- Theragāthā 15.1
- Soḷasakanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
THAG 15.1 — Kệ ngôn của Trưởng lão Aññāsikoṇḍañña
Aññāsikoṇḍaññattheragāthā
BJT 673“Sau khi lắng nghe Giáo Pháp có phẩm chất vĩ đại, tôi đây thêm phần tịnh tín. Sự xa lìa luyến ái đã được thuyết giảng là pháp không có chấp thủ về mọi mặt.
BJT 674Có nhiều tranh ảnh ở thế gian, ở vòng cầu trái đất này, tôi nghĩ rằng chúng khuấy động sự suy tư, (theo lẽ) cái đẹp gắn liền với sự luyến ái.
BJT 675Và giống như cơn mưa làm lắng xuống bụi bặm đã bị bốc lên bởi cơn gió, tương tự như thế các sự suy tư được lắng dịu khi nhìn thấy bằng trí tuệ.
BJT 676Khi nhìn thấy bằng trí tuệ rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là vô thường’ thì nhàm chán khổ đau, đây là con đường đưa đến sự thanh tịnh.
BJT 677Khi nhìn thấy bằng trí tuệ rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là khổ đau’ thì nhàm chán khổ đau, đây là con đường đưa đến sự thanh tịnh.
BJT 678Khi nhìn thấy bằng trí tuệ rằng: ‘Tất cả các pháp là vô ngã’ thì nhàm chán khổ đau, đây là con đường đưa đến sự thanh tịnh.
BJT 679Đã được giác ngộ theo sau chư Phật, vị trưởng lão Koṇḍañña có sự cố gắng vững chãi, có sanh tử đã được dứt bỏ, có sự vẹn toàn về Phạm hạnh.
BJT 680Cơn lũ (bốn bộc lưu) và bẫy sập (luyến ái), cây cọc (bướng bỉnh) chắc chắn, ngọn núi (si mê) khó phá tan, sau khi chặt đứt cây cọc và bẫy sập, sau khi đập vỡ núi đá khó đập vỡ, đã vượt qua, đã đi đến bờ kia, chứng thiền, vị ấy được thoát khỏi sự trói buộc của Ma Vương.
BJT 681Vị tỳ khưu tự kiêu, chao đảo, sau khi đi đến với các bạn bè ác xấu, thì chìm đắm trong cơn lũ lớn, bị vùi dập bởi làn sóng.
BJT 682Vị không tự kiêu, không chao đảo, thận trọng, có giác quan đã được thu thúc, có bạn hữu tốt lành, thông minh, có thể thực hiện việc chấm dứt khổ đau.
BJT 683Là người có tay chân giống như các khúc cây màu đen, ốm o, nổi đầy gân, biết chừng mực về cơm ăn nước uống, có tâm ý không biếng nhác.
BJT 684Bị cắn bởi những con ruồi, bởi những con muỗi trong khu rừng, ở trảng cây rộng lớn, tựa như con voi luôn dẫn đầu trong chiến trận, vị có niệm nên chịu đựng tại nơi ấy.
BJT 685Tôi không vui thích sự chết, tôi không vui thích sự sống, và tôi chờ đợi thời điểm, giống như người làm thuê chờ đợi tiền công.
BJT 686Tôi không vui thích sự chết, tôi không vui thích sự sống, và tôi chờ đợi thời điểm, có sự nhận biết rõ, có niệm.
BJT 687Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành, vật mang nặng đã được đặt xuống, lối dẫn đến hiện hữu đã được xóa sạch.
BJT 688Vì mục đích nào mà tôi đã xuất gia, rời nhà sống không nhà, mục đích ấy của tôi đã được thành tựu, tôi còn việc gì với việc sống chung?”
Đại đức trưởng lão Aññākoṇḍañña đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Aññākoṇḍañña.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Verses of the Senior Monks 15.1
- The Book of the Sixteens
- Chapter One
Koṇḍañña Who Understood
1. Kệ của Trưởng lão Aññāsikoṇḍañña
“Esa bhiyyo pasīdāmi, sutvā dhammaṁ mahārasaṁ; Virāgo desito dhammo, anupādāya sabbaso”.
“My confidence grew as I heard the teaching, so full of flavor. Dispassion is what was taught, without any grasping at all.”
“Con lại càng thêm tịnh tín, sau khi nghe Giáo pháp có hương vị tuyệt vời; Giáo pháp về sự ly tham đã được thuyết giảng, hoàn toàn không có sự chấp thủ.”
“Bahūni loke citrāni, asmiṁ pathavimaṇḍale; Mathenti maññe saṅkappaṁ, subhaṁ rāgūpasaṁhitaṁ.
“There are so many pretty things in this vast territory. They disturb one’s thoughts, it seems to me, attractive, provoking lust.
“Có nhiều điều đa dạng ở thế gian, trên mặt đất này; tôi nghĩ rằng chúng khuấy động tư duy về cái đẹp, vốn liên hệ đến tham ái.”
Rajamuhatañca vātena, yathā meghopasammaye; Evaṁ sammanti saṅkappā, yadā paññāya passati.
Just as a rain cloud would settle the dust blown up by the wind, so thoughts settle down when seen with wisdom.
“Giống như đám mây mưa làm lắng dịu lớp bụi bị gió cuốn lên; cũng vậy, các tư duy được lắng dịu, khi người ấy thấy bằng trí tuệ.”
Sabbe saṅkhārā aniccāti, yadā paññāya passati; Atha nibbindati dukkhe, esa maggo visuddhiyā.
All conditions are impermanent—when this is seen with wisdom one grows disillusioned with suffering: this is the path to purity.
“‘Tất cả các pháp hữu vi là vô thường,’ khi người ấy thấy điều này bằng trí tuệ; khi ấy, người ấy nhàm chán đối với khổ, đây là con đường dẫn đến sự thanh tịnh.”
Sabbe saṅkhārā dukkhāti, yadā paññāya passati; Atha nibbindati dukkhe, esa maggo visuddhiyā.
All conditions are suffering—when this is seen with wisdom one grows disillusioned with suffering: this is the path to purity.
“‘Tất cả các pháp hữu vi là khổ,’ khi người ấy thấy điều này bằng trí tuệ; khi ấy, người ấy nhàm chán đối với khổ, đây là con đường dẫn đến sự thanh tịnh.”
Sabbe dhammā anattāti, yadā paññāya passati; Atha nibbindati dukkhe, esa maggo visuddhiyā.
All things are not-self—when this is seen with wisdom one grows disillusioned with suffering: this is the path to purity.”
“‘Tất cả các pháp là vô ngã,’ khi người ấy thấy điều này bằng trí tuệ; khi ấy, người ấy nhàm chán đối với khổ, đây là con đường dẫn đến sự thanh tịnh.”
Buddhānubuddho yo thero, koṇḍañño tibbanikkamo; Pahīnajātimaraṇo, brahmacariyassa kevalī.
“The senior monk awakened after the Buddha, Koṇḍañña, is keenly energetic. He has given up birth and death, and has completed the spiritual journey.”
“Vị Trưởng lão Koṇḍañña, người đã giác ngộ theo sau Đức Phật, có sự tinh tấn mãnh liệt, đã từ bỏ sanh và tử, là người đã hoàn thành trọn vẹn phạm hạnh.”
Oghapāso daḷhakhilo, Pabbato duppadālayo; Chetvā khilañca pāsañca, Selaṁ bhetvāna dubbhidaṁ; Tiṇṇo pāraṅgato jhāyī, Mutto so mārabandhanā.
“There are floods, snares, and strong posts, and a mountain hard to crack; snapping the posts and snares, breaking the mountain so hard to break, crossing over to the far shore, a meditator is freed from Māra’s bonds.
“Bộc lưu là cái bẫy, cái cọc chắc chắn, ngọn núi khó phá vỡ; sau khi cắt đứt cái cọc và cái bẫy, sau khi phá vỡ tảng đá khó vỡ, vị ấy đã vượt qua, đã đến bờ kia, là người thiền định, vị ấy được giải thoát khỏi sự trói buộc của Ma vương.”
Uddhato capalo bhikkhu, mitte āgamma pāpake; Saṁsīdati mahoghasmiṁ, ūmiyā paṭikujjito.
When a mendicant is haughty and fickle, relying on bad friends, they sink down in the great flood, overcome by a wave.
“Vị Tỳ khưu phóng dật, dao động, nương tựa vào bạn bè xấu ác, bị sóng lật úp, chìm đắm trong dòng bộc lưu lớn.”
Anuddhato acapalo, nipako saṁvutindriyo; Kalyāṇamitto medhāvī, dukkhassantakaro siyā.
But one not restless or fickle, alert, with senses restrained, intelligent, with good friends, makes an end of suffering.
“Người không phóng dật, không dao động, khéo léo, thu thúc các căn, có bạn lành, có trí tuệ, vị ấy có thể là người chấm dứt khổ đau.”
Kālapabbaṅgasaṅkāso, kiso dhamanisanthato; Mattaññū annapānasmiṁ, adīnamanaso naro.
With knobbly knees, thin and veiny, eating and drinking in moderation—this person’s spirit is undaunted.
“Người ấy giống như đốt tre bị cháy đen, gầy gò, nổi gân xanh; biết tiết độ trong ăn và uống, là người có tâm không nản lòng.”
Phuṭṭho ḍaṁsehi makasehi, araññasmiṁ brahāvane; Nāgo saṅgāmasīseva, sato tatrādhivāsaye.
Pestered by flies and mosquitoes in the wilds, the formidable forest, one should mindfully endure, like an elephant at the head of the battle.
“Bị ruồi và muỗi cắn trong khu rừng lớn, người ấy nên chánh niệm chịu đựng ở đó, giống như con voi ở đầu trận chiến.”
Nābhinandāmi maraṇaṁ, … pe … nibbisaṁ bhatako yathā.
I don’t long for death; I don’t long for life; I await my time, like a worker waiting for their wages.
“Ta không hoan hỷ cái chết… như người làm thuê chờ đợi tiền lương.”
Nābhinandāmi maraṇaṁ, … pe … sampajāno patissato.
I don’t long for death; I don’t long for life; I await my time, aware and mindful.
“Ta không hoan hỷ cái chết… với sự tỉnh giác và chánh niệm.”
Pariciṇṇo mayā satthā, … pe … bhavanetti samūhatā.
I’ve served the Teacher and fulfilled the Buddha’s instructions. The heavy burden is laid down, the leash to existence is eradicated.
“Bậc Đạo Sư đã được ta phụng sự… dây dẫn đến tái sanh đã được nhổ lên.”
Yassa catthāya pabbajito, agārasmānagāriyaṁ; So me attho anuppatto, kiṁ me saddhivihārinā”ti.
I’ve attained the goal for the sake of which I went forth from the lay life to homelessness—what use do I have for protégés?”
“Vì mục đích nào ta đã xuất gia, từ đời sống gia đình đến đời sống không gia đình; mục đích ấy đã được ta đạt đến, có ích gì cho ta với vị đồng trú này?”
… Aññāsikoṇḍañño thero ….
… Trưởng lão Aññāsikoṇḍañña [đã nói những lời này].