- Theragāthā 17.1
- Tiṁsanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
THAG 17.1 — Kệ ngôn của Trưởng lão Phussa
Phussattheragāthā
BJT 949“Sau khi nhìn thấy nhiều người có tín tâm, có bản thân đã được tu tập, khéo được thu thúc, vị ẩn sĩ thuộc dòng họ Paṇḍara đã hỏi vị tên Phussa rằng:
BJT 950‘Vào thời vị lai, người ta sẽ có ước muốn thế nào, ý định thế nào, thái độ thế nào? Được hỏi, xin ngài hãy nói cho tôi điều ấy.’
BJT 951‘Này vị ẩn sĩ có tên Paṇḍara, hãy lắng nghe lời nói của tôi, hãy tiếp thu một cách nghiêm chỉnh, tôi sẽ nói về vị lai.
BJT 952Vào thời vị lai, sẽ có nhiều kẻ (có bản chất) giận dữ, thù hằn, bôi nhọ, ngoan cố, lừa lọc, ganh tỵ, và nhiều lập luận khác nhau.
BJT 953Những kẻ có hành xứ ở bờ (bên này), với sự tự mãn là đã biết về Giáo Pháp thâm sâu, xem nhẹ và không kính trọng Giáo Pháp, không có sự kính trọng lẫn nhau.
BJT 954Vào thời vị lai, nhiều điều bất lợi sẽ sanh khởi ở thế gian. Những kẻ có trí tồi sẽ làm ô nhiễm Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng này.
BJT 955Thậm chí những kẻ thấp thỏi về đức hạnh sẽ có tự tin trong khi phát biểu ở hội chúng; những kẻ không nghe nhiều, lắm lời, sẽ trở nên có thế lực.
BJT 956Ngay cả những vị có đức hạnh, trong khi phát biểu đúng theo sự thật ở hội chúng, những vị ấy sẽ trở nên yếu thế, rụt rè, không nhiệt tâm.
BJT 957Vào thời vị lai, những kẻ có trí tồi sẽ ưng thuận bạc và vàng, ruộng, vườn, dê, cừu, tôi trai, và tớ gái.
BJT 958Có tánh ưa phàn nàn, ngu si, không chuyên chú vào các giới, kiêu ngạo, họ đi đó đây, thích thú việc gây gỗ như là những con thú.
BJT 959Và họ sẽ trở nên tự kiêu, trùm lên lá y màu xanh, dối trá, bướng bỉnh, nói nhiều, soi mói, và sẽ cư xử tựa như bậc Thánh.
BJT 960Với đầu tóc được bôi dầu, có tính chao đảo, mắt được tô màu, trùm y màu ngà, họ sẽ đi ở đường lộ.
BJT 961Bị say đắm các y phục màu trắng, họ nhờm gớm y ca-sa, biểu hiện của vị A-la-hán, được khéo nhuộm, không bị nhờm gớm bởi các bậc đã được giải thoát.
BJT 962Họ sẽ trở nên có sự ham muốn về lợi lộc, biếng nhác, có sự tinh tấn thấp thỏi, trong khi cảm thấy mệt nhọc về các chốn rừng rú xa xôi, họ sẽ sống ở gần các xóm làng.
BJT 963Những kẻ nào luôn thích thú việc tà mạng sẽ nhận lãnh lợi lộc, chính những kẻ ấy, trong khi không học tập, sẽ đi loanh quanh, không tự kiềm chế.
BJT 964Những vị nào không nhận được lợi lộc, những vị ấy sẽ không được tôn vinh. Khi ấy, ngay cả những bậc sáng trí vô cùng hiền thiện, họ cũng sẽ không thân cận.
BJT 965Trong khi chê trách biểu hiện được nhuộm màu cây sung của mình, một số kẻ sẽ mặc màu trắng là biểu hiện của các ngoại đạo.
BJT 966Khi ấy, sự không kính trọng y ca-sa sẽ khởi lên ở những kẻ ấy, và sự quán tưởng về y ca-sa sẽ không có ở các tỳ khưu.
BJT 967Con voi khi bị thống trị bởi sự đau đớn, bị đâm xuyên bởi mũi tên, bị kích động, mặc dầu có sự kinh sợ khủng khiếp, sự quán tưởng đã khởi đến con voi là điều không thể nghĩ bàn.
BJT 968Bởi vì con voi Chaddanta, vào lúc ấy, sau khi nhìn thấy biểu hiện của vị A-la-hán khéo được nhuộm màu, ngay khi ấy đã nói lên những kệ ngôn gắn liền với điều lợi ích:
BJT 969‘Kẻ nào, có uế trược chưa lìa, sẽ khoác lên tấm vải ca-sa, (nếu) bỏ bê việc rèn luyện và sự chân thật, kẻ ấy không xứng với y ca-sa.
BJT 970Và vị nào có uế trược được rũ bỏ, khéo chuyên chú vào các giới, gắn bó việc rèn luyện và sự chân thật, vị ấy quả nhiên xứng với y ca-sa.’
BJT 971Có giới bị hư hỏng, có trí tồi, buông lung, hành động theo ý thích, có tâm bị tản mạn, thiếu năng nổ, kẻ ấy không xứng với y ca-sa.
BJT 972Và vị nào, được đầy đủ về giới, có luyến ái đã được xa lìa, được định tĩnh, có tâm ý và sự suy tư trong sạch, vị ấy quả nhiên xứng với y ca-sa.
BJT 973Kẻ tự kiêu, kiêu ngạo, ngu dốt, đối với kẻ này thì giới không có, là kẻ xứng với y phục màu trắng, (kẻ ấy) sẽ làm gì với y ca-sa?
BJT 974Vào thời vị lai, các tỳ khưu và các tỳ khưu ni, có tâm ác xấu, không có sự tôn trọng, sẽ khuấy rối đến các vị có tâm từ ái như thế ấy.
BJT 975Ngay cả trong khi đang được các vị trưởng lão chỉ dạy về việc mặc y, những kẻ ngu dốt cũng sẽ không lắng nghe, có trí tồi, buông lung, hành động theo ý thích.
BJT 976Những kẻ ngu dốt ấy, được học tập như vậy, không có sự kính trọng lẫn nhau, không lưu tâm đến các vị thầy tế độ, tựa như con ngựa chứng không để ý đến người đánh xe.
BJT 977Như vậy sẽ là sự thực hành trong thời vị lai của các tỳ khưu và các tỳ khưu ni khi thời điểm sau cùng đã đến.
BJT 978Khi điều nguy hiểm lớn lao ấy còn chưa xảy đến, trước khi nó xảy đến các vị hãy dễ dạy, nhu thuận, có sự kính trọng lẫn nhau.
BJT 979Các vị hãy có tâm từ ái, có lòng bi mẫn, hãy thu thúc ở các giới, có sự nỗ lực tinh tấn, có bản tính cương quyết, thường xuyên có sự ra sức bền bỉ.
BJT 980Sau khi nhìn thấy sự xao lãng là nguy hiểm, sự không xao lãng là an toàn, các vị hãy tu tập Đạo Lộ tám chi phần, trong khi đang chạm đến vị thế Bất Tử.’”
Đại đức trưởng lão Phussa đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Phussa.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Verses of the Senior Monks 17.1
- The Book of the Thirties
- Chapter One
Phussa
1. Kệ của Trưởng lão Phussa
Pāsādike bahū disvā, bhāvitatte susaṁvute; Isi paṇḍarasagotto, apucchi phussasavhayaṁ.
Seeing many who inspire confidence, evolved and well-restrained, the seer of the Paṇḍara clan, asked the one known as Phussa:
Sau khi thấy nhiều vị tỳ-khưu đáng kính, có tâm đã tu tập, được phòng hộ khéo, vị ẩn sĩ thuộc dòng dõi Paṇḍara đã hỏi vị có tên là Phussa.
“Kiṁchandā kimadhippāyā, kimākappā bhavissare; Anāgatamhi kālamhi, taṁ me akkhāhi pucchito”.
“In future times, what desire and motivation and behavior will people have? Please answer my question.”
Trong thời vị lai, các vị (tỳ-khưu) sẽ có ý muốn gì, chí hướng gì, và cách hành xử ra sao? Khi được hỏi, xin ngài hãy nói cho tôi biết điều đó.
“Suṇohi vacanaṁ mayhaṁ, isipaṇḍarasavhaya; Sakkaccaṁ upadhārehi, ācikkhissāmyanāgataṁ.
“Listen to my words, O seer known as a Paṇḍara, and remember them carefully, I will describe the future.
Hỡi vị ẩn sĩ tên Paṇḍara, hãy lắng nghe lời của ta. Hãy kính cẩn ghi nhớ, ta sẽ nói về tương lai.
Kodhanā upanāhī ca, makkhī thambhī saṭhā bahū; Ussukī nānāvādā ca, bhavissanti anāgate.
In the future many will be angry and hostile, offensive, stubborn, and devious, jealous, holding divergent views.
Trong tương lai, sẽ có nhiều vị (tỳ-khưu) hay sân hận, phẫn uất, che giấu công ơn, cứng đầu, xảo trá, ganh tỵ, và có nhiều quan điểm khác nhau.
Aññātamānino dhamme, gambhīre tīragocarā; Lahukā agarū dhamme, aññamaññamagāravā.
Imagining they understand <j>the depths of the teaching, they resort to the near shore. Superficial and disrespectful toward the teaching, they lack respect for one another.
Tự mãn rằng mình đã biết Pháp sâu xa, họ sẽ hành hoạt ở bờ bên này. Họ sẽ hời hợt, không tôn trọng Pháp, và không tôn trọng lẫn nhau.
Bahū ādīnavā loke, uppajjissantyanāgate; Sudesitaṁ imaṁ dhammaṁ, kilesessanti dummatī.
In the future many dangers will arise in the world. Idiots will defile the Dhamma that was taught so well.
Trong tương lai, nhiều sự nguy hại sẽ phát sanh trên thế gian. Những kẻ ác tuệ sẽ làm ô uế Pháp đã được khéo thuyết này.
Guṇahīnāpi saṅghamhi, voharantā visāradā; Balavanto bhavissanti, mukharā assutāvino.
Though bereft of good qualities, unlearned prattlers, too sure of themselves, will become powerful in running Saṅgha proceedings.
Dù thiếu đức hạnh, họ vẫn dạn dĩ nói năng giữa Tăng-già. Những kẻ lớn tiếng, không có đa văn sẽ trở nên có thế lực.
Guṇavantopi saṅghamhi, voharantā yathātthato; Dubbalā te bhavissanti, hirīmanā anatthikā.
Though possessing good qualities, the conscientious and unbiased, <j>acting in the proper spirit, will become weak in running Saṅgha proceedings.
Ngay cả những vị có đức hạnh, khi nói năng đúng theo sự thật giữa Tăng-già, cũng sẽ trở nên yếu thế, vì có lòng tàm và không muốn dính líu.
Rajataṁ jātarūpañca, khettaṁ vatthumajeḷakaṁ; Dāsidāsañca dummedhā, sādiyissantyanāgate.
In the future, simpletons will accept currency and gold, fields and land, goats and sheep, and bonded servants, male and female.
Trong tương lai, những kẻ vô trí sẽ vui thích nhận bạc và vàng, ruộng, đất, dê và cừu, cùng nô tỳ nam nữ.
Ujjhānasaññino bālā, sīlesu asamāhitā; Unnaḷā vicarissanti, kalahābhiratā magā.
Fools finding fault in others, but unsteady in their own ethics, will wander about, insolent, like cantankerous beasts.
Những kẻ ngu dốt có tâm khinh miệt, không định tĩnh trong các giới, kiêu mạn, thích thú tranh cãi, sẽ đi lại như loài thú.
Uddhatā ca bhavissanti, nīlacīvarapārutā; Kuhā thaddhā lapā siṅgī, carissantyariyā viya.
They’ll be haughty, wrapped in robes of blue; deceivers and flatterers, pompous and fake, they’ll wander as if they were noble ones.
Họ sẽ có tâm trạo cử, và khoác y màu xanh sẫm; là những kẻ lừa dối, cứng rắn, ba hoa, đầy phiền não, họ sẽ đi lại như thể là bậc Thánh.
Telasaṇṭhehi kesehi, capalā añjanakkhikā; Rathiyāya gamissanti, dantavaṇṇikapārutā.
With hair sleeked back with oil, fickle, their eyes painted with eyeshadow, they’ll travel on the high-road, wrapped in robes of ivory color.
Với tóc được chải bằng dầu sáp, lăng xăng, mắt được tô vẽ, khoác y màu ngà voi, họ sẽ đi lại trên đường phố.
Ajegucchaṁ vimuttehi, surattaṁ arahaddhajaṁ; Jigucchissanti kāsāvaṁ, odātesu samucchitā.
The deep-dyed ocher robe, worn without disgust by the free, they will come to loathe, besotted by white clothes.
Say đắm trong y phục trắng, họ sẽ chán ghét y cà-sa, là lá cờ của bậc A-la-hán, được nhuộm khéo, không đáng chê bai bởi các bậc giải thoát.
Lābhakāmā bhavissanti, kusītā hīnavīriyā; Kicchantā vanapatthāni, gāmantesu vasissare.
They’ll want lots of possessions, and be lazy, lacking energy. Weary of the forest, they’ll stay within villages.
Họ sẽ tham muốn lợi lộc, lười biếng, ít tinh tấn; cảm thấy khổ sở với các trú xứ trong rừng, họ sẽ trú ngụ ở gần làng.
Ye ye lābhaṁ labhissanti, micchājīvaratā sadā; Te teva anusikkhantā, bhajissanti asaṁyatā.
Being unrestrained, they’ll keep company with those who acquire profit, and who always enjoy wrong livelihood, following their example.
Những ai luôn thích thú tà mạng và nhận được lợi lộc, những kẻ không thu thúc sẽ bắt chước theo họ và sẽ thân cận (với quyền thế).
Ye ye alābhino lābhaṁ, na te pujjā bhavissare; Supesalepi te dhīre, sevissanti na te tadā.
They won’t respect those who don’t get lots of stuff, and they won’t associate with the attentive, even though they’re very amiable.
Những ai không nhận được lợi lộc, họ sẽ không được tôn kính. Dù là bậc hiền trí, rất yêu mến giới hạnh, họ cũng sẽ không được thân cận vào lúc ấy.
Milakkhurajanaṁ rattaṁ, garahantā sakaṁ dhajaṁ; Titthiyānaṁ dhajaṁ keci, dhārissantyavadātakaṁ.
Disparaging their own banner, dyed a vermilion color, some will wear the white banner of those of other religions.
Chê bai lá cờ của mình được nhuộm bằng thuốc nhuộm của người man di, một số sẽ mặc y phục trắng, là lá cờ của ngoại đạo.
Agāravo ca kāsāve, tadā tesaṁ bhavissati; Paṭisaṅkhā ca kāsāve, bhikkhūnaṁ na bhavissati.
Then they’ll have no respect for the ocher robe. The mendicants will not reflect on the nature of the ocher robe.
Khi ấy, họ sẽ không có sự tôn kính đối với y cà-sa; và sẽ không có sự quán xét về y cà-sa đối với các tỳ khưu.
Abhibhūtassa dukkhena, sallaviddhassa ruppato; Paṭisaṅkhā mahāghorā, nāgassāsi acintiyā.
This awful lack of reflection was unthinkable to the elephant, who was overcome by suffering, inflicted by an arrow strike.
Bị áp đảo bởi đau khổ, bị mũi tên bắn trúng, đang quằn quại, một sự quán xét vĩ đại, kinh khủng, không thể nghĩ bàn đã khởi lên nơi voi chúa.
Chaddanto hi tadā disvā, surattaṁ arahaddhajaṁ; Tāvadeva bhaṇī gāthā, gajo atthopasaṁhitā.
Then the six-tusked elephant, seeing the deep-dyed banner of the perfected ones, straight away spoke these verses connected with the goal.
Quả vậy, khi ấy voi chúa Chaddanta, sau khi thấy lá cờ của bậc A-la-hán được nhuộm khéo, đã nói lên những câu kệ liên quan đến lợi ích.
‘Anikkasāvo kāsāvaṁ, yo vatthaṁ paridhassati; Apeto damasaccena, na so kāsāvamarahati.
‘One who, not free of stains themselves, would wear the robe stained in ocher, bereft of self-control and truth: they are not worthy of the ocher robe.
Người nào chưa loại bỏ cấu uế, xa lìa sự tự chế và chân thật, mà mặc y cà-sa, người ấy không xứng đáng với y cà-sa.
Yo ca vantakasāvassa, sīlesu susamāhito; Upeto damasaccena, sa ve kāsāvamarahati.
One who’s purged all their stains, steady in ethics, possessing truth and self-control: they are truly worthy of the ocher robe.’
Còn người nào đã nôn ra cấu uế, khéo định tĩnh trong các giới, đầy đủ sự tự chế và chân thật, chính người ấy xứng đáng với y cà-sa.
Vipannasīlo dummedho, pākaṭo kāmakāriyo; Vibbhantacitto nissukko, na so kāsāvamarahati.
Devoid of virtue, a simpleton, wild, doing what they like, their minds astray, indolent: they are not worthy of the ocher robe.
Người nào giới bị hư hoại, vô trí, nổi tiếng là kẻ làm theo dục vọng, tâm tán loạn, không có thiện pháp trong sạch, người ấy không xứng đáng với y cà-sa.
Yo ca sīlena sampanno, vītarāgo samāhito; Odātamanasaṅkappo, sa ve kāsāvamarahati.
One accomplished in ethics, free of greed, serene, their heart’s intention pure: they are truly worthy of the ocher robe.
Còn người nào đầy đủ giới hạnh, ly tham, định tĩnh, có tâm tư trong sạch, chính người ấy xứng đáng với y cà-sa.
Uddhato unnaḷo bālo, sīlaṁ yassa na vijjati; Odātakaṁ arahati, kāsāvaṁ kiṁ karissati.
The haughty, insolent fool, who has no ethics at all, is worthy of a white robe—what use is an ocher robe for them?
Người nào có tâm trạo cử, kiêu mạn, ngu dốt, không có giới hạnh, người ấy xứng đáng với y trắng. Y cà-sa sẽ làm được gì?
Bhikkhū ca bhikkhuniyo ca, duṭṭhacittā anādarā; Tādīnaṁ mettacittānaṁ, niggaṇhissantyanāgate.
In the future, monks and nuns with corrupt hearts, lacking regard for others, will disparage those with hearts of loving-kindness.
Trong tương lai, các tỳ khưu và tỳ khưu ni có tâm ác độc, không tôn kính, sẽ đàn áp những bậc như vậy, là những vị có tâm từ.
Sikkhāpentāpi therehi, bālā cīvaradhāraṇaṁ; Na suṇissanti dummedhā, pākaṭā kāmakāriyā.
Though trained in wearing the robe by senior monks, simpletons will not listen, wild, doing what they like.
Dù được các trưởng lão dạy dỗ về cách đắp y, những kẻ ngu dốt, vô trí, nổi tiếng là làm theo dục vọng, sẽ không lắng nghe.
Te tathā sikkhitā bālā, aññamaññaṁ agāravā; Nādiyissantupajjhāye, khaḷuṅko viya sārathiṁ.
With that kind of attitude to training, those fools won’t respect each other, or take any notice of their mentors, like a wild colt with its charioteer.
Những kẻ ngu dốt được dạy dỗ như vậy, không tôn trọng lẫn nhau, sẽ không chấp nhận các vị thầy tế độ, giống như con ngựa bất kham đối với người đánh xe.
Evaṁ anāgataddhānaṁ, paṭipatti bhavissati; Bhikkhūnaṁ bhikkhunīnañca, patte kālamhi pacchime.’
Even so, in the future, this will be the practice of monks and nuns when the latter days have come.
Như vậy, trong thời vị lai, khi thời cuối cùng đến, sự thực hành của các tỳ khưu và tỳ khưu ni sẽ trở nên (sai lệch).
Purā āgacchate etaṁ, anāgataṁ mahabbhayaṁ; Subbacā hotha sakhilā, aññamaññaṁ sagāravā.
Before this frightening future arrives, be easy to admonish, courteous in speech, and respect one another.
Trước khi mối nguy lớn lao trong tương lai này đến, hãy là người dễ dạy, ôn hòa, và tôn trọng lẫn nhau.
Mettacittā kāruṇikā, Hotha sīlesu saṁvutā; Āraddhavīriyā pahitattā, Niccaṁ daḷhaparakkamā.
Have hearts of love and compassion, and please do keep your precepts. Be energetic, resolute, and always staunchly vigorous.
Hãy có tâm từ, lòng bi, thu thúc trong các giới; hãy có tinh tấn đã được khởi sự, có tâm hướng đến (Niết-bàn), luôn luôn nỗ lực kiên cố.
Pamādaṁ bhayato disvā, Appamādañca khemato; Bhāvethaṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ, Phusantā amataṁ padan”ti.
… Phusso thero ….
Seeing negligence as fearful, and diligence as a sanctuary, develop the eightfold path, realizing the state free of death.”
…
Hãy thấy sự dễ duôi là đáng sợ và sự không dễ duôi là an ổn, hãy tu tập Bát Chánh Đạo, trong khi chứng ngộ trạng thái bất tử.