- Saṁyutta Nikāya 56.10
- 1. Samādhivagga
Bản dịch
SN 56.10 — Kinh Tiracchānakathā (Chuyện Tầm Phào)
Tiracchānakathāsutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, chớ có nói những câu chuyện của loài súc sanh, như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại dương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Vì sao?
Vi-n 3 Những câu chuyện này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vi-n 4 Có nói chuyện, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy nói chuyện: “Ðây là Khổ” … hãy nói chuyện: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt” … Vì sao?
Vi-n 5 Các câu chuyện này, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ” … Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 56.10
- 1. Immersion
Low Talk
10. Kinh Tiracchānakathā (Chuyện Tầm Phào)
“Mā, bhikkhave, anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ katheyyātha, seyyathidaṁ—rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ, bhayakathaṁ yuddhakathaṁ, annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ, ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ, pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ, lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā. Taṁ kissa hetu? Nesā, bhikkhave, kathā atthasaṁhitā nādibrahmacariyakā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati.
“Mendicants, don’t engage in all kinds of low talk, such as talk about kings, bandits, and chief ministers; talk about armies, threats, and wars; talk about food, drink, clothes, and beds; talk about garlands and fragrances; talk about family, vehicles, villages, towns, cities, and countries; talk about women and heroes; street talk and well talk; talk about the departed; motley talk; tales of land and sea; and talk about being reborn in this or that place. Why is that? Because those discussions aren’t beneficial or relevant to the fundamentals of the spiritual life. They don’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.
1080. Này các Tỳ khưu, các ông chớ nên nói nhiều loại chuyện tầm phào, như là: chuyện về vua, chuyện về trộm cướp, chuyện về đại thần, chuyện về quân đội, chuyện về sự sợ hãi, chuyện về chiến tranh, chuyện về đồ ăn, chuyện về thức uống, chuyện về y phục, chuyện về giường nằm, chuyện về vòng hoa, chuyện về hương thơm, chuyện về bà con, chuyện về xe cộ, chuyện về làng mạc, chuyện về thị trấn, chuyện về thành phố, chuyện về xứ sở, chuyện về phụ nữ, chuyện về anh hùng, chuyện về đường phố, chuyện về bến nước, chuyện về người đã khuất, chuyện phiếm, chuyện thế gian, chuyện biển cả, chuyện về sự tồn tại và không tồn tại. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, lời nói này không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản của phạm hạnh, không đưa đến nhàm chán, không đưa đến ly tham, không đưa đến đoạn diệt, không đưa đến an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn.
Kathentā ca kho tumhe, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti katheyyātha, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti katheyyātha. Taṁ kissa hetu? Esā, bhikkhave, kathā atthasaṁhitā, esā ādibrahmacariyakā, esā nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
When you discuss, you should discuss: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. …
Này các Tỳ khưu, khi các ông nói chuyện, hãy nói rằng: ‘Đây là khổ’, hãy nói rằng: ‘Đây là nguyên nhân của khổ’, hãy nói rằng: ‘Đây là sự diệt khổ’, hãy nói rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, lời nói này có liên hệ đến mục đích, là căn bản của phạm hạnh, đưa đến nhàm chán, đưa đến ly tham, đưa đến đoạn diệt, đưa đến an tịnh, đưa đến thắng trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti.
Dasamaṁ.
That’s why you should practice meditation …”
Này các Tỳ khưu, do đó, ở đây các ông cần phải nỗ lực: ‘Đây là khổ’... ... các ông cần phải nỗ lực: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’. Kinh thứ mười.
Samādhivaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Samādhi thứ nhất.
Samādhi paṭisallānā, kulaputtā apare duve; Samaṇabrāhmaṇā vitakkaṁ, cintā viggāhikā kathāti.
Samādhi, Paṭisallāna, hai kinh Kulaputta, hai kinh Samaṇabrāhmaṇa, Vitakka, Cintā, Viggāhikakathā, và Tiracchānakathā.