- Saṁyutta Nikāya 56.11
- 2. Dhammacakkappavattanavagga
Bản dịch
SN 56.11 — Kinh Chuyển Pháp Luân
Dhammacakkappavattanasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Bārānasī, tại Isipatana, chỗ Vườn Nai.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn bảo chúng năm Tỷ-kheo:
—Có hai cực đoan này, này các Tỷ-kheo, một người xuất gia không nên thực hành theo. Thế nào là hai?
Vi-n 3 Một là đắm say trong các dục (kàmesu), hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Hai là tự hành khổ mình, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Tránh xa hai cực đoan này, này các Tỷ-kheo, là con đường Trung đạo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vi-n 4 Và thế nào là con đường Trung đạo, này các Tỷ-kheo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là con đường trung đạo, này các Tỷ-kheo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vi-n 5 Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.
Vi-n 6 Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỷ-kheo, chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Vi-n 7 Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước.
Vi-n 8 Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến … chánh định.
Vi-n 9 Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ cần phải liễu tri, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp, từ trước Ta chưa từng nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ đã được liễu tri, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.
Vi-n 10 Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp … quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn tận, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp … quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ tập đã được đoạn tận, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp … quang sanh.
Vi-n 11 Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp … quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp … quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt đã được chứng ngộ, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp … quang sanh.
Vi-n 12 Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp … quang sanh. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp … quang sanh. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được tu tập, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.
Vi-n 13 Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, trong bốn Thánh đế này, với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri kiến như thật không khéo thanh tịnh ở nơi Ta; thời này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không chứng tri đã chánh giác vô thượng Chánh Ðẳng Giác.
Vi-n 14 Và cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, trong bốn Thánh đến này, với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri kiến như thật đã được khéo thanh tịnh ở nơi Ta; cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta mới chứng tri đã chánh giác vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Tri kiến khởi lên nơi Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.
Vi-n 15 Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Chúng năm Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Phật dạy. Trong khi lời dạy này được tuyên bố, Tôn giả Koṇḍañño khởi lên pháp nhãn thanh tịnh, không cấu uế như sau: “Phàm vật gì được tập khởi, tất cả pháp ấy cũng bị đoạn diệt”.
Vi-n 16 Và khi Pháp luân này được Thế Tôn chuyển vận như vậy, chư Thiên cõi đất này lớn tiếng nói lên: “Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời”.
Vi-n 17 Sau khi được nghe tiếng chư Thiên ở cõi đất, Tứ đại Thiên vương thiên lên tiếng nói lên: “Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở đời”.
Vi-n 18 Sau khi được nghe tiếng của chư Thiên ở Tứ đại Thiên vương thiên, thời chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba … chư Thiên Yàmà … chư Thiên Tusità … chư Hóa lạc thiên … chư Tha hóa tự tại thiên … chư Thiên ở Phạm thiên giới lớn tiếng nói lên: “Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận … bất cứ một ai ở đời”.
Vi-n 19 Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng ấy lên đến Phạm thiên giới. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và một hào quang vô lượng, quảng đại phát chiếu ra ở đời, vượt quá uy lực chư Thiên.
Vi-n 20 Rồi Thế Tôn thốt lên lời cảm hứng sau đây: “Chắc chắn đã giác hiểu là Koṇḍañño (Kiều-trần-như)! Chắc chắn đã giác hiểu là Koṇḍañño!”
Như vậy Tôn giả Koṇḍañño được tên là Annàta Koṇḍañño (A-nhã Kiều-trần-như).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 56.11
- 2. Rolling Forth the Wheel of Dhamma
Rolling Forth the Wheel of Dhamma
1. Kinh Chuyển Pháp Luân
Ekaṁ samayaṁ bhagavā bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye. Tatra kho bhagavā pañcavaggiye bhikkhū āmantesi:
“Dveme, bhikkhave, antā pabbajitena na sevitabbā. Katame dve? Yo cāyaṁ kāmesu kāmasukhallikānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṁhito, yo cāyaṁ attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṁhito. Ete kho, bhikkhave, ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
At one time the Buddha was staying near Varanasi in the deer park at Isipatana. There the Buddha addressed the group of five mendicants:
“Mendicants, these two extremes should not be cultivated by one gone forth. What two? Indulgence in sensual pleasures, which is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. And indulgence in self-mortification, which is painful, ignoble, and pointless. Avoiding these two extremes, the Realized One understood the middle way of practice, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment.
1081. Một thời, Thế Tôn trú ở Bārāṇasī, tại Isipatana, trong vườn Lộc Uyển. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu nhóm năm vị: ‘Này các Tỳ khưu, có hai cực đoan này mà người xuất gia không nên thực hành. Hai cực đoan nào? Đó là sự đam mê hưởng thụ các dục lạc, là thấp hèn, thô tục, phàm phu, không thánh thiện, không liên hệ đến mục đích; và đó là sự thực hành khổ hạnh ép xác, là đau khổ, không thánh thiện, không liên hệ đến mục đích. Này các Tỳ khưu, không đi đến hai cực đoan này, con đường trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tạo ra mắt, tạo ra trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn’.
Katamā ca sā, bhikkhave, majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Ayaṁ kho sā, bhikkhave, majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
And what is that middle way of practice? It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is that middle way of practice, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment.
Này các Tỳ khưu, thế nào là con đường trung đạo đã được Như Lai giác ngộ một cách trọn vẹn, tạo ra pháp nhãn, tạo ra trí tuệ, đưa đến sự an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỳ khưu, đây chính là con đường trung đạo đã được Như Lai giác ngộ một cách trọn vẹn, tạo ra pháp nhãn, tạo ra trí tuệ, đưa đến sự an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Idaṁ kho pana, bhikkhave, dukkhaṁ ariyasaccaṁ—jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, byādhipi dukkho, maraṇampi dukkhaṁ, appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ—saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.
Idaṁ kho pana, bhikkhave, dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ—
Now this is the noble truth of suffering. Rebirth is suffering; old age is suffering; illness is suffering; death is suffering; being coupled with the disliked is suffering; separation from the liked is suffering; not getting what you wish for is suffering. In brief, the five grasping aggregates are suffering.
Now this is the noble truth of the origin of suffering.
Này các Tỳ khưu, đây là Thánh đế về Khổ: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, gặp gỡ điều không ưa thích là khổ, chia lìa điều ưa thích là khổ, mong cầu mà không được cũng là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Này các Tỳ khưu, đây là Thánh đế về Nguồn Gốc của Khổ: chính là ái này, dẫn đến tái sanh, đi cùng với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là: dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỳ khưu, đây là Thánh đế về Sự Diệt Khổ: đó là sự đoạn diệt, ly tham không còn dư tàn, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ đối với chính ái ấy. Này các Tỳ khưu, đây là Thánh đế về Con Đường Đưa Đến Sự Diệt Khổ: chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là Thánh đế về Nguồn Gốc của Khổ? Chính là ái này, là cái dẫn đến tái sanh, đi cùng với hỷ và tham, tìm cầu sự vui thích nơi này nơi kia; cụ thể là: dục ái, hữu ái, và phi hữu ái. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là Thánh đế về Nguồn Gốc của Khổ.
Idaṁ kho pana, bhikkhave, dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ—yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo.
Idaṁ kho pana, bhikkhave, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ—ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Now this is the noble truth of the cessation of suffering. It’s the fading away and cessation of that very same craving no residue left behind; giving it away, letting it go, releasing it, and not clinging to it.
Now this is the noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering. It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là Thánh đế về sự Diệt Khổ? Chính là sự đoạn diệt không còn tàn dư, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không còn luyến ái đối với chính ái ấy. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là Thánh đế về sự Diệt Khổ.
‘Idaṁ dukkhaṁ ariyasaccan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. ‘Taṁ kho panidaṁ dukkhaṁ ariyasaccaṁ pariññeyyan’ti me, bhikkhave, pubbe …pe… udapādi. ‘Taṁ kho panidaṁ dukkhaṁ ariyasaccaṁ pariññātan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
‘Idaṁ dukkhasamudayaṁ ariyasaccan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. ‘Taṁ kho panidaṁ dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ pahātabban’ti me, bhikkhave, pubbe …pe… udapādi. ‘Taṁ kho panidaṁ dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ pahīnan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
‘Idaṁ dukkhanirodhaṁ ariyasaccan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. ‘Taṁ kho panidaṁ dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ sacchikātabban’ti me, bhikkhave, pubbe …pe… udapādi. ‘Taṁ kho panidaṁ dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ sacchikatan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
‘Idaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
‘This is the noble truth of suffering.’ Such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in me regarding teachings not learned before from another. ‘This noble truth of suffering should be completely understood.’ Such was the vision that arose in me … ‘This noble truth of suffering has been completely understood.’ Such was the vision that arose in me …
‘This is the noble truth of the origin of suffering.’ Such was the vision that arose in me … ‘This noble truth of the origin of suffering should be given up.’ Such was the vision that arose in me … ‘This noble truth of the origin of suffering has been given up.’ Such was the vision that arose in me …
‘This is the noble truth of the cessation of suffering.’ Such was the vision that arose in me … ‘This noble truth of the cessation of suffering should be realized.’ Such was the vision that arose in me … ‘This noble truth of the cessation of suffering has been realized.’ Such was the vision that arose in me …
‘This is the noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering.’ Such was the vision that arose in me …
1084. Này các Tỳ khưu, có bốn Thánh đế này. Thế nào là bốn? Thánh đế về khổ, Thánh đế về sự tập khởi của khổ, Thánh đế về sự diệt khổ, Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt khổ.
Này các Tỳ khưu, do vậy, ở đây các ngươi cần phải nỗ lực: ‘Đây là khổ’... cho đến... ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’. Kinh thứ ba.
Yāvakīvañca me, bhikkhave, imesu catūsu ariyasaccesu evaṁ tiparivaṭṭaṁ dvādasākāraṁ yathābhūtaṁ ñāṇadassanaṁ na suvisuddhaṁ ahosi, neva tāvāhaṁ, bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya ‘anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho’ti paccaññāsiṁ.
Yato ca kho me, bhikkhave, imesu catūsu ariyasaccesu evaṁ tiparivaṭṭaṁ dvādasākāraṁ yathābhūtaṁ ñāṇadassanaṁ suvisuddhaṁ ahosi, athāhaṁ, bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya ‘anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho’ti paccaññāsiṁ.
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi: ‘akuppā me vimutti, ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’”ti.
Idamavoca bhagavā. Attamanā pañcavaggiyā bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne āyasmato koṇḍaññassa virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi: “yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Pavattite ca pana bhagavatā dhammacakke bhummā devā saddamanussāvesuṁ: “etaṁ bhagavatā bārāṇasiyaṁ isipatane migadāye anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ appaṭivattiyaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin”ti.
Bhummānaṁ devānaṁ saddaṁ sutvā cātumahārājikā devā saddamanussāvesuṁ:
As long as my true knowledge and vision about these four noble truths was not fully purified in these three rounds and twelve aspects, I didn’t announce my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.
But when my true knowledge and vision about these four noble truths was fully purified in these three rounds and twelve aspects, I announced my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.
Knowledge and vision arose in me: ‘My freedom is unshakable; this is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.’”
That is what the Buddha said. Satisfied, the group of five mendicants approved what the Buddha said.
And while this discourse was being spoken, the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in Venerable Koṇḍañña: “Everything that is liable to arise is liable to cease.”
And when the Buddha rolled forth the Wheel of Dhamma, the earth gods raised the cry: “Near Varanasi, in the deer park at Isipatana, the Buddha has rolled forth the supreme Wheel of Dhamma. And that wheel cannot be rolled back by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world.”
Hearing the cry of the earth gods, the gods of the four great kings …
Này các Tỳ khưu, thế nào là Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt khổ? Chính là Bát Thánh Đạo này, nghĩa là: Chánh kiến... cho đến... Chánh định. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt khổ. Này các Tỳ khưu, đây chính là bốn Thánh đế.
Và khi đức Thế Tôn đã chuyển Pháp luân như thế, các vị chư thiên ở cõi đất đã đồng thanh loan báo rằng: – ‘Bánh xe Pháp vô thượng này đã được đức Thế Tôn cho chuyển vận tại Isipatana, ở Migadāya, gần Bārāṇasī, là điều không thể bị đảo ngược bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bởi bất cứ ai ở trên đời.’ Sau khi nghe được tiếng loan báo của các vị chư thiên ở cõi đất, các vị chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương đã đồng thanh loan báo rằng: – ‘Bánh xe Pháp vô thượng này đã được đức Thế Tôn cho chuyển vận tại Isipatana, ở Migadāya, gần Bārāṇasī, là điều không thể bị đảo ngược bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bởi bất cứ ai ở trên đời.’ Sau khi nghe được tiếng loan báo của các vị chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, các vị chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba... (như trên)... các vị chư thiên ở cõi Dạ Ma... (như trên)... các vị chư thiên ở cõi Đâu Suất... (như trên)... các vị chư thiên ở cõi Hóa Lạc... (như trên)... các vị chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại... (như trên)... các vị chư thiên thuộc thân chúng Phạm thiên đã đồng thanh loan báo rằng: – ‘Bánh xe Pháp vô thượng này đã được đức Thế Tôn cho chuyển vận tại Isipatana, ở Migadāya, gần Bārāṇasī, là điều không thể bị đảo ngược bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bởi bất cứ ai ở trên đời.’
Itiha tena khaṇena tena layena tena muhuttena yāva brahmalokā saddo abbhuggacchi. Ayañca dasasahassilokadhātu saṅkampi sampakampi sampavedhi, appamāṇo ca uḷāro obhāso loke pāturahosi atikkamma devānaṁ devānubhāvanti.
And so at that moment, that second, that hour, the cry soared up to the realm of divinity. And this ten-thousandfold galaxy shook and rocked and trembled. And an immeasurable, magnificent light appeared in the world, surpassing the glory of the gods.
Như vậy, vào khoảnh khắc ấy, vào lúc ấy, vào thời điểm ấy, tiếng loan báo đã vang lên cho đến cõi Phạm thiên. Và mười ngàn thế giới này đã rung chuyển, chấn động, chuyển động mạnh. Và một ánh sáng vô lượng, huy hoàng đã xuất hiện trên thế gian, vượt qua cả oai lực của chư thiên.
Atha kho bhagavā imaṁ udānaṁ udānesi: “aññāsi vata bho, koṇḍañño, aññāsi vata bho, koṇḍañño”ti.
Iti hidaṁ āyasmato koṇḍaññassa “aññāsikoṇḍañño” tveva nāmaṁ ahosīti.
Paṭhamaṁ.
Then the Buddha expressed this heartfelt sentiment: “Koṇḍañña has really understood! Koṇḍañña has really understood!”
And that’s how Venerable Koṇḍañña came to be known as “Koṇḍañña Who Understood”.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này: – ‘Này, Koṇḍañña thật sự đã hiểu rõ! Này, Koṇḍañña thật sự đã hiểu rõ!’ Do vậy, Tôn giả Koṇḍañña đã có tên là ‘Aññāsikoṇḍañña’ (Koṇḍañña đã hiểu rõ). Hết phẩm thứ nhất.