- Theragāthā 17.2
- Tiṁsanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
THAG 17.2 — Kệ ngôn của Trưởng lão Sāriputta
Sāriputtattheragāthā
BJT 981“Vị có hạnh kiểm như thế, có tánh tốt như thế, có niệm, có sự suy tư đã được kiềm chế, có thiền chứng, không bị xao lãng, được thỏa thích ở nội tâm, có bản thân được định tĩnh, đơn độc, tự biết đủ, người ta gọi vị ấy là tỳ khưu.
BJT 982Trong khi thọ dụng đồ ăn ướt hay đồ ăn khô, không nên thỏa mãn một cách quá độ, vị tỳ khưu du hành, có bao tử thiếu thốn, có vật thực chừng mực, có niệm.
BJT 983Nên ngưng không ăn bốn, năm vắt cơm (sau cùng) và nên uống nước, vậy là đủ cho sự sống thoải mái của vị tỳ khưu bản tính cương quyết.
BJT 984Nếu mặc lên y ấy, (là y) đã được làm cho đúng phép, thì điều này là có lợi ích, vậy là đủ cho sự sống thoải mái của vị tỳ khưu bản tính cương quyết.
BJT 985Đối với vị đang ngồi với thế kiết già, trời mưa còn chưa làm ướt đầu gối, vậy là đủ cho sự sống thoải mái của vị tỳ khưu bản tính cương quyết.
BJT 986Người nào đã thấy lạc là khổ, đã nhìn thấy khổ là mũi tên, đã không ở giữa cả hai (lạc và khổ), còn có điều gì (trói buộc) ở thế gian và có thể trở thành cái gì (ở tương lai)?
BJT 987Mong rằng kẻ có ước muốn xấu xa, biếng nhác, có sự tinh tấn kém cỏi, ít học hỏi, không có sự tôn trọng, chớ bao giờ gần bên tôi, còn có điều gì ở thế gian (để giáo huấn) và có thể trở thành cái gì (được lợi ích)?
BJT 988Và mong rằng vị nghe nhiều, thông minh, khéo chuyên chú vào các giới, được gắn bó với sự vắng lặng của tâm, hãy đứng ngay ở đỉnh đầu.
BJT 989Kẻ nào bị gắn bó với vọng tưởng, thỏa thích vọng tưởng giống như con thú, kẻ ấy đã lìa xa Niết Bàn, sự an toàn khỏi các ràng buộc, vô thượng.
BJT 990Và vị nào, sau khi từ bỏ vọng tưởng, được thích thú ở đạo lộ không có vọng tưởng, vị ấy đã thành tựu Niết Bàn, sự an toàn khỏi các ràng buộc, vô thượng.
BJT 991Cho dầu ở làng hoặc là ở rừng, cho dầu ở thung lũng hoặc ở cao nguyên, nơi nào các vị A-la-hán cư ngụ, vùng đất ấy thật đáng yêu.
BJT 992Các khu rừng đáng yêu là nơi con người không ưa thích. Những vị có luyến ái đã được xa lìa sẽ ưa thích, các vị ấy không phải là những kẻ tầm cầu ái dục.
BJT 993Nên gặp gỡ người thông minh, nhìn thấy được lỗi lầm, có lời nói khiển trách, tựa như người chỉ ra những của cải chôn giấu. Nên giao thiệp với người thông minh như thế ấy. Người giao thiệp với vị (thông minh) như thế ấy có được điều tốt hơn, không xấu.
BJT 994Người có thể giáo giới, có thể chỉ dạy, có thể ngăn chặn điều không tốt lành, thật vậy đối với những người tốt thì người ấy được thương mến, đối với những người không tốt thì không được yêu mến.
BJT 995Đức Phật Thế Tôn, bậc Hữu Nhãn, đã thuyết giảng Giáo Pháp đến người khác. Trong khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng, là người có mục đích, tôi đã lắng tai nghe. Việc lắng nghe ấy của tôi là không vô ích, tôi đã được giải thoát, không còn lậu hoặc.
BJT 996Không vì đời sống trong thời quá khứ, cũng không vì Thiên nhãn, vì thần thông về việc biết được tâm (của người khác), về sự chết và sự sanh, về sự thanh tịnh của nhĩ giới, là ước nguyện không có ở tôi.
BJT 997Vị trưởng lão Upatissa, tối thượng về trí tuệ, đầu cạo, trùm lên y hai lớp, đã ngồi xuống ngay tại gốc cây, tham thiền.
BJT 998Đã đạt được trạng thái vô tầm, vị đệ tử của bậc Chánh Đẳng Giác ngay tức thời đạt đến trạng thái im lặng thánh thiện.
BJT 999Cũng giống như ngọn núi đá, không bị lay động, đã khéo được thiết lập, tương tự như vậy vị tỳ khưu, do sự cạn kiệt của si mê, không rung chuyển tựa như ngọn núi.
BJT 1000Đối với người không có (đầu óc) nhơ bẩn, luôn tầm cầu sự tinh khiết, phần nhỏ bằng đầu cọng tóc của sự xấu xa được xem như là kích thước của đám mây.
BJT 1001Tôi không vui thích sự chết, tôi không vui thích sự sống, tôi sẽ lìa bỏ thân xác này, có sự nhận biết rõ, có niệm.
BJT 1002Tôi không vui thích sự chết, tôi không vui thích sự sống, và tôi chờ đợi thời điểm, giống như người làm thuê chờ đợi tiền công.
BJT 1003Ở cả hai thời, sau này (lúc về già) hoặc trước đây (lúc còn trẻ), cái này chính là sự chết, không phải không chết, các vị hãy tiến bước, các vị chớ có hư hỏng, chớ để thời khắc của quý vị trôi qua.
BJT 1004Giống như thành trì ở biên thùy được canh phòng bên trong lẫn bên ngoài, các vị hãy gìn giữ bản thân như vậy, chớ để thời khắc của quý vị trôi qua, bởi vì những kẻ đã để thời khắc trôi qua bị sầu muộn khi bị đưa vào ở địa ngục.
BJT 1005Vị an tịnh, tự chế, có lời nói đúng đắn, không tự kiêu, rũ bỏ các ác pháp tựa như gió làm rụng lá cây.
BJT 1006Vị an tịnh, tự chế, có lời nói đúng đắn, không tự kiêu, rũ bỏ các ác pháp tựa như gió ngắt bỏ lá cây.
BJT 1007Vị an tịnh, không buồn phiền, hoàn toàn tịnh tín, không náo động, có giới tốt đẹp, thông minh, có thể thực hiện việc chấm dứt khổ đau.
BJT 1008Không thể tin được rằng một số người tại gia luôn cả xuất gia lại là như vầy, thậm chí đã là tốt lành rồi trở thành không tốt lành, đã là không tốt lành rồi lại trở thành tốt lành.
BJT 1009Ước muốn về dục, và ác tâm, sự dã dượi buồn ngủ, sự phóng dật, và hoài nghi, đây là năm ô nhiễm ở tâm của vị tỳ khưu.
BJT 1010Đối với vị nào, ở cả hai trường hợp, đang được tôn vinh và không có tôn vinh, mà có sự an trú không bị xao lãng, định của vị ấy không dao động.
BJT 1011Vị tham thiền liên tục, có sự quán xét về tà kiến vi tế, có sự ưa thích về sự cạn kiệt của chấp thủ, người ta gọi vị ấy là ‘bậc thiện nhân.’
BJT 1012Đại dương, trái đất, quả núi, và luôn cả ngọn gió, không được liên kết với sự so sánh về sự giải thoát cao quý của bậc Đạo Sư.
BJT 1013Vị tiếp tục xoay chuyển bánh xe, bậc trưởng lão, có trí tuệ lớn lao, được định tĩnh, tương tự đất, nước, và lửa, không bị luyến ái, không bị sân hận.
BJT 1014Đã đạt đến sự toàn hảo về tuệ, có tánh giác vĩ đại, có tư tưởng lớn lao, không đần độn giống như là đần độn, luôn sống được tịch tịnh.
BJT 1015Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành, vật mang nặng đã được đặt xuống, lối dẫn đến hiện hữu đã được xóa sạch.
BJT 1016Quý vị hãy nỗ lực với sự không xao lãng, điều này là lời chỉ dạy của tôi. Tốt lắm, tôi sẽ viên tịch Niết Bàn, tôi đã được giải thoát về mọi mặt.”
Đại đức trưởng lão Sāriputta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Sāriputta.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Verses of the Senior Monks 17.2
- The Book of the Thirties
- Chapter One
Sāriputta
2. Kệ của Trưởng lão Sāriputta
“Yathācārī yathāsato satīmā, Yatasaṅkappajjhāyi appamatto; Ajjhattarato samāhitatto, Eko santusito tamāhu bhikkhuṁ.
“One who’s mindful <j>as per their conduct and mindfulness, diligent <j>as per their intentions and meditation, happy inside, serene, solitary, contented: that is what they call a mendicant.
Vị nào có hành vi và chánh niệm tương xứng, có chánh niệm, có tư duy được chế ngự, có thói quen thiền định, không dễ duôi; thích thú trong nội tâm, có tâm định tĩnh, sống một mình, tri túc, vị ấy được gọi là tỳ khưu.
Allaṁ sukkhaṁ vā bhuñjanto, Na bāḷhaṁ suhito siyā; Ūnūdaro mitāhāro, Sato bhikkhu paribbaje.
When eating fresh or dried food, one shouldn’t be overly replete. A mendicant should wander mindfully, with empty stomach, taking limited food.
Khi ăn thức ăn ướt hay khô, vị ấy không nên quá no; bụng vơi, ăn có chừng mực, vị tỳ khưu có chánh niệm nên du hành.
Cattāro pañca ālope, abhutvā udakaṁ pive; Alaṁ phāsuvihārāya, pahitattassa bhikkhuno.
Four or five mouthfuls before you’re full, drink some water; this is enough for a resolute mendicant to live in comfort.
Không ăn bốn hoặc năm miếng cuối cùng, nên uống nước. Điều này đủ để vị tỳ khưu có tâm hướng đến (Niết-bàn) được sống an lạc.
Kappiyaṁ tañce chādeti, cīvaraṁ idamatthikaṁ; Alaṁ phāsuvihārāya, pahitattassa bhikkhuno.
If they cover themselves with a robe that’s allowable and fit for purpose; this is enough for a resolute mendicant to live in comfort.
Nếu vị ấy mặc y phục thích hợp chỉ với mục đích này (che thân), điều đó đủ để vị tỳ khưu có tâm hướng đến (Niết-bàn) được sống an lạc.
Pallaṅkena nisinnassa, jaṇṇuke nābhivassati; Alaṁ phāsuvihārāya, pahitattassa bhikkhuno.
When sitting cross-legged, the rain doesn’t fall on the knees; this is enough for a resolute mendicant to live in comfort.”
Đối với vị tỳ khưu ngồi kiết già, mà hai đầu gối không bị mưa ướt; (chỗ ở như vậy) là đủ để an trú thoải mái cho vị tỳ khưu có tâm đã được hướng đến (Niết-bàn).
Yo sukhaṁ dukkhato adda, dukkhamaddakkhi sallato; Ubhayantarena nāhosi, kena lokasmi kiṁ siyā.
“When you’ve seen happiness as suffering, and suffering as a dart, and that there’s nothing between the two—what keeps you in the world? <j>What would you become?
Vị nào đã thấy lạc là khổ, đã thấy khổ như mũi tên; ở giữa cả hai (thọ) đã không hiện hữu (như là 'ta', 'của ta'), thì ở trong đời, do cái gì, điều gì có thể xảy ra (cho vị ấy)?
Mā me kadāci pāpiccho, kusīto hīnavīriyo; Appassuto anādaro, kena lokasmi kiṁ siyā.
Thinking, ‘May I have nothing to do <j>with those of bad wishes, lazy, lacking energy, unlearned, lacking regard for others’—what keeps you in the world? <j>What would you become?”
Mong rằng người có ước muốn xấu xa, lười biếng, nghị lực thấp kém, ít nghe học, không tôn kính, đừng bao giờ ở gần ta. Ở trong đời, đối với người như vậy, do cái gì, điều gì có thể xảy ra (tốt đẹp)?
Bahussuto ca medhāvī, sīlesu susamāhito; Cetosamathamanuyutto, api muddhani tiṭṭhatu.
“An intelligent, learned person, steady in ethics, devoted to serenity of heart—let them stand at the head.”
Người đa văn và có trí tuệ, vững vàng trong các giới hạnh, chuyên tâm vào sự tĩnh lặng của tâm, người như vậy hãy ngự cả trên đầu của ta.
Yo papañcamanuyutto, papañcābhirato mago; Virādhayī so nibbānaṁ, yogakkhemaṁ anuttaraṁ.
“A beast who likes to proliferate, enjoying proliferation, fails to win extinguishment, the supreme sanctuary from the yoke.
Người nào chuyên tâm vào hý luận, ưa thích hý luận, giống như con thú; người ấy đã đánh mất Niết-bàn, sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛.
Yo ca papañcaṁ hitvāna, nippapañcapathe rato; Ārādhayī so nibbānaṁ, yogakkhemaṁ anuttaraṁ.
But one who gives up proliferation, enjoying the state of non-proliferation, wins extinguishment, the supreme sanctuary from the yoke.”
Còn người nào từ bỏ hý luận, ưa thích con đường không hý luận; người ấy đã thành tựu Niết-bàn, sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛.
Gāme vā yadi vāraññe, Ninne vā yadi vā thale; Yattha arahanto viharanti, Taṁ bhūmirāmaṇeyyakaṁ.
“Whether in the village or the wilderness, in a valley or the uplands, wherever the perfected ones live is a delightful place.”
Dù ở trong làng hay trong rừng, dù ở vùng trũng hay trên cao nguyên; nơi nào các vị A-la-hán an trú, nơi ấy là mảnh đất khả ái.
Ramaṇīyāni araññāni, yattha na ramatī jano; Vītarāgā ramissanti, na te kāmagavesino.
“Delightful are the wildernesses where no people delight. Those free of greed will delight there, not those who seek sensual pleasures.”
Những khu rừng thật khả ái, nơi mà người đời không ưa thích; những vị đã ly tham sẽ ưa thích (nơi ấy), vì các vị ấy không tìm cầu dục lạc.
Nidhīnaṁva pavattāraṁ, yaṁ passe vajjadassinaṁ; Niggayhavādiṁ medhāviṁ, tādisaṁ paṇḍitaṁ bhaje; Tādisaṁ bhajamānassa, seyyo hoti na pāpiyo.
“Regard one who sees your faults as a guide to a hidden treasure. Stay close to one so intelligent and astute who curbs you when you need it. Sticking close to such an impartial person, things get better, not worse.”
Nếu gặp được người chỉ ra lỗi lầm, người hay khiển trách, bậc trí tuệ, hãy thân cận bậc hiền trí như vậy, như người chỉ ra kho tàng. Đối với người thân cận bậc như vậy, chỉ có tốt hơn, không có xấu đi.
Ovadeyyānusāseyya, asabbhā ca nivāraye; Satañhi so piyo hoti, asataṁ hoti appiyo.
“Advise and instruct; curb wickedness: for you shall be loved by the good, and disliked by the bad.”
Nên khuyên dạy, nên giáo huấn, và nên ngăn chặn điều không tốt lành. Người như vậy thật được người thiện yêu mến, nhưng không được người ác yêu mến.
Aññassa bhagavā buddho, dhammaṁ desesi cakkhumā; Dhamme desiyamānamhi, sotamodhesimatthiko.
Taṁ me amoghaṁ savanaṁ, vimuttomhi anāsavo.
“The Blessed One, the Buddha, the seer was teaching Dhamma to another. As he taught the Dhamma, I lent an ear to get the meaning.
My listening wasn’t wasted: I’m freed, without defilements.”
Đức Thế Tôn, bậc Giác Ngộ, bậc có Mắt, đã thuyết Pháp cho người khác. Khi Pháp đang được thuyết giảng, tôi đã chú tâm lắng nghe vì có mong cầu. Sự nghe pháp ấy của tôi không vô ích; tôi đã được giải thoát, không còn lậu hoặc.
Neva pubbenivāsāya, napi dibbassa cakkhuno; Cetopariyāya iddhiyā, cutiyā upapattiyā; Sotadhātuvisuddhiyā, paṇidhī me na vijjati”.
“Not for knowledge of past lives, nor even for clairvoyance; not for psychic powers, <j>or encompassing the minds of others, nor for knowing people’s <j>passing away and being reborn; not for purifying the power of clairaudience, did I have any wish.”
Tôi không có nguyện vọng nào đối với Túc Mạng Minh, cũng không đối với Thiên Nhãn, đối với thần thông Tha Tâm, (biết) sự chết và tái sanh, hay đối với sự thanh tịnh của Thiên Nhĩ Giới.
“Rukkhamūlaṁva nissāya, muṇḍo saṅghāṭipāruto; Paññāya uttamo thero, upatissova jhāyati.
“His only shelter is the foot of a tree; shaven, wrapped in his outer robe, the senior monk foremost in wisdom, Upatissa himself practices absorption.
Nương tựa dưới gốc cây, đầu cạo trọc, khoác y tăng-già-lê, vị trưởng lão Upatissa, bậc tối thượng về trí tuệ, đang thiền định.
Avitakkaṁ samāpanno, sammāsambuddhasāvako; Ariyena tuṇhībhāvena, upeto hoti tāvade.
When in a meditation free of placing the mind, a disciple of the Buddha is at that moment blessed with noble silence.
Đã nhập vào trạng thái vô tầm, vị thinh văn của bậc Chánh Đẳng Giác, ngay lúc ấy, đã thành tựu sự im lặng của bậc thánh.
Yathāpi pabbato selo, acalo suppatiṭṭhito; Evaṁ mohakkhayā bhikkhu, pabbatova na vedhati”.
As a rocky mountain is unwavering and well grounded, so when delusion ends, a monk, like a mountain, doesn’t tremble.”
Cũng như ngọn núi đá, không lay động, đứng vững vàng; cũng vậy, do si mê đã được đoạn tận, vị tỳ khưu như ngọn núi, không hề rung chuyển.
“Anaṅgaṇassa posassa, niccaṁ sucigavesino; Vālaggamattaṁ pāpassa, abbhamattaṁva khāyati.
“To the man who has not a blemish, who is always seeking purity, even a hair-tip of evil seems as big as a stormcloud.”
Đối với người không còn phiền não, người luôn tìm cầu sự trong sạch, một điều ác nhỏ bằng đầu sợi lông, cũng hiện ra lớn như một đám mây.
Nābhinandāmi maraṇaṁ, nābhinandāmi jīvitaṁ; Nikkhipissaṁ imaṁ kāyaṁ, sampajāno patissato.
“I don’t long for death; I don’t long for life; I will lay down this body, aware and mindful.
Ta không hoan hỷ cái chết, ta không hoan hỷ sự sống. Ta sẽ đặt xuống thân này, với sự tỉnh giác và chánh niệm.
Nābhinandāmi maraṇaṁ, nābhinandāmi jīvitaṁ; Kālañca paṭikaṅkhāmi, nibbisaṁ bhatako yathā”.
I don’t long for death; I don’t long for life; I await my time, like a worker waiting for their wages.”
Ta không hoan hỷ cái chết, ta không hoan hỷ sự sống. Ta chỉ chờ đợi thời điểm, như người làm thuê chờ đợi tiền công.
“Ubhayena midaṁ maraṇameva, Nāmaraṇaṁ pacchā vā pure vā; Paṭipajjatha mā vinassatha, Khaṇo vo mā upaccagā.
“Both what came before and what follows after are nothing but death, not freedom from death. Practice, don’t perish—don’t let the moment pass you by.
Dù sớm hay muộn, cái chết là điều chắc chắn, không có chuyện bất tử. Hãy thực hành, đừng để bị hủy hoại, chớ để khoảnh khắc (quý báu) trôi qua các ngươi.
Nagaraṁ yathā paccantaṁ, guttaṁ santarabāhiraṁ; Evaṁ gopetha attānaṁ, khaṇo vo mā upaccagā; Khaṇātītā hi socanti, nirayamhi samappitā”.
“Upasanto uparato, mantabhāṇī anuddhato;
Just like a frontier city, is guarded inside and out, so you should ward yourselves—don’t let the moment pass you by. For if you miss your moment you’ll grieve when sent to hell.”
“Calm and still, thoughtful in counsel, not restless—
Như thành phố ở biên thùy, được canh gác cả trong lẫn ngoài; cũng vậy, hãy bảo vệ tự thân, chớ để khoảnh khắc (quý báu) trôi qua các ngươi. Vì những ai để khoảnh khắc trôi qua, sẽ sầu muộn khi bị đọa vào địa ngục.
Người có các căn an tịnh, đã đình chỉ (việc ác), nói năng có suy xét, không trạo cử; vị ấy rũ bỏ các pháp ác, như gió thổi bay lá cây.
Upasanto uparato, mantabhāṇī anuddhato; Appāsi pāpake dhamme, dumapattaṁva māluto.
Calm and still, thoughtful in counsel, not restless—he plucks off bad qualities as the gale shakes leaves off a tree.
Người có các căn an tịnh, đã đình chỉ (việc ác), nói năng có suy xét, không trạo cử; vị ấy đã rũ bỏ các pháp ác, như gió thổi bay lá cây.
Upasanto anāyāso, vippasanno anāvilo; Kalyāṇasīlo medhāvī, dukkhassantakaro siyā”.
Calm and free of despair, clear and unclouded, of good morals, intelligent: one would make an end of suffering.”
Người có các căn an tịnh, không còn phiền muộn, tâm trong sáng, không vẩn đục, có giới hạnh tốt đẹp, bậc trí tuệ, vị ấy có thể chấm dứt khổ đau.
“Na vissase ekatiyesu evaṁ, Agārisu pabbajitesu cāpi; Sādhūpi hutvā na asādhu honti, Asādhu hutvā puna sādhu honti.
“Some householders, and even some renunciants, are not to be trusted. Some who were good later become bad; while some who were bad become good.”
Không nên tin tưởng một số người, dù là tại gia hay xuất gia. Vì có những người, dù đã là người tốt, lại trở thành người không tốt; và có những người, dù đã là người không tốt, lại trở thành người tốt.
Kāmacchando ca byāpādo, thinamiddhañca bhikkhuno; Uddhaccaṁ vicikicchā ca, pañcete cittakelisā.
“Sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness, and doubt: these are the five mental stains for a monk.”
Dục tham, sân hận, hôn trầm-thụy miên, trạo cử, và nghi hoặc của vị tỳ khưu; năm pháp này là những cấu uế của tâm.
Yassa sakkariyamānassa, asakkārena cūbhayaṁ; Samādhi na vikampati, appamādavihārino.
“Whether they’re honored or not honored, or both, their immersion doesn’t waver as they abide in the immeasurables.
Đối với người sống không phóng dật, khi được tôn kính hay không được tôn kính, do cả hai trường hợp này, định của vị ấy không hề lay động.
Taṁ jhāyinaṁ sātatikaṁ, sukhumadiṭṭhivipassakaṁ; Upādānakkhayārāmaṁ, āhu sappuriso iti.
They persistently practice absorption with subtle view and discernment. Rejoicing in the ending of grasping, they’re said to be a true person.”
Người thường xuyên thiền định, có tuệ quán vi tế, ưa thích sự đoạn tận của chấp thủ; người như vậy được gọi là bậc chân nhân.
Mahāsamuddo pathavī, pabbato anilopi ca; Upamāya na yujjanti, satthu varavimuttiyā.
“The oceans and the earth, the mountains and the wind—no simile can do justice to the Teacher’s magnificent liberation.”
Đại dương, đất liền, núi non, và cả gió nữa; không thể dùng làm ví dụ so sánh với sự giải thoát cao quý của bậc Đạo Sư.
Cakkānuvattako thero, mahāñāṇī samāhito; Pathavāpaggisamāno, na rajjati na dussati.
“The senior monk who keeps the wheel rolling, he is very wise and serene. Like earth, like water, like fire, he is neither attracted nor repelled.
Vị trưởng lão, người kế thừa Pháp luân, có trí tuệ vĩ đại, tâm định tĩnh; giống như đất, nước, và lửa, ngài không tham ái, không sân hận.
Paññāpāramitaṁ patto, mahābuddhi mahāmati; Ajaḷo jaḷasamāno, sadā carati nibbuto.
He has attained the perfection of wisdom, so intelligent and thoughtful. He is bright, but seems to be dull; he always wanders, quenched.”
Đã đạt đến sự toàn hảo của trí tuệ, có đại giác, đại trí; dù không ngu đần, ngài vẫn giống như người ngu đần; ngài luôn đi lại trong trạng thái tịch tịnh.
Pariciṇṇo mayā satthā, … pe … bhavanetti samūhatā.
“I’ve served the Teacher and fulfilled the Buddha’s instructions. The heavy burden is laid down, the leash to existence is eradicated.
“Ta đã hầu hạ bậc Đạo Sư... v.v... Dây dẫn đến hữu đã được nhổ sạch.”
Sampādethappamādena, esā me anusāsanī; Handāhaṁ parinibbissaṁ, vippamuttomhi sabbadhī”ti.
Persist with diligence: this is my instruction. Come, I’ll be fully quenched—I am everywhere free.”
“Hãy nỗ lực với sự không dể duôi, đây là lời giáo huấn của ta. Này, ta sẽ nhập Vô Dư Niết Bàn, ta đã được giải thoát khỏi tất cả.”
… Sāriputto thero …
… Trưởng lão Sāriputta [đã nói những lời này].