- Theragāthā 10.1
- Dasakanipāta
- Paṭhamavagga
Kāḷudāyittheragāthā
“Aṅgārino dāni dumā bhadante, Phalesino chadanaṁ vippahāya; Te accimantova pabhāsayanti, Samayo mahāvīra bhāgī rasānaṁ.
Bản dịch
Kāḷudāyittheragāthā
BJT 527“Bạch đấng Đạo Sư, giờ đây các cây cối có màu đỏ thẫm, sẽ có sự kết trái sau khi rũ bỏ lớp lá (úa). Chúng tỏa sáng tựa như có ngọn lửa. Bạch đấng Đại Hùng, là lúc cho các sự thọ hưởng và vui thú.
BJT 528Các cây cối, nở rộ hoa, làm thích ý, tỏa hương tất cả các hướng ở xung quanh. Sau khi dứt bỏ lá, chúng đang mong được kết trái. Bạch đấng Anh Hùng, là thời điểm ra đi khỏi nơi đây.
BJT 529Bạch đấng Đạo Sư, thời tiết là dễ chịu, không quá lạnh, lại không quá nóng, thích hợp cho việc đi đường xa. Hãy để cho những người dân xứ sở Sākiya và Koḷiya nhìn thấy Ngài, với mặt nhìn hướng tây, đang băng qua dòng sông Rohiṇī.
BJT 530Thửa ruộng được cày với niềm hy vọng, hạt giống được gieo với niềm hy vọng, những người thương buôn đi biển với niềm hy vọng là những người mang về của cải. Với niềm hy vọng nào mà tôi đứng (ở đây), mong rằng niềm hy vọng ấy của tôi được thành tựu.
BJT 531Họ vẫn còn tiếp tục gieo giống, vị Thiên vương còn tiếp tục mưa, các nông dân còn tiếp tục cày xới thửa ruộng, thóc lúa còn tiếp tục đi đến với vương quốc.
BJT 532Những người ăn mày còn tiếp tục đi xin, các thí chủ còn tiếp tục bố thí, sau khi còn tiếp tục bố thí, các thí chủ còn tiếp tục đi đến vị thế cõi trời.
BJT 533Thật vậy, đấng Anh Hùng, bậc có trí tuệ quảng đại, làm trong sạch bảy đời (tổ phụ) ở tại gia tộc nào mà vị ấy sanh ra. Tôi nghĩ rằng bệ hạ có khả năng là vị Trời của chư Thiên, bởi vì nhờ ngài mà bậc hiền trí có tên là Sự Thật đã được sanh ra.
BJT 534Người cha của vị Đại Ấn Sĩ tên là Suddhodana, còn người mẹ của đức Phật tên là Māyā, bà đã mang nặng đức Bồ Tát trong bào thai, do sự tan rã của thân, bà vui hưởng ở cõi Trời.
BJT 535Bà Gotamī ấy, đã mệnh chung, từ nơi ấy đã chết đi, được thọ hưởng các dục ở cõi trời. Bà ấy vui hưởng năm loại dục, được các nhóm chư Thiên ấy tùy tùng.
BJT 536Tôi là người con trai của đức Phật, vị Aṅgīrasa, bậc có sự chịu đựng việc không thể chịu đựng, bậc không người đối xứng như thế ấy. Bạch Ngài Sakka, Ngài là người cha của cha con. Bạch Ngài Gotama, theo nguyên tắc Ngài là ông nội của Con.”
Đại đức trưởng lão Kāḷudāyi đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Kāḷudāyi.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Aṅgārino dāni dumā bhadante, Phalesino chadanaṁ vippahāya; Te accimantova pabhāsayanti, Samayo mahāvīra bhāgī rasānaṁ.
“The trees are now crimson, venerable sir, they’ve shed their foliage, and are ready to fruit. They shine as if aflame; great hero, this season is full of flavor.
Kính bạch Ngài, nay những cây cối như than hồng, mong kết trái, đã rũ bỏ lá cành; Chúng tỏa sáng như những ngọn lửa. Hỡi bậc Đại Hùng, đây là thời điểm thích hợp để lên đường.
Dumāni phullāni manoramāni, Samantato sabbadisā pavanti; Pattaṁ pahāya phalamāsasānā, Kālo ito pakkamanāya vīra.
The blossoming trees are delightful, wafting their scent all around, in all directions. They’ve shed their leaves and wish to fruit, hero, it is time to leave here.
Những cây cối đang nở hoa, thật là đẹp ý, hương thơm từ khắp nơi tỏa ra mọi phương; Chúng rũ bỏ lá, mong chờ kết trái. Hỡi bậc Dũng mãnh, đã đến lúc rời khỏi nơi này.
Nevātisītaṁ na panātiuṇhaṁ, Sukhā utu addhaniyā bhadante; Passantu taṁ sākiyā koḷiyā ca, Pacchāmukhaṁ rohiniyaṁ tarantaṁ.
It is neither too hot nor too cold, venerable sir, it’s a pleasant season for traveling. Let the Sākiyans and Koliyans see you, heading west across the Rohiṇī river.
Kính bạch Ngài, tiết trời không quá lạnh, cũng không quá nóng, thật dễ chịu và thích hợp cho việc đi đường dài. Mong sao dòng họ Sākya và Koliya được thấy Ngài, khi Ngài đi về hướng Tây, vượt qua sông Rohinī.
Āsāya kasate khettaṁ, bījaṁ āsāya vappati; Āsāya vāṇijā yanti, samuddaṁ dhanahārakā; Yāya āsāya tiṭṭhāmi, sā me āsā samijjhatu.
In hope, the field is plowed; the seed is sown in hope; in hope, merchants travel the seas, carrying rich cargoes. The hope that I stand for: may it succeed!
Vì hy vọng, người ta cày ruộng; vì hy vọng, người ta gieo hạt. Vì hy vọng, những thương nhân mang của cải đi ra biển. Với niềm hy vọng nào con đang đứng đây, mong sao niềm hy vọng ấy của con được thành tựu.
Punappunaṁ ceva vapanti bījaṁ, Punappunaṁ vassati devarājā; Punappunaṁ khettaṁ kasanti kassakā, Punappunaṁ dhaññamupeti raṭṭhaṁ.
Again and again, they sow the seed; again and again, the king of the heavens sends rain; again and again, farmers plow the field; again and again, grain is produced for the nation.
Người ta lại gieo hạt giống luôn luôn, vua trời lại ban mưa luôn luôn; Người nông dân lại cày ruộng luôn luôn, và lúa gạo lại được mang về xứ sở luôn luôn.
Punappunaṁ yācanakā caranti, Punappunaṁ dānapatī dadanti; Punappunaṁ dānapatī daditvā, Punappunaṁ saggamupenti ṭhānaṁ.
Again and again, the beggars wander, again and again, the donors give. Again and again, when the donors have given, again and again, they take their place in heaven.
Người ăn xin đi lại luôn luôn, thí chủ lại bố thí luôn luôn; Sau khi bố thí luôn luôn, thí chủ lại đi đến cảnh giới chư thiên luôn luôn.
Vīro have sattayugaṁ puneti, Yasmiṁ kule jāyati bhūripañño; Maññāmahaṁ sakkati devadevo, Tayā hi jāto muni saccanāmo.
A hero of vast wisdom purifies seven generations of the family in which they’re born. Sakya, I believe you’re the king of kings, since you fathered the one who is truly called a sage.
Bậc dũng mãnh, bậc trí tuệ rộng lớn, khi sanh ra trong dòng họ nào, chắc chắn sẽ làm thanh tịnh bảy thế hệ. Con nghĩ rằng, bậc Thiên Trung Thiên còn có thể làm được hơn thế. Vì Ngài đã sanh ra là bậc Mâu-ni, danh xưng ấy thật xứng đáng.
Suddhodano nāma pitā mahesino, Buddhassa mātā pana māyanāmā; Yā bodhisattaṁ parihariya kucchinā, Kāyassa bhedā tidivamhi modati.
The father of the great seer is named Suddhodana; and the Buddha’s mother is named Māyā. Having borne the Bodhisatta in her belly, she rejoices in the Third Heaven.
Thân phụ của bậc Đại Sĩ, của Đức Phật, tên là Suddhodana, còn thân mẫu tên là Māyā. Vị ấy, sau khi mang Bồ-tát trong lòng, khi thân hoại mạng chung, đã hoan hỷ ở cõi trời Tusita.
Sā gotamī kālakatā ito cutā, Dibbehi kāmehi samaṅgibhūtā; Sā modati kāmaguṇehi pañcahi, Parivāritā devagaṇehi tehi”.
When she died and passed away from here, she was blessed with heavenly sensual pleasures; enjoying the five kinds of sensual stimulation. Gotamī is surrounded by those hosts of gods.”
Vị ấy, thuộc dòng Gotama, đã qua đời, mệnh chung từ nơi đây, được đầy đủ các dục lạc cõi trời. Vị ấy hoan hỷ với năm loại dục trưởng, được các chúng chư thiên ấy vây quanh.
“Buddhassa puttomhi asayhasāhino, Aṅgīrasassappaṭimassa tādino; Pitupitā mayhaṁ tuvaṁsi sakka, Dhammena me gotama ayyakosī”ti.
“I’m the son of the Buddha, the incomparable Aṅgīrasa, the unaffected, the bearer of the unbearable. You, Sakya, are my father’s father; Gotama, you are my grandfather in the Dhamma.”
Con là con trai của Đức Phật, bậc chinh phục những gì khó chinh phục, bậc Aṅgīrasa, bậc Vô song, bậc Như Nhiên. Hỡi vị vua dòng Sakka, Ngài là cha của cha con. Hỡi vị vua dòng Gotama, theo Pháp, Ngài là ông nội của con.
… Kāḷudāyī thero ….
... Trưởng lão Kāḷudāyī...