- Saṁyutta Nikāya 56.61
- 7. Paṭhamaāmakadhaññapeyyālavagga
Bản dịch
SN 56.61 — Kinh Nơi Khác
Aññatrasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 3 —Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy lên trên đầu móng tay, hay là quả đất lớn này?
—Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn này. Còn ít hơn là một ít đất Thế Tôn lấy lên trên đầu móng tay. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất được Thế Tôn lấy lên trên đầu ngón tay.
Vi-n 4 —Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là những chúng sanh được tái sanh làm người. Còn nhiều hơn là những chúng sanh bị tái sanh ra khỏi loài Người. Vì sao?
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ … Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Vi-n 6 Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ” … một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 56.61
- 7. Abbreviated Texts on Raw Grain
Not Human
1. Kinh Nơi Khác
Atha kho bhagavā parittaṁ nakhasikhāyaṁ paṁsuṁ āropetvā bhikkhū āmantesi: “Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, katamaṁ nu kho bahutaraṁ—yo vāyaṁ mayā paritto nakhasikhāyaṁ paṁsu āropito, ayaṁ vā mahāpathavī”ti?
“Etadeva, bhante, bahutaraṁ, yadidaṁ—mahāpathavī; appamattakāyaṁ bhagavatā paritto nakhasikhāyaṁ paṁsu āropito. Saṅkhampi na upeti, upanidhampi na upeti, kalabhāgampi na upeti mahāpathaviṁ upanidhāya bhagavatā paritto nakhasikhāyaṁ paṁsu āropito”ti.
Then the Buddha, picking up a little bit of dirt on his fingernail, addressed the mendicants: “What do you think, mendicants? Which is more: the little bit of dirt on my fingernail, or this great earth?”
“Sir, the great earth is certainly more. The little bit of dirt on your fingernail is tiny. Compared to the great earth, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction.”
1131. Khi ấy, Thế Tôn lấy một ít bụi đất đặt lên đầu móng tay rồi gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào, cái nào nhiều hơn – hoặc là một ít bụi đất Ta đặt trên đầu móng tay này, hoặc là đại địa này?” “Bạch Thế Tôn, chính đại địa này là nhiều hơn; một ít bụi đất Thế Tôn đặt trên đầu móng tay là rất ít. So với đại địa, một ít bụi đất Thế Tôn đặt trên đầu móng tay không đáng để đếm, không đáng để so sánh, không đáng một phần nhỏ.”
“Evameva kho, bhikkhave, appamattakā te sattā ye manussesu paccājāyanti; atha kho eteva bahutarā sattā ye aññatra manussehi paccājāyanti. Taṁ kissa hetu? Adiṭṭhattā, bhikkhave, catunnaṁ ariyasaccānaṁ. Katamesaṁ catunnaṁ? Dukkhassa ariyasaccassa …pe… dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasaccassa.
“In the same way, the sentient beings reborn as humans are few, while those not reborn as humans are many. Why is that? It’s because they haven’t seen the four noble truths. What four? The noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path.
“Cũng vậy, này các Tỳ khưu, những chúng sanh được tái sanh làm người là rất ít; thật vậy, những chúng sanh được tái sanh ở nơi khác ngoài cõi người là nhiều hơn. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì không thấy bốn Thánh đế. Bốn Thánh đế nào? Thánh đế về Khổ... cho đến... Thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt.”
Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti.
Paṭhamaṁ.
That’s why you should practice meditation …”
“Do đó, này các Tỳ khưu, cần phải nỗ lực: ‘Đây là khổ’... cho đến... cần phải nỗ lực: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’.” Kinh thứ nhất.