- Saṁyutta Nikāya 56.49
- 5. Papātavagga
Bản dịch
SN 56.49 — Kinh Vua Núi Sineru (thứ nhất)
Paṭhamasinerupabbatarājasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đặt trên núi Sineru, vua các loài núi, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu.
Vi-n 3 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy hay núi chúa Sineru?
—Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là vua núi Sineru. Rất ít là các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy, chúng không có thể ước tính được, chúng không có thể so sánh được, chúng không có thể thành một phần nhỏ được, khi đem đặt các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu so sánh với núi chúa Sineru.
Vi-n 4 —Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn này. Rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn. Tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: “Ðây là Khổ” … đã rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.
Vi-n 5 Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ” … một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 56.49
- 5. A Cliff
Sineru, King of Mountains (1st)
9. Kinh Vua Núi Sineru (thứ nhất)
“Seyyathāpi, bhikkhave, puriso sinerussa pabbatarājassa satta muggamattiyo pāsāṇasakkharā upanikkhipeyya.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, katamaṁ nu kho bahutaraṁ—yā vā satta muggamattiyo pāsāṇasakkharā upanikkhittā, yo vā sinerupabbatarājā”ti?
“Etadeva, bhante, bahutaraṁ, yadidaṁ—sinerupabbatarājā; appamattikā satta muggamattiyo pāsāṇasakkharā upanikkhittā. Saṅkhampi na upenti, upanidhampi na upenti, kalabhāgampi na upenti sinerupabbatarājānaṁ upanidhāya satta muggamattiyo pāsāṇasakkharā upanikkhittā”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, ariyasāvakassa diṭṭhisampannassa puggalassa abhisametāvino etadeva bahutaraṁ dukkhaṁ yadidaṁ parikkhīṇaṁ pariyādinnaṁ; appamattakaṁ avasiṭṭhaṁ. Saṅkhampi na upeti, upanidhampi na upeti, kalabhāgampi na upeti, purimaṁ dukkhakkhandhaṁ parikkhīṇaṁ pariyādinnaṁ upanidhāya yadidaṁ sattakkhattuparamatā; yo ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
“Mendicants, suppose a person was to place on Sineru, the king of mountains, seven pebbles the size of mung beans.
What do you think, mendicants? Which is more: the seven pebbles the size of mung beans? Or Sineru, the king of mountains?”
“Sir, Sineru, the king of mountains, is certainly more. The seven pebbles the size of mung beans are tiny. Compared to Sineru, they don’t count, there’s no comparison, they’re not worth a fraction.”
“In the same way, for an individual with comprehension, a noble disciple accomplished in view, the suffering that’s over and done with is more, what’s left is tiny. Compared to the mass of suffering in the past that’s over and done with, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction, since there are at most seven more lives. Such an individual truly understands about suffering, its origin, its cessation, and the path.
1119. “Này các Tỳ khưu, ví như có người đàn ông đặt bảy viên sỏi nhỏ bằng hạt đậu xanh gần vua núi Sineru. Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào, cái nào nhiều hơn, bảy viên sỏi nhỏ bằng hạt đậu xanh được đặt gần, hay là vua núi Sineru?” – “Bạch Thế Tôn, chính cái này nhiều hơn, tức là vua núi Sineru; bảy viên sỏi nhỏ bằng hạt đậu xanh được đặt gần là một lượng không đáng kể. So với vua núi Sineru, bảy viên sỏi nhỏ bằng hạt đậu xanh được đặt gần không đáng để đếm, không đáng để so sánh, không đáng một phần nhỏ.” – “Cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với vị Thánh đệ tử là người đã thành tựu chánh kiến, là người đã liễu ngộ, chính phần khổ này nhiều hơn, tức là phần đã được đoạn tận, đã được chấm dứt; phần còn lại là một lượng không đáng kể. So với khối khổ đã qua đã được đoạn tận, đã được chấm dứt, thì phần khổ của người tối đa bảy lần tái sanh không đáng để đếm, không đáng để so sánh, không đáng một phần nhỏ; vị ấy như thật tuệ tri: ‘Đây là khổ’, ... cho đến ... ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’.”
Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti.
Navamaṁ.
That’s why you should practice meditation …”
“Do vậy, này các Tỳ khưu, ở đây cần phải nỗ lực: ‘Đây là khổ’, ... cho đến ... ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’.” Kinh thứ chín.