- Theragāthā 16.8
- Vīsatinipāta
- Paṭhamavagga
Aṅgulimālattheragāthā
“Gacchaṁ vadesi samaṇaṭṭhitomhi, Mamañca brūsi ṭhitamaṭṭhitoti; Pucchāmi taṁ samaṇa etamatthaṁ, ‘Kathaṁ ṭhito tvaṁ ahamaṭṭhitomhi’”.
Bản dịch
Aṅgulimālattheragāthā
BJT 866“Này ông Sa-môn, trong khi ông đang đi, ông lại nói: ‘Ta đã đứng lại,’ còn tôi đã đứng lại thì ông lại nói: ‘Ngươi chưa đứng lại.’ Này ông Sa-môn, tôi hỏi ông về ý nghĩa này: ‘Tại sao ông đã đứng lại, còn tôi thì chưa đứng lại?’
BJT 867‘Này Aṅgulimāla, Ta luôn luôn đứng lại sau khi đã ngưng hẳn việc hành hạ đối với tất cả chúng sanh, còn ngươi thì không tự hạn chế đối với các sinh mạng, vì thế Ta đã đứng lại, còn ngươi thì chưa đứng lại.’
BJT 868Quả thật, vị đại ẩn sĩ, bậc Sa-môn đã đi vào khu rừng lớn, lâu nay đã được con kính ngưỡng. Sau khi nghe Ngài nói câu kệ ngôn gắn liền với Giáo Pháp, con đây sẽ từ bỏ ngàn điều xấu xa.
BJT 869Nói như vậy, kẻ cướp đã quăng bỏ thanh gươm và vũ khí vào hố, vào khe núi, vào vực thẳm. Kẻ cướp đã đảnh lễ các bàn chân của đấng Thiện Thệ, rồi ngay tại chỗ ấy đã cầu xin đức Phật việc xuất gia.
BJT 870Và đức Phật, đấng Bi Mẫn, vị Đại Ẩn Sĩ, bậc Đạo Sư của thế gian luôn cả chư Thiên, khi ấy đã nói với vị ấy rằng: ‘Này tỳ khưu, hãy đến;’ chính điều này đã là trạng thái tỳ khưu đối với vị ấy.
BJT 871Và vị nào trước đây đã bị xao lãng, về sau không bị xao lãng, vị ấy chiếu sáng thế gian này, tựa như mặt trăng được thoát khỏi đám mây.
BJT 872Đối với vị nào, nghiệp ác đã tạo được chận đứng nhờ vào thiện pháp, vị ấy chiếu sáng thế gian này, tựa như mặt trăng được thoát khỏi đám mây.
BJT 873Thật vậy, vị tỳ khưu trẻ tuổi nào gắn bó vào lời dạy của đức Phật, vị ấy chiếu sáng thế gian này, tựa như mặt trăng được thoát khỏi đám mây.
BJT 874Mong rằng ngay cả những kẻ thù của tôi hãy lắng nghe lời giảng về Giáo Pháp. Mong rằng ngay cả những kẻ thù của tôi hãy gắn bó vào lời dạy của đức Phật. Mong rằng ngay cả những kẻ thù của tôi hãy kết giao với những người tốt, là những người giúp cho (người khác) hành theo Chánh Pháp.
BJT 875Mong rằng chính những kẻ thù của tôi hãy lắng nghe Giáo Pháp của những vị thuyết giảng về nhẫn nại và ca ngợi về sự không chống đối vào lúc thích hợp, và mong rằng họ hãy thực hành đúng theo điều ấy.
BJT 876Bởi vì con người ấy sẽ không hãm hại tôi hoặc bất cứ người nào khác, có thể đạt được sự an tịnh tuyệt đối, có thể bảo vệ các loài cử động hoặc không cử động.
BJT 877Thật vậy, những người đào kênh dẫn nước, những người làm tên uốn thẳng cây tên, những người thợ mộc uốn nắn thanh gỗ, những vị sáng suốt huấn luyện bản thân.
BJT 878Nhiều người thuần phục bằng gậy gộc, bằng các móc câu và các roi vọt. Tôi được thuần phục không bằng gậy, không bằng dao bởi vị như thế ấy.
BJT 879‘Người Vô Hại’ là tên của tôi, trước đây là kẻ hãm hại. Hôm nay, tôi có tên đúng đắn, tôi không hãm hại bất cứ người nào.
BJT 880Trước đây, tôi đã là kẻ cướp, được biết tiếng là ‘Aṅgulimāla.’ Trong khi bị cuốn trôi bởi vòng nước lũ mạnh mẽ, tôi đã đi đến nương nhờ đức Phật.
BJT 881Trước đây, tôi đã có bàn tay vấy máu, được biết tiếng là ‘Aṅgulimāla.’ Hãy nhìn xem việc đi đến nương nhờ, (nhờ vậy) lối dẫn đến hiện hữu đã được xóa sạch.
BJT 882Sau khi tạo ra nhiều nghiệp như thế ấy, có sự đưa đến khổ cảnh, chịu tác động bởi quả thành tựu của nghiệp, tôi thọ dụng thức ăn không phải nợ nần.
BJT 883Những kẻ ngu si, có trí tồi, bám víu vào sự xao lãng, còn những người thông minh bảo vệ sự không xao lãng, tựa như bảo vệ tài sản hạng nhất.
BJT 884Ngươi chớ bám víu vào sự xao lãng, chớ bám víu vào sự thân thiết với niềm thích thú dục trần, bởi vì người không bị xao lãng, trong khi tham thiền, đạt được sự an lạc tối thượng.
BJT 885Việc đi đến (gặp đức Phật) của tôi là tốt đẹp, không phải là việc tránh xa (Ngài), điều ấy đã được khuyên bảo một cách sái quấy đến tôi là không đúng; trong số các pháp được phân hạng, tôi đã đạt đến pháp cao nhất.
BJT 886Việc đi đến (gặp đức Phật) của tôi là tốt đẹp, không phải là việc tránh xa (Ngài), điều ấy đã được khuyên bảo một cách sái quấy đến tôi là không đúng; ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 887Ở khu rừng hoặc ở gốc cây, ở những núi non hoặc ở những hang động, tại nơi ấy, ở ngay tại nơi ấy, vào lúc ấy, tôi đã đứng, với tâm tư chấn động.
BJT 888Tôi nằm, tôi đứng một cách an lạc, tôi duy trì mạng sống một cách an lạc, không còn có bẫy sập của Ma Vương, tôi đã được bậc Đạo Sư thương xót.
BJT 889Trước đây, tôi đã là dòng dõi Bà-la-môn, là cao quý từ hai tộc (cha và mẹ), hôm nay tôi đây là người con trai của đức Thiện Thệ, đấng Pháp Vương, bậc Đạo Sư.
BJT 890Có tham ái đã được xa lìa, không còn chấp thủ, có cánh cửa (của các giác quan) đã được canh phòng, đã khéo được thu thúc, sau khi tiêu diệt gốc rễ của sầu khổ, tôi đã đạt được sự cạn kiệt của các lậu hoặc.
BJT 891Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành, vật mang nặng đã được đặt xuống, lối dẫn đến hiện hữu đã được xóa sạch.”
Đại đức trưởng lão Aṅgulimāla đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Aṅgulimāla.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Gacchaṁ vadesi samaṇaṭṭhitomhi, Mamañca brūsi ṭhitamaṭṭhitoti; Pucchāmi taṁ samaṇa etamatthaṁ, ‘Kathaṁ ṭhito tvaṁ ahamaṭṭhitomhi’”.
“While walking, ascetic, you say ‘I’ve stopped.’ And I have stopped, but you tell me I’ve not. I’m asking you this, ascetic: how is it you’ve stopped and I have not?”
Này Sa-môn, ngài đang đi mà lại nói: ‘Ta đã dừng lại,’ còn tôi đang dừng lại thì ngài lại bảo là chưa dừng. Này Sa-môn, tôi xin hỏi ngài về ý nghĩa này: ‘Tại sao ngài đã dừng lại, còn tôi thì chưa dừng lại?’
“Ṭhito ahaṁ aṅgulimāla sabbadā, Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṁ; Tuvañca pāṇesu asaññatosi, Tasmā ṭhitohaṁ tuvamaṭṭhitosi”.
“Aṅgulimāla, I have forever stopped—I’ve laid aside violence toward all creatures. But you can’t stop yourself <j>from harming living creatures; that’s why I’ve stopped, but you have not.”
Này Aṅgulimāla, Ta đã dừng lại mãi mãi, đã từ bỏ trừng phạt đối với tất cả chúng sanh. Còn ngươi thì không tự chế đối với các loài hữu tình. Vì thế, Ta đã dừng lại, còn ngươi thì chưa dừng lại.
“Cirassaṁ vata me mahito mahesī, Mahāvanaṁ samaṇo paccapādi; Sohaṁ cajissāmi sahassapāpaṁ, Sutvāna gāthaṁ tava dhammayuttaṁ”.
“Oh, at long last a renowned great seer, an ascetic has followed me into this deep wood. Now that I’ve heard your verse on Dhamma, I shall discard a thousand evils.”
Thật đã lâu thay, bậc Đại Sĩ, bậc Sa-môn được tôn kính, đã đến khu rừng lớn vì lợi ích của con. Sau khi nghe kệ ngôn hợp pháp của ngài, con sẽ từ bỏ ngàn điều ác.
Icceva coro asimāvudhañca, Sobbhe papāte narake anvakāsi; Avandi coro sugatassa pāde, Tattheva pabbajjamayāci buddhaṁ.
With these words, <j>the bandit hurled his sword and weapons down a cliff into an abyss. He venerated the Holy One’s feet, and requested the going forth <j>from the Buddha right away.
Vừa nói xong, tên cướp đã vứt gươm và vũ khí xuống vực thẳm, khe sâu, hố thẳm. Tên cướp đảnh lễ dưới chân bậc Thiện Thệ, và ngay tại đó, đã xin Đức Phật cho được xuất gia.
Buddho ca kho kāruṇiko mahesi, Yo satthā lokassa sadevakassa; “Tamehi bhikkhū”ti tadā avoca, Eseva tassa ahu bhikkhubhāvo.
Then the Buddha, the compassionate great seer, the Teacher of the world with its gods, said to him, “Come, monk!” And with that he became a monk.
Và Đức Phật, bậc bi mẫn, bậc Đại Sĩ, là Đạo Sư của thế giới cùng với chư thiên, lúc ấy đã nói: ‘Hãy đến, tỳ khưu.’ Chính lời ấy đã trở thành sự xuất gia của vị ấy.
“Yo ca pubbe pamajjitvā, pacchā so nappamajjati; Somaṁ lokaṁ pabhāseti, abbhā muttova candimā.
“He who once was heedless, but turned to heedfulness, lights up the world, like the moon freed from clouds.
Người nào trước kia đã buông lung, sau đó không buông lung nữa, người ấy soi sáng thế gian này, như vầng trăng thoát khỏi mây che.
Yassa pāpaṁ kataṁ kammaṁ, kusalena pidhīyati; Somaṁ lokaṁ pabhāseti, abbhā muttova candimā.
Someone whose bad deed is supplanted by the good, lights up the world, like the moon freed from clouds.
Nghiệp ác nào của người nào đã được làm, được thiện nghiệp che lấp, người ấy soi sáng thế gian này, như vầng trăng thoát khỏi mây che.
Yo have daharo bhikkhu, yuñjati buddhasāsane; Somaṁ lokaṁ pabhāseti, abbhā muttova candimā.
A young mendicant devoted to the Buddha’s teaching, lights up the world, like the moon freed from clouds.
Vị tỳ khưu trẻ tuổi nào, nỗ lực trong giáo pháp của Đức Phật, vị ấy soi sáng thế gian này, như vầng trăng thoát khỏi mây che.
Disāpi me dhammakathaṁ suṇantu, Disāpi me yuñjantu buddhasāsane; Disāpi me te manuje bhajantu, Ye dhammamevādapayanti santo.
May even my enemies <j>hear a Dhamma talk! May even my enemies <j>devote themselves to the Buddha’s teaching! May even my enemies associate with those good men who establish others in the Dhamma!
Mong rằng các kẻ thù của tôi cũng được nghe pháp thoại, mong rằng các kẻ thù của tôi cũng nỗ lực trong giáo pháp của Đức Phật. Mong rằng các kẻ thù của tôi cũng thân cận những người hiền thiện, những vị chỉ dạy chánh pháp.
Disā hi me khantivādānaṁ, avirodhappasaṁsinaṁ; Suṇantu dhammaṁ kālena, tañca anuvidhīyantu.
May even my enemies <j>hear Dhamma at the right time, from those who teach acceptance, praising acquiescence; and may they follow that path!
Mong rằng các kẻ thù của tôi được nghe chánh pháp đúng thời từ những vị thuyết giảng về nhẫn nại, tán thán sự không chống đối, và mong họ thực hành theo lời dạy ấy.
Na hi jātu so mamaṁ hiṁse, aññaṁ vā pana kiñcanaṁ; Pappuyya paramaṁ santiṁ, rakkheyya tasathāvare.
For then they’d never wish harm upon myself or others. Having arrived at ultimate peace, they’d look after creatures firm and frail.
Mong rằng người ấy không bao giờ làm hại tôi, hay bất cứ ai khác. Sau khi đạt được sự an tịnh tối thượng, mong người ấy bảo vệ các loài động và bất động.
Udakañhi nayanti nettikā, Usukārā namayanti tejanaṁ; Dāruṁ namayanti tacchakā, Attānaṁ damayanti paṇḍitā.
For while irrigators guide water, fletchers bend arrows straight, and carpenters bend timber straight, the astute tame themselves.
Người dẫn nước thì dẫn nước đi, người làm tên thì uốn tên cho thẳng, người thợ mộc thì uốn gỗ, bậc hiền trí thì nhiếp phục chính mình.
Daṇḍeneke damayanti, aṅkusebhi kasāhi ca; Adaṇḍena asatthena, ahaṁ dantomhi tādinā.
Some tame by using the rod, some with goads, and some with whips. But the unaffected one tamed me without rod or sword.
“Một số người dùng gậy gộc, dùng móc câu và roi vọt để điều phục; còn tôi, không gậy, không gươm, đã được bậc Như Nhiên điều phục.”
‘Ahiṁsako’ti me nāmaṁ, hiṁsakassa pure sato; Ajjāhaṁ saccanāmomhi, na naṁ hiṁsāmi kiñcanaṁ.
My name is ‘Harmless’, though I used to be harmful. The name I bear today is true, for I do no harm to anyone.
“Tên tôi là ‘Vô Hại’, dù trước kia tôi là kẻ ‘Gây Hại’. Ngày nay, tôi thật đúng với tên mình, tôi không làm hại bất cứ ai.”
Coro ahaṁ pure āsiṁ, aṅgulimāloti vissuto; Vuyhamāno mahoghena, buddhaṁ saraṇamāgamaṁ.
I used to be a bandit, the notorious Aṅgulimāla. Swept away in a great flood, I went to the Buddha for refuge.
“Trước kia, tôi là tên cướp, nổi danh là Aṅgulimāla. Bị dòng thác lớn cuốn trôi, tôi đã đến quy y với Đức Phật.”
Lohitapāṇi pure āsiṁ, aṅgulimāloti vissuto; Saraṇagamanaṁ passa, bhavanetti samūhatā.
I used to have blood on my hands, the notorious Aṅgulimāla. See the refuge I’ve found—the leash to existence is eradicated.
“Trước kia, tôi tay vấy máu, nổi danh là Aṅgulimāla. Hãy xem sự quy y này, dây dẫn đến tái sanh đã được nhổ bật.”
Tādisaṁ kammaṁ katvāna, bahuṁ duggatigāminaṁ; Phuṭṭho kammavipākena, anaṇo bhuñjāmi bhojanaṁ.
I’ve done many of the sort of deeds that lead to a bad destination. The result of my deeds has already struck me, so I enjoy my food free of debt.
“Đã làm nghiệp như thế, nhiều nghiệp dẫn đến khổ cảnh; bị quả báo của nghiệp chạm đến, tôi ăn vật thực mà không mắc nợ.”
Pamādamanuyuñjanti, bālā dummedhino janā; Appamādañca medhāvī, dhanaṁ seṭṭhaṁva rakkhati.
Fools and simpletons devote themselves to negligence. But the wise protect diligence as their best treasure.
“Những kẻ ngu, người thiếu trí, thường buông lung trong phóng dật; còn người trí bảo vệ sự không phóng dật, như tài sản quý giá nhất.”
Mā pamādamanuyuñjetha, mā kāmaratisanthavaṁ; Appamatto hi jhāyanto, pappoti paramaṁ sukhaṁ.
Don’t devote yourself to negligence, or delight in erotic intimacy. For if you’re diligent and practice absorption, you’ll attain ultimate happiness.
“Chớ buông lung trong phóng dật, chớ thân cận với ái dục; người không phóng dật, khi thiền định, sẽ đạt được an lạc tối thượng.”
Svāgataṁ nāpagataṁ, netaṁ dummantitaṁ mama; Savibhattesu dhammesu, yaṁ seṭṭhaṁ tadupāgamaṁ.
It was welcome, not unwelcome, the advice I got was good. Of the well-explained teachings, I arrived at the best.
“Thật là một sự đến tốt đẹp, không phải là sự đến vô ích, đây không phải là quyết định tồi tệ của tôi. Giữa các pháp đã được phân tích, tôi đã đạt đến pháp cao thượng nhất.”
Svāgataṁ nāpagataṁ, netaṁ dummantitaṁ mama; Tisso vijjā anuppattā, kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
It was welcome, not unwelcome, the advice I got was good. I’ve attained the three knowledges, and fulfilled the Buddha’s instructions.”
“Thật là một sự đến tốt đẹp, không phải là sự đến vô ích, đây không phải là quyết định tồi tệ của tôi. Ba minh đã được chứng đắc, giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.”
Araññe rukkhamūle vā, pabbatesu guhāsu vā; Tattha tattheva aṭṭhāsiṁ, ubbiggamanaso tadā.
“In the wilderness, at a tree’s root, on mountains, or in caves—it used to be that wherever I stood, my mind was anxious.
“Trong rừng, hoặc dưới gốc cây, trên núi, hoặc trong hang động; bất cứ nơi đâu, lúc ấy tôi cũng đứng với tâm hoảng sợ.”
Sukhaṁ sayāmi ṭhāyāmi, sukhaṁ kappemi jīvitaṁ; Ahatthapāso mārassa, aho satthānukampito.
But now I lie down happily and stand up happily, I live my life happily, out of Māra’s reach; the Teacher had sympathy for me.
“Tôi ngủ yên, đứng yên, tôi sống cuộc đời an lạc. Tôi đã thoát khỏi bẫy của Ma vương. Ôi, thật là lòng bi mẫn của bậc Đạo Sư!”
Brahmajacco pure āsiṁ, udicco ubhato ahu; Sojja putto sugatassa, dhammarājassa satthuno.
I used to be of brahmin birth, highborn on both sides, now I’m a son of the Holy One, the Teacher, King of Dhamma.
“Trước kia, tôi thuộc dòng dõi Bà-la-môn, cao quý từ cả hai phía cha mẹ. Hôm nay, tôi là con của bậc Thiện Thệ, của Pháp Vương, của bậc Đạo Sư.”
Vītataṇho anādāno, guttadvāro susaṁvuto; Aghamūlaṁ vadhitvāna, patto me āsavakkhayo.
I am rid of craving, free of grasping, my sense doors are guarded and well-restrained. I’ve destroyed the root of gloom, and attained the ending of defilements.
“Không còn tham ái, không còn chấp thủ, các căn được phòng hộ, khéo chế ngự. Đã diệt tận gốc rễ của khổ đau, tôi đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc.”
Pariciṇṇo mayā satthā, kataṁ buddhassa sāsanaṁ; Ohito garuko bhāro, bhavanetti samūhatā”ti.
I’ve served the Teacher and fulfilled the Buddha’s instructions. The heavy burden is laid down, the leash to existence is eradicated.”
“Tôi đã phụng sự bậc Đạo Sư, đã thực hành giáo pháp của Đức Phật. Gánh nặng đã được đặt xuống, dây dẫn đến tái sanh đã được nhổ bật.”
… Aṅgulimālo thero ….
… Trưởng lão Aṅgulimāla …