- Theragāthā 16.9
- Vīsatinipāta
- Paṭhamavagga
Anuruddhattheragāthā
“Pahāya mātāpitaro, bhaginī ñātibhātaro; Pañca kāmaguṇe hitvā, anuruddhova jhāyati.
Bản dịch
Anuruddhattheragāthā
BJT 892“Sau khi lìa bỏ mẹ và cha, chị em gái, thân quyến, và anh em trai, sau khi từ bỏ năm loại dục trần, chính Anuruddha tham thiền.
BJT 893Được cung phụng với các điệu vũ và bài ca, có sự đánh thức bởi cồng và xập xõa; vì điều ấy, được thích thú ở lãnh địa của Ma Vương, tôi đã không đạt đến sự thanh tịnh.
BJT 894Và sau khi đã hoàn toàn vượt qua điều ấy, được thích thú ở Giáo Pháp của đức Phật, sau khi đã tự mình vượt qua mọi dòng nước lũ, chính Anuruddha tham thiền.
BJT 895Các sắc, các thinh, các vị, các hương, các xúc, và các điều làm thích ý, và sau khi đã tự mình vượt qua các điều này, chính Anuruddha tham thiền.
BJT 896Trong khi trở về sau khi khất thực, một mình, không người thứ hai, vị hiền trí Anuruddha, không còn lậu hoặc, tìm kiếm các mảnh vải bị quăng bỏ.
BJT 897Vị hiền trí Anuruddha, có ý tứ, không còn lậu hoặc, đã gom lại, đã chọn lấy, đã giặt, đã nhuộm, đã mặc vào các mảnh vải bị quăng bỏ.
BJT 898Người nào có ham muốn lớn lao, không tự hoan hỷ (không tri túc), giao du, và tự kiêu, đối với người ấy, các pháp này hiện diện: các pháp ác liên quan đến phiền não.
BJT 899Và vị nào có niệm, có ham muốn ít, tự hoan hỷ (tri túc), không khuấy rối, thích thú việc tách ly, được hân hoan, có sự nỗ lực tinh tấn thường xuyên.
BJT 900Đối với vị ấy, các pháp này hiện diện: các pháp thiện góp phần vào sự giác ngộ, và vị ấy không còn lậu hoặc, bậc Đại Ẩn Sĩ đã nói như vậy.
BJT 901Biết được sự suy tư của tôi, bậc Đạo Sư, đấng Vô Thượng ở thế gian, đã đến bên tôi bằng thần thông, với cơ thể được tạo thành bởi ý.
BJT 902Vào lúc sự suy tư đã có ở tôi, do đó Ngài đã thuyết giảng thêm nữa. Được thỏa thích ở các pháp không chướng ngại, đức Phật đã thuyết giảng về các pháp không chướng ngại.
BJT 903Vì thế, sau khi hiểu được Giáo Pháp, được thích thú ở lời giáo huấn, tôi đã an trú. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 904Đã năm mươi lăm năm kể từ khi tôi là vị chuyên về oai nghi ngồi (không nằm), đã hai mươi lăm năm kể từ khi sự buồn ngủ đã được xóa sạch.
BJT 905Việc thở ra và thở vào đã không còn đối với vị có tâm đã được đình chỉ như thế ấy. Không còn dục vọng, sau khi hướng đến sự an tịnh, bậc hữu nhãn viên tịch Niết Bàn.
BJT 906Với tâm không thụ động, vị ấy đã chịu đựng cảm thọ; sự giải thoát của tâm tựa như sự diệt tắt của ngọn lửa đã được cháy sáng.
BJT 907Giờ đây, những pháp cuối cùng này của bậc hiền trí có xúc là pháp thứ năm, sẽ không còn các pháp nào khác vào lúc bậc Toàn Giác viên tịch Niết Bàn.
BJT 908Này kẻ dụ dỗ, giờ đây, không có việc cư ngụ lần nữa ở tập thể chư Thiên, việc luân hồi tái sanh đã được triệt tiêu, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 909Vị tỳ khưu ấy, với năng lực về các loại thần thông, về việc tử và sanh, nhìn thấy được chư Thiên vào lúc hợp thời, đối với vị ấy thế gian luôn cả Phạm Thiên giới được nhận biết bằng một ngàn cách trong giây lát.
BJT 910Trước đây, tôi đã là Annabhāra, nghèo khó, người mang vác cỏ khô (cho gia súc ăn), tôi đã hộ độ vị Sa-môn Upariṭṭha có danh tiếng.
BJT 911Tôi đã được sanh vào dòng dõi Sakya, người ta đã biết đến tôi là ‘Anuruddha,’ được cung phụng với các điệu vũ và bài ca, có sự đánh thức bởi cồng và xập xõa.
BJT 912Khi ấy, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác, bậc Đạo Sư, vị không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu. Sau khi đã có tâm tịnh tín ở Ngài, tôi đã xuất gia sống đời không nhà.
BJT 913Tôi biết được đời sống trong thời quá khứ, nơi đã được tôi sống trước đây; tôi đã tồn tại một trăm kiếp sống ở giữa chư Thiên cõi Đạo Lợi.
BJT 914Là chúa tể của loài người, tôi đã cai quản vương quốc bảy lần, có sự chiến thắng khắp bốn phương, chúa tể của Jambusaṇḍa. Tôi đã chỉ dạy theo lẽ phải, không bằng gậy, không bằng dao.
BJT 915Từ đây bảy lần, từ chỗ kia bảy lần, là mười bốn lần luân hồi, vào khi ấy, ngự ở thế giới chư Thiên, tôi đã biết rõ về chỗ cư ngụ.
BJT 916Khi định có năm chi phần được an tịnh, được phát triển ở nhất điểm, tôi đạt được tịnh (giác chi); Thiên nhãn của tôi đã được trong sạch.
BJT 917Trú ở thiền có năm chi phần, tôi biết được sự tử và sự sanh, việc đến, việc ra đi, bản thể này và bản thể khác của các chúng sanh.
BJT 918Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành, vật mang nặng đã được đặt xuống, lối dẫn đến hiện hữu đã được xóa sạch.
BJT 919Tại ngôi làng Veḷuva của xứ Vajji, bên dưới lùm tre, do sự cạn kiệt của mạng sống, tôi sẽ Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”
Đại đức trưởng lão Anuruddha đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Anuruddha.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Pahāya mātāpitaro, bhaginī ñātibhātaro; Pañca kāmaguṇe hitvā, anuruddhova jhāyati.
Leaving my mother and father behind, as well as sisters, kinsmen, and brothers; having given up the five sensual stimuli, Anuruddha practices absorption.
“Từ bỏ mẹ cha, chị em, bà con, anh em; từ bỏ năm dục lạc, Anuruddha này đang thiền định.”
Sameto naccagītehi, sammatāḷappabodhano; Na tena suddhimajjhagaṁ, mārassa visaye rato.
Surrounded by song and dance, awakened by cymbals and gongs, he did not find purification while delighting in Māra’s domain.
“Được vây quanh bởi ca múa, được đánh thức bởi tiếng não bạt; do đó, tôi không đạt được sự thanh tịnh, vì còn vui thích trong cảnh giới của Ma vương.”
Etañca samatikkamma, rato buddhassa sāsane; Sabboghaṁ samatikkamma, anuruddhova jhāyati.
But he has gone beyond all that, and delights in the Buddha’s teaching. Having crossed over the entire flood, Anuruddha practices absorption.
“Vượt qua cả điều này, hoan hỷ trong giáo pháp của Đức Phật; vượt qua tất cả bộc lưu, Anuruddha này đang thiền định.”
Rūpā saddā rasā gandhā, phoṭṭhabbā ca manoramā; Ete ca samatikkamma, anuruddhova jhāyati.
Piṇḍapātamatikkanto,
Sights, sounds, tastes, smells, and touches so delightful: having crossed over these as well, Anuruddha practices absorption.
Returning from almsround,
“Sắc, thanh, hương, vị, và xúc chạm khả ái; vượt qua cả những điều này, Anuruddha này đang thiền định.”
“Sau khi đi khất thực về, vị ẩn sĩ một mình, không bạn đồng hành; Anuruddha, bậc vô lậu, tìm kiếm những tấm y phấn tảo.”
Vicinī aggahī dhovi, rajayī dhārayī muni; Paṁsukūlāni matimā, anuruddho anāsavo.
The thoughtful sage selected rags from the dust heap; he picked them up, washed, dyed, and wore them; Anuruddha is without defilements.
“Vị ẩn sĩ đã chọn lựa, nhặt lên, giặt giũ, nhuộm, và mặc vào; bậc trí tuệ, Anuruddha, bậc vô lậu, (mặc) những tấm y phấn tảo.”
Mahiccho ca asantuṭṭho, saṁsaṭṭho yo ca uddhato; Tassa dhammā ime honti, pāpakā saṅkilesikā.
The principles of someone who has many wishes and is not content, who socializes and is conceited, are wicked and corrupting.
“Người nào có nhiều tham muốn, không biết đủ, sống chung đụng, và tâm trạo cử; người ấy có những pháp này: những pháp xấu ác, gây ô nhiễm.”
Sato ca hoti appiccho, santuṭṭho avighātavā; Pavivekarato vitto, niccamāraddhavīriyo.
But someone who is mindful, few of wishes, content and untroubled, delighting in seclusion, joyful, always resolute and energetic;
“Người nào có chánh niệm, ít ham muốn, biết đủ, không bị phiền não; vui thích viễn ly, hoan hỷ, và luôn tinh tấn.”
Tassa dhammā ime honti, kusalā bodhipakkhikā; Anāsavo ca so hoti, iti vuttaṁ mahesinā.
their principles are skillful, on the side of awakening; they are without defilements—so said the great seer.
“Người ấy có những pháp này: những pháp thiện, thuộc phần giác ngộ; và người ấy trở thành bậc vô lậu, như lời bậc Đại Sĩ đã dạy.”
Mama saṅkappamaññāya, satthā loke anuttaro; Manomayena kāyena, iddhiyā upasaṅkami.
“Knowing my thoughts, the supreme Teacher in the world came to me in a mind-made body, using his psychic power.
“Biết được ý nghĩ của tôi, bậc Đạo Sư vô thượng trong đời; với thân do ý tạo thành, bằng thần thông, Ngài đã đến gần.”
Yadā me ahu saṅkappo, tato uttari desayi; Nippapañcarato buddho, nippapañcamadesayi.
He taught me more than I had thought of. The Buddha who loves non-proliferation taught me non-proliferation.
“Khi ý nghĩ của tôi khởi lên, Ngài đã dạy pháp cao hơn nữa; Đức Phật, bậc vui thích trong pháp vô hý luận, đã dạy về pháp vô hý luận.”
Tassāhaṁ dhammamaññāya, vihāsiṁ sāsane rato; Tisso vijjā anuppattā, kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Understanding that teaching, I happily did his bidding. I’ve attained the three knowledges, and have fulfilled the Buddha’s instructions.
“Hiểu được pháp của Ngài, tôi sống hoan hỷ trong giáo pháp; ba minh đã được chứng đắc, giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.”
Pañcapaññāsavassāni, yato nesajjiko ahaṁ; Pañcavīsativassāni, yato middhaṁ samūhataṁ.
For the last fifty-five years I have not lain down to sleep. Twenty-five years have passed since I eradicated drowsiness.”
“Đã năm mươi lăm năm, kể từ khi tôi thực hành hạnh không nằm; đã hai mươi lăm năm, kể từ khi tôi đoạn trừ cơn buồn ngủ.”
Nāhu assāsapassāsā, ṭhitacittassa tādino; Anejo santimārabbha, cakkhumā parinibbuto.
“There was no more breathing for the unaffected one of steady heart. Imperturbable, committed to peace, the Clear-eyed One was fully quenched.
“Không còn hơi thở ra vào, đối với bậc có tâm an trú, bậc Như Nhiên; không còn dao động, hướng đến tịch tịnh, bậc có Mắt đã nhập Niết-bàn.”
Asallīnena cittena, vedanaṁ ajjhavāsayi; Pajjotasseva nibbānaṁ, vimokkho cetaso ahu.
He put up with painful feelings without flinching. The liberation of his heart was like the extinguishing of a lamp.”
Với tâm không nao núng, Ngài đã chịu đựng cảm thọ; Sự giải thoát của tâm thức, giống như ngọn đèn dầu đã tắt.
Ete pacchimakā dāni, munino phassapañcamā; Nāññe dhammā bhavissanti, sambuddhe parinibbute.
“Now these touches and the other four are the last to be experienced by the sage; nor will there be other phenomena since the Buddha was fully quenched.
Đối với bậc Mâu-ni, các pháp này có xúc là thứ năm, nay là những pháp cuối cùng; Khi bậc Chánh Đẳng Giác nhập Niết-bàn, sẽ không còn các pháp khác sanh khởi.
Natthi dāni punāvāso, devakāyasmi jālini; Vikkhīṇo jātisaṁsāro, natthi dāni punabbhavo.
O Penelope, weaver of the web—there’s no more abodes in the heavenly host. Transmigration through births is finished, now there’ll be no more future lives.”
Này Jālinī, nay không còn trú ngụ lại trong cõi chư thiên; Vòng luân hồi sanh tử đã tận diệt, nay không còn tái sanh nữa.
Yassa muhuttena sahassadhā, Loko saṁvidito sabrahmakappo; Vasī iddhiguṇe cutūpapāte, Kāle passati devatā sa bhikkhu.
Annabhāro pure āsiṁ,
“The mendicant by whom the galaxy with the age of the Divinity are known in an hour—that master of psychic ability sees the gods at the time they pass away and are reborn.”
“In the past I was Annabhāra,
Vị Tỳ-khưu nào trong khoảnh khắc biết rõ ngàn thế giới cùng với cõi Phạm thiên, làm chủ thần thông lực và sự sanh tử (của chúng sanh), vị ấy thấy được chư thiên vào đúng lúc.
Thuở trước, ta là Annabhāra, một người nghèo khó cắt cỏ; Ta đã cúng dường vị Sa-môn Upariṭṭha, bậc có danh tiếng.
Somhi sakyakule jāto, anuruddhoti maṁ vidū; Upeto naccagītehi, sammatāḷappabodhano.
Then I was reborn in the Sakyan clan, where I was known as ‘Anuruddha’. Surrounded by song and dance, I was awakened by cymbals and gongs.
Ta đây sanh trong dòng Thích-ca, người ta biết ta là Anuruddha; Sống trong cảnh ca múa, được đánh thức bởi tiếng não bạt và chũm chọe.
Athaddasāsiṁ sambuddhaṁ, satthāraṁ akutobhayaṁ; Tasmiṁ cittaṁ pasādetvā, pabbajiṁ anagāriyaṁ.
Then I saw the Buddha, the Teacher, fearing nothing from any quarter; filling my mind with confidence in him, I went forth to homelessness.
Rồi ta đã thấy bậc Chánh Đẳng Giác, bậc Đạo Sư không còn sợ hãi; Với tâm tịnh tín nơi Ngài, ta đã xuất gia vào đời sống không nhà.
Pubbenivāsaṁ jānāmi, yattha me vusitaṁ pure; Tāvatiṁsesu devesu, aṭṭhāsiṁ sakkajātiyā.
I know my past lives, the places I used to live. I was born as Sakka, and stayed among the thirty-three gods.
Ta biết các kiếp quá khứ, nơi ta đã từng sống trước đây; Ta đã từng là Đế-thích giữa các vị trời ở cõi Đao-lợi.
Sattakkhattuṁ manussindo, ahaṁ rajjamakārayiṁ; Cāturanto vijitāvī, jambusaṇḍassa issaro; Adaṇḍena asatthena, dhammena anusāsayiṁ.
Seven times I was a king of men ruling a kingdom, victorious in the four quarters, lord of the Black Plum Tree Land. Without rod or sword, I governed by principle.
Bảy lần ta làm vua của loài người, đã trị vì vương quốc; Là người chinh phục bốn phương, làm chủ cõi Diêm-phù-đề; Ta đã giáo hóa bằng chánh pháp, không dùng hình phạt, không dùng vũ khí.
Ito satta tato satta, saṁsārāni catuddasa; Nivāsamabhijānissaṁ, devaloke ṭhito tadā.
Seven from here, seven from there—fourteen transmigrations in all. I shall remember my past lives: at that time I stayed in the realm of the gods.
Bảy lần từ đây, bảy lần từ đó, mười bốn lần luân hồi; Khi đang ở cõi trời, ta đã biết rõ nơi mình từng ở.
Pañcaṅgike samādhimhi, sante ekodibhāvite; Paṭippassaddhiladdhamhi, dibbacakkhu visujjhi me.
I have gained complete tranquility in immersion with five factors. Peaceful, serene, my clairvoyance is purified.
Trong định có năm chi, khi an tịnh và được tu tập đến nhất tâm; Khi đạt được sự an tịnh, thiên nhãn của ta đã được thanh tịnh.
Cutūpapātaṁ jānāmi, sattānaṁ āgatiṁ gatiṁ; Itthabhāvaññathābhāvaṁ, jhāne pañcaṅgike ṭhito.
Steady in five-factored absorption, I know the passing away and rebirth of beings, their coming and going, their lives in this state and that.
An trú trong thiền có năm chi, ta biết sự sanh tử của chúng sanh, sự đến và đi của họ, trạng thái này và trạng thái khác.
Pariciṇṇo mayā satthā, … pe … bhavanetti samūhatā.
I’ve served the Teacher and fulfilled the Buddha’s instructions. The heavy burden is laid down, the leash to existence is eradicated.
Ta đã hầu cận bậc Đạo Sư... Dây dẫn đến tái sanh đã được nhổ bật.
Vajjīnaṁ veḷuvagāme, ahaṁ jīvitasaṅkhayā; Heṭṭhato veḷugumbasmiṁ, nibbāyissaṁ anāsavo”ti.
In the Vajjian village of Veḷuva, my life will come to an end. Beneath a thicket of bamboos, being undefiled, I will be fully extinguished.”
Tại làng Veḷuva của xứ Vajjī, do mạng sống đã tận, ta, người không còn lậu hoặc, sẽ nhập Niết-bàn dưới một bụi tre.
… Anuruddho thero ….
... Trưởng lão Anuruddha...