- Theragāthā 15.2
- Soḷasakanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
THAG 15.2 — Kệ ngôn của Trưởng lão Udāyi
Udāyittheragāthā
BJT 689“Bậc Toàn Giác, có bản thể nhân loại, đã chế ngự bản thân, được định tĩnh, trong khi cư xử theo đường lối Phạm hạnh, được thích thú trong sự tĩnh lặng của tâm.
BJT 690Mọi người lễ bái Ngài, bậc đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp, chư Thiên cũng lễ bái Ngài, tôi đã được nghe như vậy từ bậc A-la-hán
BJT 691Ngài đã vượt qua tất cả các điều ràng buộc, từ khu rừng (phiền não) đã đi đến nơi không còn là rừng (Niết Bàn), được thích thú với việc xuất ly khỏi các dục, đã được giải thoát, tựa như vàng đã được thoát ra khỏi khối đá.
BJT 692Bậc Long Tượng ấy quả thật đã chói sáng vượt trội, tựa như núi Hi-mã-lạp chói sáng vượt trội các ngọn núi khác; trong số tất cả các vị được gọi là bậc long tượng, vị có tên Sự Thật là bậc không vượt hơn được.
BJT 693Tôi sẽ tán dương với quý vị về bậc Long Tượng, bởi vì Ngài không làm điều tội lỗi. Nhã nhặn và không hãm hại là hai chân (trước) của bậc Long Tượng ấy.
BJT 694Niệm và sự nhận biết rõ rệt là hai chân khác của bậc Long Tượng. Bậc Long Tượng khổng lồ có đức tin là cái vòi, có tâm xả là hai ngà màu trắng.
BJT 695Niệm là cần cổ, cái đầu là tuệ, việc xem xét là sự suy nghĩ về các pháp, cái bụng là nơi cư trú bình đẳng của các pháp, cái đuôi là sự ẩn cư của Long Tượng.
BJT 696Ngài chứng thiền, thích thú việc thở vào, khéo định tĩnh nội tâm. Bậc Long Tượng định tĩnh trong khi đi, bậc Long Tượng định tĩnh khi đứng.
BJT 697Bậc Long Tượng định tĩnh trong khi nằm, cũng định tĩnh khi ngồi xuống. Ở mọi nơi, bậc Long Tượng đã được thu thúc; điều này là sự thành đạt của bậc Long Tượng.
BJT 698Sau khi nhận được vật thực và y phục, trong khi lánh xa việc tích trữ, bậc Long Tượng thọ dụng các vật không lỗi lầm, không thọ dụng các vật lầm lỗi.
BJT 700Cũng giống như loài sen, được sanh ra ở nước, tăng trưởng, không bị lấm lem bởi nước, có hương thơm tinh khiết, làm thích ý.
BJT 701Và tương tự y như thế, đức Phật, được sanh ra ở đời, sống ở đời, không bị ô nhiễm bởi đời, giống như loài sen không bị lấm lem bởi nước.
BJT 702Đống lửa lớn cháy rực, không có nhiên liệu thì được lắng dịu, và khi các tro than được lặng yên thì được gọi là ‘tịch tịnh.’
BJT 703Ví dụ này, giúp cho hiểu rõ về ý nghĩa, đã được thuyết giảng bởi các bậc hiểu biết, các bậc Long Tượng vĩ đại sẽ hiểu được về bậc Long Tượng đã được thuyết giảng bởi bậc Long Tượng.
BJT 704Có luyến ái đã được xa lìa, có sân hận đã được xa lìa, có si mê đã được xa lìa, không còn lậu hoặc, trong khi dứt bỏ xác thân, bậc Long Tượng sẽ viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”
Đại đức trưởng lão Udāyi đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Udāyi.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Hai vị trưởng lão Koṇḍañña và Udāyi ấy có đại thần lực, ở nhóm mười sáu có ba mươi hai câu kệ.”
Nhóm Mười Sáu được chấm dứt.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Verses of the Senior Monks 15.2
- The Book of the Sixteens
- Chapter One
Udāyī
2. Kệ Trưởng lão Udāyī
“Manussabhūtaṁ sambuddhaṁ, Attadantaṁ samāhitaṁ; Iriyamānaṁ brahmapathe, Cittassūpasame rataṁ.
Awakened as a human being, self-tamed and immersed in samādhi, following the spiritual path, he loves peace of mind.
Bậc Chánh Đẳng Giác đã trở thành người, tự mình thuần thục, tâm định tĩnh; Ngài đi trên con đường Phạm trú, hoan hỷ trong sự an tịnh của tâm.
Yaṁ manussā namassanti, sabbadhammāna pāraguṁ; Devāpi taṁ namassanti, iti me arahato sutaṁ.
Revered by people, gone beyond all things, even the gods revere him; so I’ve heard from the perfected one.
Bậc mà loài người đảnh lễ, bậc thông suốt tất cả các pháp; chư thiên cũng đảnh lễ Ngài; như thế tôi đã nghe từ bậc A-la-hán.
Sabbasaṁyojanātītaṁ, vanā nibbanamāgataṁ; Kāmehi nekkhammarataṁ, muttaṁ selāva kañcanaṁ.
He has transcended all fetters, and escaped from entanglements. Delighting to renounce sensual pleasures, he’s freed like lustrous gold from stone.
Bậc đã vượt qua mọi kiết sử, từ rừng (phiền não) đã đến nơi không còn rừng (Niết-bàn); hoan hỷ trong sự ly dục, như vàng ròng đã thoát khỏi quặng đá.
Sa ve accaruci nāgo, himavāvaññe siluccaye; Sabbesaṁ nāganāmānaṁ, saccanāmo anuttaro.
That giant outshines all, like the Himalaya beside other mountains. Of all those named “giant”, he is truly named, supreme.
Vị Nāga (Long Tượng) ấy thật rực rỡ, như núi Himavā vượt trội các núi đá khác; trong tất cả những vị có tên là Nāga, Ngài là bậc vô thượng, có danh hiệu Nāga chân thật.
Nāgaṁ vo kittayissāmi, na hi āguṁ karoti so; Soraccaṁ avihiṁsā ca, pādā nāgassa te duve.
I shall extol the giant for you, for he does nothing monstrous. gentleness and harmlessness are two feet of the giant.
Ta sẽ tuyên thuyết cho các ngươi về Nāga (Long Tượng), vị ấy không làm điều ác; nhu hòa và bất hại, đó là hai chân của vị Nāga.
Sati ca sampajaññañca, caraṇā nāgassa tepare; Saddhāhattho mahānāgo, upekkhāsetadantavā.
Mindfulness and awareness are his two other feet. Faith is the giant’s trunk, and equanimity his white tusks.
Niệm và tỉnh giác, là đôi chân khác của vị Nāga; vị Đại Nāga có tín là vòi, có xả là ngà trắng.
Sati gīvā siro paññā, vīmaṁsā dhammacintanā; Dhammakucchisamāvāso, viveko tassa vāladhi.
Mindfulness is his neck, his head is wisdom—investigation and thinking about principles. His belly is the sacred hearth of the Dhamma, and his tail is seclusion.
Niệm là cổ, trí tuệ là đầu, cùng với sự thẩm sát và suy tư về pháp; bụng là pháp, sự an trú đúng đắn, viễn ly là đuôi của vị ấy.
So jhāyī assāsarato, ajjhattaṁ susamāhito; Gacchaṁ samāhito nāgo, ṭhito nāgo samāhito.
Practicing absorption, enjoying the breath, he is serene within. The giant is serene when walking, the giant is serene when standing,
Vị ấy thường thiền định, hoan hỷ trong nơi an ổn, nội tâm định tĩnh vững vàng; vị Nāga khi đi thì định tĩnh, vị Nāga khi đứng cũng định tĩnh.
Sayaṁ samāhito nāgo, nisinnopi samāhito; Sabbattha saṁvuto nāgo, esā nāgassa sampadā.
the giant is serene when lying down, and when sitting, the giant is serene. The giant is restrained everywhere: this is the accomplishment of the giant.
Vị Nāga khi nằm thì định tĩnh, khi ngồi cũng định tĩnh; vị Nāga phòng hộ trong tất cả mọi nơi, đó là sự thành tựu của vị Nāga.
Bhuñjati anavajjāni, sāvajjāni na bhuñjati; Ghāsamacchādanaṁ laddhā, sannidhiṁ parivajjayaṁ.
He eats blameless things, he doesn’t eat blameworthy things. When he gets food and clothes, he avoids storing them up.
Ngài thọ dụng những vật không có lỗi lầm, không thọ dụng những vật có lỗi lầm; khi nhận được vật thực và y phục, Ngài tránh xa sự tích trữ.
Saṁyojanaṁ aṇuṁ thūlaṁ, sabbaṁ chetvāna bandhanaṁ; Yena yeneva gacchati, anapekkhova gacchati.
Having severed all bonds, fetters large and small, wherever he goes, he goes without concern.
Đã chặt đứt mọi sự trói buộc, kiết sử dù vi tế hay thô; Ngài đi đến bất cứ nơi nào, và đi không hề luyến tiếc.
Yathāpi udake jātaṁ, puṇḍarīkaṁ pavaḍḍhati; Nopalippati toyena, sucigandhaṁ manoramaṁ.
A white lotus, fragrant and delightful, sprouts in water and grows there, but the water doesn’t cling to it.
Ví như hoa sen trắng sinh ra và lớn lên trong nước, có hương thơm thanh khiết, làm vui lòng, nhưng không bị nước làm lấm bẩn.
Tatheva ca loke jāto, buddho loke viharati; Nopalippati lokena, toyena padumaṁ yathā.
Just so the Buddha is born in the world, and lives in the world, but the world doesn’t stick to him, as water does not stick to the lotus.
Cũng vậy, Đức Phật sinh ra trong đời, an trú trong đời, nhưng Ngài không bị đời làm lấm bẩn, như hoa sen không bị nước làm lấm bẩn.
Mahāgini pajjalito, anāhāropasammati; Aṅgāresu ca santesu, nibbutoti pavuccati.
A great blazing fire dies down when the fuel runs out. And when the coals have gone out it’s said to be “quenched”.
Ngọn lửa lớn đang bùng cháy, khi không có nhiên liệu sẽ tắt; và khi than hồng đã nguội, nó được gọi là đã tịch diệt.
Atthassāyaṁ viññāpanī, upamā viññūhi desitā; Viññissanti mahānāgā, nāgaṁ nāgena desitaṁ.
This simile is taught by the discerning to express the meaning clearly. Great giants will understand what the giant taught the giant.
Ví dụ này làm sáng tỏ ý nghĩa, đã được những người có trí thuyết giảng; các bậc Đại Nāga sẽ hiểu về vị Nāga (Phật) được thuyết bởi một vị Nāga.
Vītarāgo vītadoso, Vītamoho anāsavo; Sarīraṁ vijahaṁ nāgo, Parinibbissatyanāsavo”ti.
… Udāyī thero …
Free of greed, free of hate, free of delusion, undefiled; the giant, giving up his body, undefiled, will be fully quenched.
Vị Nāga đã ly tham, ly sân, ly si, không còn lậu hoặc; từ bỏ thân này, vị Nāga không còn lậu hoặc sẽ nhập Vô Dư Niết-bàn.
Soḷasakanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Phẩm Mười Sáu Kệ đã kết thúc.
Koṇḍañño ca udāyī ca, therā dve te mahiddhikā; Soḷasamhi nipātamhi, gāthāyo dve ca tiṁsa cāti.
Koṇḍañña và Udāyī, hai vị Trưởng lão có đại thần lực; trong Phẩm Mười Sáu Kệ, có ba mươi hai bài kệ.