bị mệt mỏi, ta sẽ hành động đối với ngươi, giống như đối với cái túi da mèo đã khéo bị nhồi nắn.
BJT 1145Tuy nhiên, ta sẽ hành động thậm chí như là vị chúa tể. Hãy là vừa đủ cho ta với bất cứ vật nào được thọ nhận. Với sự tinh tấn, ta sẽ đưa ngươi vào sự cai quản của ta, tựa như người cầm móc câu thiện xảo (sẽ khống chế) con voi đã bị động dục.
BJT 1146Ta sẽ trói buộc ngươi vào đối tượng (của đề mục thiền) bằng sức mạnh, tựa như trói chặt con voi vào cây cột bằng sợi dây thừng chắc chắn. Ngươi sẽ khéo được hộ trì bởi ta, khéo được tu tập nhờ vào niệm, không còn bị lệ thuộc vào tất cả hiện hữu.
BJT 1147Sau khi cắt đứt việc theo đuổi đạo lộ sai trái bằng tuệ, sau khi chế ngự bằng sự rèn luyện, sau khi đặt vào đạo lộ, sau khi nhìn thấy nhân sanh khởi, sự tan rã và sự tạo thành, ngươi sẽ trở thành người thừa tự của vị giáo chủ tối cao.
BJT 1148Này tâm, do tác động của bốn sự lầm lạc đã được xác định, ngươi đã dẫn ta tựa như dẫn đứa trẻ làng quê đi vòng quanh, sao ngươi không hầu cận đấng Bi Mẫn, bậc Đại Ẩn Sĩ, vị có sự cắt đứt những ràng buộc và trói buộc?
BJT 1149Giống như con nai, tự tại, ở khu rừng nhiều màu sắc xinh đẹp, (sau khi đến được) ngọn núi đáng yêu có vòng hoa là đám mây mưa, tại nơi ấy, ở ngọn núi không đông đúc, ta sẽ vui thích. Này tâm, chắc chắn là ngươi sẽ ở lại bên kia.
BJT 1150Những người nam và người nữ nào, có sự hoạt động theo ước muốn do sự tác động của ngươi, hưởng thụ lạc thú (thế tục), (những người ấy) là ngu si, có sự xoay chuyển theo quyền lực của Ma Vương. Này tâm, những kẻ có sự thích thú với hiện hữu là các đệ tử của ngươi.”
Đại đức trưởng lão Tālapuṭa đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Tālapuṭa.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Ở nhóm Năm Mươi có một vị Tālapuṭa trong sạch, ở đó các câu kệ là năm mươi và còn thêm năm nữa.”
Nhóm Năm Mươi được chấm dứt.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Kadā nuhaṁ pabbatakandarāsu, Ekākiyo addutiyo vihassaṁ; Aniccato sabbabhavaṁ vipassaṁ, Taṁ me idaṁ taṁ nu kadā bhavissati.
Oh, when will I stay in a mountain cave, alone, with no companion, discerning all states of existence as impermanent? This hope of mine, <j>when will it be?
Khi nào ta sẽ được sống một mình, không bạn đồng hành, trong các hang núi; quán chiếu tất cả cõi hữu là vô thường? Ước nguyện ấy của ta, khi nào sẽ thành tựu?
Kadā nuhaṁ bhinnapaṭandharo muni, Kāsāvavattho amamo nirāso; Rāgañca dosañca tatheva mohaṁ, Hantvā sukhī pavanagato vihassaṁ.
Oh, when will I stay happily in the forest, a sage wearing a torn robe, dressed in ocher, unselfish, with no need for hope, with greed, hate, and delusion destroyed?
Khi nào ta, bậc ẩn sĩ, mang y phấn tảo, mặc y cà sa, không luyến ái, không mong cầu; sau khi diệt trừ tham, sân, và cả si, sẽ được an lạc sống trong rừng sâu?
Kadā aniccaṁ vadharoganīḷaṁ, Kāyaṁ imaṁ maccujarāyupaddutaṁ; Vipassamāno vītabhayo vihassaṁ, Eko vane taṁ nu kadā bhavissati.
Oh, when will I stay alone in the wood, fearless, discerning this body as impermanent, a nest of death and disease, harried by death and old age; when will it be?
Khi nào ta sẽ được sống một mình trong rừng, không còn sợ hãi, quán chiếu thân này là vô thường, là tổ của giết chóc và bệnh tật, bị áp bức bởi chết và già? Ước nguyện ấy, khi nào sẽ thành tựu?
Kadā nuhaṁ bhayajananiṁ dukhāvahaṁ, Taṇhālataṁ bahuvidhānuvattaniṁ; Paññāmayaṁ tikhiṇamasiṁ gahetvā, Chetvā vase tampi kadā bhavissati.
Oh, when will I live, <j>having grasped the sharp sword of wisdom and cut the creeper of craving <j>that tangles around everything, the mother of fear, the bringer of suffering? When will it be?
Khi nào ta sẽ cầm lấy thanh gươm trí tuệ sắc bén, chặt đứt dây leo ái dục, là nguồn sinh sợ hãi, mang đến khổ đau, chảy theo muôn vàn nẻo? Ước nguyện ấy, khi nào sẽ thành tựu?
Kadā nu paññāmayamuggatejaṁ, Satthaṁ isīnaṁ sahasādiyitvā; Māraṁ sasenaṁ sahasā bhañjissaṁ, Sīhāsane taṁ nu kadā bhavissati.
Oh, when will I, seated on the lion’s throne, swiftly grasp the sword of the seers, forged by wisdom, of awesome might, and swiftly break Māra and his army? <j>When will it be?
Khi nào ta sẽ nhanh chóng cầm lấy vũ khí của các bậc ẩn sĩ, thanh gươm trí tuệ uy lực, và nhanh chóng phá tan Ma vương cùng quân đội của nó trên tòa sư tử? Ước nguyện ấy, khi nào sẽ thành tựu?
Kadā nuhaṁ sabbhi samāgamesu, Diṭṭho bhave dhammagarūhi tādibhi; Yāthāvadassīhi jitindriyehi, Padhāniyo taṁ nu kadā bhavissati.
Oh, when will I be seen in the assemblies with those who are virtuous, unaffected, respecting the Dhamma, seeing things as they are, with faculties subdued? When will it be?
Khi nào ta, một người tinh tấn, sẽ được thấy giữa các bậc chân nhân, những vị tôn trọng Pháp, vững chãi, thấy như thật, đã chế ngự các căn? Ước nguyện ấy, khi nào sẽ thành tựu?
Kadā nu maṁ tandi khudā pipāsā, Vātātapā kīṭasarīsapā vā; Na bādhayissanti na taṁ giribbaje, Atthatthiyaṁ taṁ nu kadā bhavissati.
Oh, when will I focus on my heart’s goal <j>in the Mountainfold, free of oppression by laziness, hunger, thirst, wind, heat, bugs, and reptiles? When will it be?
Khi nào sự lười biếng, đói, khát, gió, nắng, côn trùng hay loài bò sát sẽ không còn làm phiền ta, người đang mong cầu lợi ích trong hang núi? Ước nguyện ấy, khi nào sẽ thành tựu?
Kadā nu kho yaṁ viditaṁ mahesinā, Cattāri saccāni sududdasāni; Samāhitatto satimā agacchaṁ, Paññāya taṁ taṁ nu kadā bhavissati.
Oh, when will I, serene and mindful, understand the four truths, that were realized by the great seer, and are so very hard to see? <j>When will it be?
Khi nào ta, với tâm định tĩnh, có chánh niệm, sẽ thấu triệt bằng trí tuệ bốn chân lý rất khó thấy, đã được bậc Đại Sĩ thấu biết? Ước nguyện ấy, khi nào sẽ thành tựu?
Kadā nu rūpe amite ca sadde, Gandhe rase phusitabbe ca dhamme; Ādittatohaṁ samathehi yutto, Paññāya dacchaṁ tadidaṁ kadā me.
Oh, when will I, devoted to serenity, see with understanding the infinite sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas as burning? <j>When will it be?
Khi nào ta, hợp với sự tĩnh lặng, sẽ thấy bằng trí tuệ các sắc, thanh, hương, vị, xúc, và các pháp vô lượng đang bốc cháy? Điều ấy của ta, khi nào sẽ thành tựu?
Kadā nuhaṁ dubbacanena vutto, Tato nimittaṁ vimano na hessaṁ; Atho pasatthopi tato nimittaṁ, Tuṭṭho na hessaṁ tadidaṁ kadā me.
Oh, when will I not be distraught because of criticism, nor elated because of praise? When will it be?
Khi nào ta, bị nói lời ác, sẽ không vì cớ ấy mà buồn lòng; và khi được tán thán, cũng không vì cớ ấy mà vui mừng? Điều ấy của ta, khi nào sẽ thành tựu?
Kadā nu kaṭṭhe ca tiṇe latā ca, Khandhe imehaṁ amite ca dhamme; Ajjhattikāneva ca bāhirāni ca, Samaṁ tuleyyaṁ tadidaṁ kadā me.
Oh, when will I discern the aggregates and the infinite varieties of phenomena, those interior and exterior, as no more than wood, grass, and creepers? <j>When will it be?
Khi nào ta sẽ có thể xem gỗ, cỏ, và dây leo ngang bằng với các uẩn này, với các pháp vô lượng, cả nội phần lẫn ngoại phần? Điều ấy của ta, khi nào sẽ thành tựu?
Kadā nu maṁ pāvusakālamegho, Navena toyena sacīvaraṁ vane; Isippayātamhi pathe vajantaṁ, Ovassate taṁ nu kadā bhavissati.
Oh, when will the monsoon clouds in season freshly wet me in my robe in the forest, walking the path trodden by the seers? When will it be?
Khi nào đám mây mùa mưa, với dòng nước mới, sẽ làm ướt ta cùng y phục trong rừng, khi ta đang đi trên con đường của các bậc ẩn sĩ? Ước nguyện ấy, khi nào sẽ thành tựu?
Kadā mayūrassa sikhaṇḍino vane, Dijassa sutvā girigabbhare rutaṁ; Paccuṭṭhahitvā amatassa pattiyā, Sañcintaye taṁ nu kadā bhavissati.
Oh, when will I rise up, <j>intent on attaining freedom from death, hearing, in the mountain cave, the cry of the crested peacock in the forest? When will it be?
Khi nào ta, trong rừng, nghe tiếng công có mào hót trong hang núi, sẽ thức dậy để suy tư, nhằm đạt đến bất tử? Ước nguyện ấy, khi nào sẽ thành tựu?
Kadā nu gaṅgaṁ yamunaṁ sarassatiṁ, Pātālakhittaṁ vaḷavāmukhañca; Asajjamāno patareyyamiddhiyā, Vibhiṁsanaṁ taṁ nu kadā bhavissati.
Oh, when will I cross by psychic power unobstructed the Ganges, Yamunā, and Sarasvatī; and that place where one is thrown in the abyss, the horrifying Mare’s Mouth? When will it be?
Khi nào ta sẽ bằng thần thông, không dính mắc, vượt qua sông Hằng, sông Yamunā, sông Sarassatī, vực sâu đáng sợ và xoáy nước Vaḷavāmukha? Ước nguyện ấy, khi nào sẽ thành tựu?
Kadā nu nāgova asaṅgacārī, Padālaye kāmaguṇesu chandaṁ; Nibbajjayaṁ sabbasubhaṁ nimittaṁ, Jhāne yuto taṁ nu kadā bhavissati.
Oh, when will I be devoted to absorption, shunning all the signs of beauty, splitting apart desire for sensual stimulation, like an elephant that wanders free of ties? <j>When will it be?
Khi nào ta, như voi chúa đi lại không dính mắc, chuyên tâm vào thiền, tránh xa mọi tướng tốt đẹp, sẽ phá tan dục vọng trong các dục trần? Ước nguyện ấy, khi nào sẽ thành tựu?
Kadā iṇaṭṭova daliddako nidhiṁ, Ārādhayitvā dhanikehi pīḷito; Tuṭṭho bhavissaṁ adhigamma sāsanaṁ, Mahesino taṁ nu kadā bhavissati.
Oh, when will I realize the teaching of the great seer and be content, like a pauper in debt harassed by creditors, who finds a hidden treasure? When will it be?
Khi nào ta, như người nghèo mắc nợ bị chủ nợ bức bách, tìm được kho báu mà hoan hỷ; sẽ được hoan hỷ khi chứng đắc giáo pháp của bậc Đại Sĩ? Ước nguyện ấy, khi nào sẽ thành tựu?
Bahūni vassāni tayāmhi yācito, ‘Agāravāsena alaṁ nu te idaṁ’; Taṁ dāni maṁ pabbajitaṁ samānaṁ, Kiṅkāraṇā citta tuvaṁ na yuñjasi.
For many years you begged me, “Enough of living in a house for you!” Why do you not urge me on, mind, now that I’ve gone forth as an ascetic?
Trong nhiều năm, ta đã được ngươi yêu cầu: ‘Đủ rồi với đời sống tại gia này’. Vậy nay, khi ta đã xuất gia, vì cớ gì, hỡi tâm, ngươi không thúc giục ta?
Nanu ahaṁ citta tayāmhi yācito, ‘Giribbaje citrachadā vihaṅgamā’; Mahindaghosatthanitābhigajjino, Te taṁ ramessanti vanamhi jhāyinaṁ.
Didn’t you entice me, mind: “In the Mountainfold, the birds with colorful wings, greeting the thunder, Mahinda’s voice, will delight you as you meditate in the forest?”
Hỡi tâm, chẳng phải ta đã được ngươi yêu cầu sao: ‘Trong vùng núi, những con chim cánh sặc sỡ, tiếng hót vang như sấm, sẽ làm cho ngươi, người đang hành thiền trong rừng, được vui thích’?
Kulamhi mitte ca piye ca ñātake, Khiḍḍāratiṁ kāmaguṇañca loke; Sabbaṁ pahāya imamajjhupāgato, Athopi tvaṁ citta na mayha tussasi.
In my family circle, friends, loved ones, and relatives; and in the world, sports and play, <j>and sensual pleasures; all these I gave up when I entered this life: and even then you’re not content with me, mind!
Gia tộc, bạn bè, bà con thân yêu, trò vui, thú vui và các dục lạc trên đời; từ bỏ tất cả, ta đã đến đây. Vậy mà, hỡi tâm, ngươi không làm ta vui lòng.
Mameva etaṁ na hi tvaṁ paresaṁ, Sannāhakāle paridevitena kiṁ; Sabbaṁ idaṁ calamiti pekkhamāno, Abhinikkhamiṁ amatapadaṁ jigīsaṁ.
This is mine alone, it doesn’t belong to others; when it is time to don your armor, why lament? Observing that all this is unstable, I went forth, seeking the state free of death.
Tâm này là của ta, không phải của người khác. Vào lúc chuẩn bị chiến đấu, than khóc để làm gì? Thấy rằng tất cả đều biến động, ta đã xuất gia, mong cầu trạng thái bất tử.
Suyuttavādī dvipadānamuttamo, Mahābhisakko naradammasārathi; ‘Cittaṁ calaṁ makkaṭasannibhaṁ iti, Avītarāgena sudunnivārayaṁ’.
He whose words are well-composed, <j>supreme among people, great physician, <j>guide for those fit to train, said: “The mind fidgets like a monkey, so it’s very hard to control if you are not free of lust.”
Bậc nói lời hợp lý, tối thượng giữa loài hai chân, bậc Đại Y Vương, bậc Điều Ngự Trượng Phu, đã dạy rằng: ‘Tâm dao động, giống như con khỉ, rất khó ngăn cản đối với người chưa ly tham’.
Kāmā hi citrā madhurā manoramā, Aviddasū yattha sitā puthujjanā; Te dukkhamicchanti punabbhavesino, Cittena nītā niraye nirākatā.
Sensual pleasures are diverse, sweet, delightful; an ignorant ordinary person is bound to them. Seeking to be reborn again, they wish for suffering; led on by their mind, they’re banished to hell.
Các dục lạc quả thật muôn màu, ngọt ngào, làm vui lòng, nơi những kẻ phàm phu ngu si bị trói buộc. Họ tìm cầu tái sanh, mong muốn khổ đau, bị tâm dẫn dắt, bị tước đoạt hạnh phúc trong địa ngục.
‘Mayūrakoñcābhirutamhi kānane, Dīpīhi byagghehi purakkhato vasaṁ; Kāye apekkhaṁ jaha mā virādhaya’, Itissu maṁ citta pure niyuñjasi.
“Staying in the grove resounding with cries of peacocks and herons, <j>and adorned by leopards and tigers, abandon concern for the body, without fail!” So you used to urge me, mind.
‘Trong khu rừng rộn tiếng công và hạc, sống giữa bầy báo và cọp, hãy từ bỏ luyến ái thân này, đừng để lỡ mất cơ hội’. Hỡi tâm, trước kia ngươi đã thúc giục ta như vậy.
‘Bhāvehi jhānāni ca indriyāni ca, Balāni bojjhaṅgasamādhibhāvanā; Tisso ca vijjā phusa buddhasāsane’, Itissu maṁ citta pure niyuñjasi.
“Develop the absorptions and spiritual faculties, the powers, awakening factors, and immersion; realize the three knowledges <j>in the teaching of the Buddha!” So you used to urge me, mind.
‘Hãy tu tập các thiền, các quyền, các lực, các giác chi, định và sự tu tập; hãy chứng đắc tam minh trong giáo pháp của Đức Phật’. Hỡi tâm, trước kia ngươi đã thúc giục ta như vậy.
‘Bhāvehi maggaṁ amatassa pattiyā, Niyyānikaṁ sabbadukhakkhayogadhaṁ; Aṭṭhaṅgikaṁ sabbakilesasodhanaṁ’, Itissu maṁ citta pure niyuñjasi.
“Develop the eightfold path <j>to realize freedom from death emancipating, its objective being <j>the end of all suffering, and cleansing all defilements!” So you used to urge me, mind.
‘Hãy tu tập con đường tám ngành để đạt đến bất tử, con đường dẫn đến giải thoát, chấm dứt mọi khổ đau, thanh lọc mọi phiền não’. Hỡi tâm, trước kia ngươi đã thúc giục ta như vậy.
‘Dukkhanti khandhe paṭipassa yoniso, Yato ca dukkhaṁ samudeti taṁ jaha; Idheva dukkhassa karohi antaṁ’, Itissu maṁ citta pure niyuñjasi.
“Reflect rationally on the aggregates as suffering, and abandon that from which suffering arises; make an end of suffering in this very life!” So you used to urge me, mind.
‘Hãy như lý quán các uẩn là khổ, hãy từ bỏ nguyên nhân sinh khởi khổ đau; hãy chấm dứt khổ đau ngay tại đây’. Hỡi tâm, trước kia ngươi đã thúc giục ta như vậy.
‘Aniccaṁ dukkhanti vipassa yoniso, Suññaṁ anattāti aghaṁ vadhanti ca; Manovicāre uparundha cetaso’, Itissu maṁ citta pure niyuñjasi.
“Rationally discern that impermanence is suffering, that emptiness is non-self, and that gloom is death. Uproot the wandering mind!” So you used to urge me, mind.
‘Hãy như lý quán là vô thường, khổ, là không, vô ngã, là tai họa, là kẻ sát nhân; hãy ngăn chặn những suy tầm của tâm trí’. Hỡi tâm, trước kia ngươi đã thúc giục ta như vậy.
‘Muṇḍo virūpo abhisāpamāgato, Kapālahatthova kulesu bhikkhasu; Yuñjassu satthuvacane mahesino’, Itissu maṁ citta pure niyuñjasi.
“Bald, unsightly, accursed, seek alms amongst families, bowl in hand. Devote yourself to the word of the Teacher, <j>the great seer!” So you used to urge me, mind.
‘Hãy cạo trọc đầu, hình tướng xấu xí, tay cầm bình bát đi khất thực trong các gia đình; hãy nỗ lực trong lời dạy của Đức Bổn Sư, bậc Đại Sĩ’, hỡi tâm, xưa kia ngươi đã thúc giục ta như vậy.
‘Susaṁvutatto visikhantare caraṁ, Kulesu kāmesu asaṅgamānaso; Cando yathā dosinapuṇṇamāsiyā’, Itissu maṁ citta pure niyuñjasi.
“Wander the streets well-restrained, mentally unchained to families and sensual pleasures, like the full moon on a bright night!” So you used to urge me, mind.
‘Hãy phòng hộ tốt đẹp, đi lại giữa các ngã đường, tâm không dính mắc vào các gia đình và các dục lạc, như mặt trăng ngày rằm không tì vết’, hỡi tâm, xưa kia ngươi đã thúc giục ta như vậy.
‘Āraññiko hohi ca piṇḍapātiko, Sosāniko hohi ca paṁsukūliko; Nesajjiko hohi sadā dhute rato’, Itissu maṁ citta pure niyuñjasi.
“Be a wilderness-dweller and an alms-eater, one who lives in charnel grounds, a rag-robe wearer, one who never lies down, <j>always delighting in ascetic practices.” So you used to urge me, mind.
‘Hãy là người ở rừng, người đi khất thực, người ở nghĩa địa, người mặc y phấn tảo; hãy là người thực hành hạnh không nằm, luôn hoan hỷ trong các pháp đầu đà’, hỡi tâm, xưa kia ngươi đã thúc giục ta như vậy.
Ropetva rukkhāni yathā phalesī, Mūle taruṁ chettu tameva icchasi; Tathūpamaṁ cittamidaṁ karosi, Yaṁ maṁ aniccamhi cale niyuñjasi.
Mind, when you urge me to <j>the impermanent and unstable, you’re acting like someone who plants trees, then, when they’re about to fruit, wishes to cut down the very same trees.
Như người trồng cây mong quả, rồi lại muốn chặt chính cây đó từ gốc; hỡi tâm, ngươi làm việc tương tự như vậy, khi thúc giục ta trong vòng luân hồi vô thường, biến động.
Arūpa dūraṅgama ekacāri, Na te karissaṁ vacanaṁ idānihaṁ; Dukkhā hi kāmā kaṭukā mahabbhayā, Nibbānamevābhimano carissaṁ.
Incorporeal mind, far-traveler, lone-wanderer: I won’t do your bidding any more. Sensual pleasures are suffering, painful, <j>and very dangerous; I’ll wander with my mind <j>focused only on extinguishment.
Hỡi tâm, không hình tướng, đi xa, đi một mình, bây giờ ta sẽ không làm theo lời ngươi nữa. Các dục thật là khổ, có quả đắng cay, nhiều nguy hiểm; ta sẽ sống với tâm hướng về chỉ riêng Niết-bàn.
Nāhaṁ alakkhyā ahirikkatāya vā, Na cittahetū na ca dūrakantanā; Ājīvahetū ca ahaṁ na nikkhamiṁ, Kato ca te citta paṭissavo mayā.
I didn’t go forth due to bad luck or shamelessness, or due to a whim or banishment, nor for the sake of a livelihood; it was because I agreed <j>to the promise you made, mind.
Ta không xuất gia vì không có phúc lộc, hay vì không biết hổ thẹn, không phải vì nguyên nhân của tâm, cũng không phải vì sợ hãi từ xa; ta không xuất gia vì sinh kế. Hỡi tâm, ta đã hứa với ngươi rồi.
‘Appicchatā sappurisehi vaṇṇitā, Makkhappahānaṁ vupasamo dukhassa’; Itissu maṁ citta tadā niyuñjasi, Idāni tvaṁ gacchasi pubbaciṇṇaṁ.
“Having few wishes, abandoning disparagement, the settling of suffering: <j>these are praised by true persons.” So you used to urge me, mind, but now you keep on with your old habits!
‘Sự ít ham muốn được các bậc thiện nhân tán thán, sự từ bỏ lòng gièm pha, sự tịch tịnh của khổ đau’; hỡi tâm, khi đó ngươi đã thúc giục ta như vậy, bây giờ ngươi lại đi theo thói quen cũ.
Taṇhā avijjā ca piyāpiyañca, Subhāni rūpāni sukhā ca vedanā; Manāpiyā kāmaguṇā ca vantā, Vante ahaṁ āvamituṁ na ussahe.
Craving, ignorance, the loved and unloved, pretty sights, pleasant feelings, and the delightful kinds of sensual stimulation: I’ve vomited them up, I can’t swallow them back.
Ái, vô minh, và điều thương ghét, các sắc tướng đẹp đẽ và các cảm thọ lạc; các dục công đức đáng yêu đã được nôn ra, những thứ đã nôn ra ta không thể nuốt lại.
Sabbattha te citta vaco kataṁ mayā, Bahūsu jātīsu na mesi kopito; Ajjhattasambhavo kataññutāya te, Dukkhe ciraṁ saṁsaritaṁ tayā kate.
I’ve done your bidding everywhere, mind! For many births, I’ve done nothing to upset you. Yet the creation in myself <j>is because of your ingratitude—for a long time I’ve transmigrated <j>in the suffering you’ve made.
Hỡi tâm, ở khắp mọi nơi, lời của ngươi đã được ta thực hiện, trong nhiều kiếp ta đã không tức giận ngươi; ngươi sinh khởi từ bên trong, vì sự vô ơn của ngươi, trong khổ đau do ngươi tạo ra, ta đã lang thang lâu dài.
Tvaññeva no citta karosi brāhmaṇo, Tvaṁ khattiyo rājadasī karosi; Vessā ca suddā ca bhavāma ekadā, Devattanaṁ vāpi taveva vāhasā.
Only you, mind, make a brahmin; you make an aristocrat or a royal seer. Sometimes we become peasants or menials; and life as a god is also on account of you.
Hỡi tâm, chính ngươi làm cho chúng ta thành Bà-la-môn, ngươi làm thành Sát-đế-lỵ và các vị vua; có lúc chúng ta thành Phệ-xá và Thủ-đà-la, hoặc thành chư thiên cũng do năng lực của ngươi.
Taveva hetū asurā bhavāmase, Tvaṁmūlakaṁ nerayikā bhavāmase; Atho tiracchānagatāpi ekadā, Petattanaṁ vāpi taveva vāhasā.
You alone make us titans; because of you we’re born in hell. Then sometimes we become animals, and life as a ghost is also on account of you.
Chỉ vì ngươi mà chúng ta thành A-tu-la, do ngươi làm gốc mà chúng ta thành chúng sinh địa ngục; rồi có lúc đi vào loài súc sinh, hoặc thành ngạ quỷ cũng do năng lực của ngươi.
Nanu dubbhissasi maṁ punappunaṁ, Muhuṁ muhuṁ cāraṇikaṁva dassayaṁ; Ummattakeneva mayā palobhasi, Kiñcāpi te citta virādhitaṁ mayā.
Come what may, you won’t betray me again, dazzling me with your ever-changing display! You play with me like I’m mad—but how have I ever failed you, mind?
Chẳng phải ngươi đã hãm hại ta nhiều lần sao, luôn luôn chỉ bày như một kẻ lang thang? Ngươi quyến rũ ta như thể ta là người điên. Hỡi tâm, ta đã làm trái ý ngươi điều gì?
Idaṁ pure cittamacāri cārikaṁ, Yenicchakaṁ yatthakāmaṁ yathāsukhaṁ; Tadajjahaṁ niggahessāmi yoniso, Hatthippabhinnaṁ viya aṅkusaggaho.
In the past my mind wandered how it wished, where it liked, as it pleased. Now I’ll carefully guide it, as a trainer with a hook guides a rutting elephant.
Trước đây, tâm này đã lang thang tùy ý, đến nơi nó muốn, theo sở thích. Hôm nay, ta sẽ chế ngự nó một cách khéo léo, như người nài voi (chế ngự) con voi đang say.
Satthā ca me lokamimaṁ adhiṭṭhahi, Aniccato addhuvato asārato; Pakkhanda maṁ citta jinassa sāsane, Tārehi oghā mahatā suduttarā.
The teacher willed that this world appear to me as impermanent, unstable, insubstantial. Mind, let me leap into the victor’s teaching, carry me over the great flood, so hard to pass.
Bậc Đạo Sư của ta đã quyết định rằng thế gian này là vô thường, không bền vững, không có cốt lõi. Hỡi tâm, hãy đưa ta vào giáo pháp của bậc Chiến Thắng, hãy đưa ta vượt qua dòng bộc lưu lớn lao, rất khó vượt qua.
Na te idaṁ citta yathā purāṇakaṁ, Nāhaṁ alaṁ tuyha vase nivattituṁ; Mahesino pabbajitomhi sāsane, Na mādisā honti vināsadhārino.
Things have changed, mind! Nothing could make me return to your control! I’ve gone forth in the teaching of the great seer, those like me don’t come to ruin.
Hỡi tâm, điều này không còn như xưa đối với ngươi nữa, ta không thể quay lại dưới quyền lực của ngươi; ta đã xuất gia trong giáo pháp của bậc Đại Sĩ, những người như ta không phải là người mang lại sự hủy diệt.
Nagā samuddā saritā vasundharā, Disā catasso vidisā adho divā; Sabbe aniccā tibhavā upaddutā, Kuhiṁ gato citta sukhaṁ ramissasi.
Mountains, oceans, rivers, the earth; the four quarters, the intermediate directions, <j>below and in the sky; the three realms of existence <j>are all impermanent and harried—where can you go to find happiness, mind?
Núi, biển, sông, đất, bốn phương, các phương góc, phương dưới, cõi trời; tất cả ba cõi đều vô thường, bị áp bức. Hỡi tâm, đi đến nơi nào ngươi sẽ được hoan hỷ trong hạnh phúc?
Dhitipparaṁ kiṁ mama citta kāhisi, Na te alaṁ citta vasānuvattako; Na jātu bhastaṁ ubhatomukhaṁ chupe, Dhiratthu pūraṁ nava sotasandaniṁ.
Mind, what will you do to someone <j>who has made the ultimate commitment? Nothing could make me a follower <j>under your control, mind; I’d never touch a bellows <j>with a mouth open at each end; curse this mortal frame flowing with nine streams!
Hỡi tâm, ngươi sẽ làm gì được ta, người có sự kiên định tối thượng? Hỡi tâm, ta không thể là người theo ý muốn của ngươi. Không bao giờ nên chạm vào cái túi có hai miệng; đáng ghê tởm thay thân này, đầy những thứ (bất tịnh) chảy ra từ chín lỗ.
Varāhaeṇeyyavigāḷhasevite, Pabbhārakuṭṭe pakateva sundare; Navambunā pāvusasitthakānane, Tahiṁ guhāgehagato ramissasi.
You’ve ascended the mountain peak, <j>full of nature’s beauty, frequented by boars and antelopes, a grove sprinkled with fresh water in the monsoon; and there you’ll be happy in your cave-home.
Nơi heo rừng, nai, sói lui tới, trong hang núi, trên đỉnh núi đẹp một cách tự nhiên; trong khu rừng được tưới bởi nước mưa mới, ở đó, đi vào ngôi nhà hang động, ngươi sẽ hoan hỷ.
Sunīlagīvā susikhā supekhunā, Sucittapattacchadanā vihaṅgamā; Sumañjughosatthanitābhigajjino, Te taṁ ramessanti vanamhi jhāyinaṁ.
Peacocks with beautiful necks and crests, colorful tail-feathers and wings, crying out at the resounding thunder: they’ll delight you as you meditate in the forest.
Những loài chim có cổ xanh biếc, mào đẹp, đuôi đẹp, lông cánh sặc sỡ, tiếng hót du dương, hót vang, chúng sẽ làm cho ngươi, người đang thiền trong rừng, được hoan hỷ.
Vuṭṭhamhi deve caturaṅgule tiṇe, Sampupphite meghanibhamhi kānane; Nagantare viṭapisamo sayissaṁ, Taṁ me mudū hehiti tūlasannibhaṁ.
When the heavens have rained, <j>and the grass is four inches high, and the grove is full of flowers like a cloud, between the mountains, like the fork of a tree, I’ll lie; it will be as soft as cotton-buds.
Khi trời mưa, cỏ cao bốn ngón tay, trong khu rừng nở rộ hoa màu như mây; giữa núi, ta sẽ nằm như một cái cây, thảm cỏ đó sẽ mềm mại như bông gòn đối với ta.
Tathā tu kassāmi yathāpi issaro, Yaṁ labbhati tenapi hotu me alaṁ; Na tāhaṁ kassāmi yathā atandito, Biḷārabhastaṁva yathā sumadditaṁ.
I’ll act rather as a master does: let whatever I get be enough for me. And that’s why I’ll make you as supple as a tireless worker makes a cat-skin bag.
Ta sẽ làm cho ngươi (theo ý ta) như một người chủ; bất cứ thứ gì nhận được, hãy để nó đủ cho ta. Ta sẽ làm cho ngươi (thích hợp cho công việc) như một người không lười biếng, như một túi da mèo được nhào nặn kỹ.
Tathā tu kassāmi yathāpi issaro, Yaṁ labbhati tenapi hotu me alaṁ; Viriyena taṁ mayha vasānayissaṁ, Gajaṁva mattaṁ kusalaṅkusaggaho.
I’ll act rather as a master does: let whatever I get be enough for me. I’ll control you with my energy, as a skilled trainer controls an elephant with a hook.
Ta sẽ làm như một người chủ, bất cứ thứ gì nhận được, hãy để nó đủ cho ta; bằng tinh tấn, ta sẽ đưa ngươi về dưới quyền của ta, như người nài voi khéo léo (đưa) con voi say (về dưới quyền).
Tayā sudantena avaṭṭhitena hi, Hayena yoggācariyova ujjunā; Pahomi maggaṁ paṭipajjituṁ sivaṁ, Cittānurakkhīhi sadā nisevitaṁ.
Now that you’re well-tamed and reliable, I can use you, <j>like a trainer uses a straight-running horse, to practice the path of grace, cultivated by those who take care of their minds.
Với ngươi, được huấn luyện tốt và vững vàng, như người điều khiển xe ngựa với con ngựa thẳng thắn, ta có thể đi trên con đường an lành, con đường luôn được các bậc hộ trì tâm thực hành.
Ārammaṇe taṁ balasā nibandhisaṁ, Nāgaṁva thambhamhi daḷhāya rajjuyā; Taṁ me suguttaṁ satiyā subhāvitaṁ, Anissitaṁ sabbabhavesu hehisi.
I shall strongly fasten you to a meditation subject, as an elephant is tied to a post with firm rope. You’ll be well-guarded by me, <j>well-developed by mindfulness, and unattached to rebirth in all states of existence.
Ta sẽ trói ngươi vào đối tượng bằng sức mạnh, như (người nài voi trói) con voi vào cột bằng dây thừng chắc chắn; được ta phòng hộ tốt, được tu tập tốt bằng niệm, ngươi sẽ không còn nương tựa vào bất cứ cõi nào.
Paññāya chetvā vipathānusārinaṁ, Yogena niggayha pathe nivesiya; Disvā samudayaṁ vibhavañca sambhavaṁ, Dāyādako hehisi aggavādino.
With wisdom you’ll cut short <j>the one following the wrong path, curb them by meditation, <j>and settle them on the right path. Having seen arising and passing away <j>with respect to the cause of suffering, you’ll be an heir to the greatest teacher.
Cắt đứt (tâm) đi theo con đường sai lầm bằng trí tuệ, chế ngự nó bằng nỗ lực, an trú nó trên con đường; thấy được nguyên nhân, sự chấm dứt và sự sinh khởi, ngươi sẽ là người thừa tự của bậc thuyết giảng điều tối thượng.
Catubbipallāsavasaṁ adhiṭṭhitaṁ, Gāmaṇḍalaṁva parinesi citta maṁ; Nanu saṁyojanabandhanacchidaṁ, Saṁsevase kāruṇikaṁ mahāmuniṁ.
Under the sway of the four distortions, mind, you dragged me around like a bull in a pit; but now you won’t associate <j>with the great sage of compassion, the cutter of fetters and bonds?
Hỡi tâm, ngươi kéo ta, người an trú theo bốn điên đảo tưởng, đi đây đi đó như một đứa trẻ trong làng. Chẳng phải nên thân cận bậc Đại Mâu-ni, bậc có lòng bi mẫn, bậc cắt đứt các kiết sử sao?
Migo yathā seri sucittakānane, Rammaṁ giriṁ pāvusaabbhamāliniṁ; Anākule tattha nage ramissaṁ, Asaṁsayaṁ citta parā bhavissasi.
Like a deer roaming free in the colorful forest, I’ll ascend the lovely mountain <j>wreathed in monsoon clouds, and rejoice to be on that hill, free of folk—there is no doubt you’ll perish, mind.
Như con nai tự do trong khu rừng đẹp đẽ, ta sẽ hoan hỷ trên ngọn núi đáng yêu, có những vòng hoa mây của mùa mưa, không ồn ào. Hỡi tâm, không nghi ngờ gì nữa, ngươi sẽ bị hủy diệt.
Ye tuyha chandena vasena vattino, Narā ca nārī ca anubhonti yaṁ sukhaṁ; Aviddasū māravasānuvattino, Bhavābhinandī tava citta sāvakā”ti.
The men and women who live <j>under your will and command, whatever pleasure they experience, they are ignorant and fall under Māra’s control; loving life, they’re your disciples, mind.
Hỡi tâm, những người đàn ông và phụ nữ nào sống theo ý muốn và sự thích thú của ngươi, hưởng thụ hạnh phúc nào đó; những kẻ ngu đó, những người theo ý muốn của ma vương, hoan hỷ trong các cõi, là đệ tử của ngươi.
… Tālapuṭo thero …
... Trưởng lão Tālapuṭa...
Paññāsanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Phẩm Năm Mươi đã kết thúc.
Paññāsamhi nipātamhi, eko tālapuṭo suci; Gāthāyo tattha paññāsa, puna pañca ca uttarīti.
Trong Phẩm Năm Mươi, có một vị Tālapuṭa thanh tịnh; ở đó có năm mươi lăm bài kệ.