- Saṁyutta Nikāya 46.54
- 6. Sākacchavagga
Bản dịch
SN 46.54 — Kinh Tương Ưng Từ
Mettāsahagatasutta
Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koliya, tại thị trấn của dân Koliya tên là Haliddavasana.
Vi-n 2 Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y cầm y, bát đi vào Haliddavasana để khất thực.
Vi-n 3 Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: “Thật là quá sớm để đi vào Haliddavasana khất thực. Vậy, chúng ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”.
Vi-n 4 Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến nói lên với những du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, họ liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:
Vi-n 5 —Này chư Hiền, Sa-môn Gotama có thuyết pháp như sau cho các đệ tử: “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, với phương thứ hai; cũng vậy, với phương thứ ba; cũng vậy, với phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân … với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả; cũng vậy, với phương thứ hai; cũng vậy, với phương thứ ba; cũng vậy, với phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân”.
Vi-n 6 Này chư Hiền, chúng tôi cũng thuyết pháp cho các đệ tử như sau: “Hãy đến, này chư Hiền, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, hãy trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ … với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả … không hận, không sân”.
Vi-n 7 Ở đây, này chư Hiền, cái gì là đặc thù, cái gì là thù thắng, cái gì là sai biệt giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là về thuyết pháp hay về giáo giới?
Rồi các Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ, không bác bỏ lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy, họ ra đi với ý nghĩ: “Chúng ta sẽ được biết ý nghĩa lời nói này từ nơi Thế Tôn”.
Vi-n 8 Rồi các Tỷ-kheo ấy sau khi đi khất thực ở Haliddavasana, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
Vi-n 9 —Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con, vào buổi sáng, đắp y cầm y bát đi vào Haliddavasana để khất thực. Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm để đi vào Haliddavasana khất thực. Vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”. Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo … (như trên) … Rồi chúng con, bạch Thế Tôn, không hoan hỷ, không bác bỏ lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, từ chỗ ngồi đứng dậy, chúng con ra đi với ý nghĩ: “Chúng ta sẽ được biết ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn”.
Vi-n 10 —Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải nói với các du sĩ ngoại đạo ấy như sau:
“Nhưng này chư Hiền, từ tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào? Và này chư Hiền, bi tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào? Và này chư Hiền, hỷ tâm giải thoát … xả tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào? ” Khi được hỏi như vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó khăn.
Vi-n 11 Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt ngoài giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên giới, thế giới này ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa mãn tâm với câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hay đệ tử Như Lai, hay những ai được nghe từ hai vị ấy.
Vi-n 12 Và này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với từ … tu tập xả giác chi câu hữu với từ, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm và pháp ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm và pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác”, vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác, hay đạt đến giải thoát được gọi là thanh tịnh, vị ấy an trú. Này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát là thanh tịnh tối thượng, Ta tuyên bố như vậy. Ở đây là trí tuệ đối với Tỷ-kheo không đạt tới giải thoát cao hơn.
Vi-n 13 Và này các Tỷ-kheo, bi tâm giải thoát tu tập như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với bi … tu tập xả giác chi câu hữu với bi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm … Nếu vị ấy muốn: “Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác”, vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác. Vượt qua một cách hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các tưởng đối ngại, không tác ý các tưởng sai biệt, vị ấy nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, vị ấy đạt đến và trú Không vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng từ tâm giải thoát lấy Không vô biên xứ làm tối thắng. Ở đây là trí tuệ của Tỷ-kheo không đạt tới giải thoát cao hơn.
Vi-n 14 Và này các Tỷ-kheo, tu tập hỷ tâm giải thoát như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với hỷ … tu tập xả giác chi câu hữu với hỷ liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm … Nếu vị ấy muốn: “Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác”, vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác … Vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, vị ấy nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, vị ấy đạt đến và trú Thức vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hỷ tâm giải thoát lấy Thức vô biên xứ làm tối thắng. Ở đây là trí tuệ của Tỷ-kheo không đạt tơùi giải thoát cao hơn.
Vi-n 15 Và này các Tỷ-kheo, tu tập xả tâm giải thoát như thế nào? Thú hướng như thế nào? Tối thắng như thế nào? Quả như thế nào? Cứu cánh như thế nào?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với xả … tu tập xả giác chi câu hữu với xả liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng ghê tởm đối với pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Ta sẽ trú với tưởng không ghê tởm đối với pháp ghê tởm và pháp không ghê tởm”, vị ấy trú ở đây với tưởng không ghê tởm. Nếu vị ấy muốn: “Từ bỏ cả hai không ghê tởm và ghê tởm, ta sẽ trú xả, chánh niệm tỉnh giác”, vị ấy trú ở đây với xả, chánh niệm tỉnh giác. Sau khi vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn với ý nghĩ: “Không có vật gì”, vị ấy chứng đạt và trú Vô sở hữu xứ. Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, xả tâm giải thoát lấy Vô sở hữu xứ làm tối thắng. Ở đây là trí tuệ của Tỷ-kheo không đạt tới giải thoát cao hơn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 46.54
- 6. Discussion
Full of Love
4. Kinh Tương Ưng Từ
Ekaṁ samayaṁ bhagavā koliyesu viharati haliddavasanaṁ nāma koliyānaṁ nigamo. Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya haliddavasanaṁ piṇḍāya pavisiṁsu. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi: “atippago kho tāva haliddavasane piṇḍāya carituṁ. Yannūna mayaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā”ti.
At one time the Buddha was staying in the land of the Koliyans, where they have a town named Haliddavasana. Then several mendicants robed up in the morning and, taking their bowls and robes, entered Haliddavasana for alms. Then it occurred to them, “It’s too early to wander for alms in Haliddavasana. Why don’t we visit the monastery for the wanderers of other religions?”
235. Một thời, đức Thế Tôn trú ở xứ Koliya, tại một thị trấn của người Koliya tên là Haliddavasana. Rồi một số đông các tỳ khưu, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi vào Haliddavasana để khất thực. Rồi các tỳ khưu ấy suy nghĩ thế này: ‘Còn quá sớm để đi khất thực ở Haliddavasana. Hay là chúng ta đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo kia.’”
Atha kho te bhikkhū yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ:
Then they went to the monastery for the wanderers of other religions and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. The wanderers said to them:
Rồi các tỳ khưu ấy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo. Sau khi đến, họ đã trao đổi lời chào hỏi thân mật với các du sĩ ngoại đạo ấy. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi, xã giao, họ ngồi xuống một bên. Khi các tỳ khưu ấy đang ngồi một bên, các du sĩ ngoại đạo nói với họ như sau:
“Samaṇo, āvuso, gotamo sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ deseti: ‘etha tumhe, bhikkhave, pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharatha. Karuṇāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ karuṇāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharatha. Muditāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ muditāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharatha. Upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharathā’ti.
“Reverends, the ascetic Gotama teaches his disciples like this: ‘Come, mendicants, give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom, and meditate spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Meditate spreading a heart full of compassion to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, spread a heart full of compassion to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Meditate spreading a heart full of rejoicing to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, spread a heart full of rejoicing to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Meditate spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.’
“‘Này chư hiền, sa-môn Gotama thuyết giảng giáo pháp cho các đệ tử của mình như sau: ‘Này các tỳ khưu, hãy đến, sau khi từ bỏ năm triền cái, là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, các ông hãy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, trên, dưới, ngang, khắp tất cả, cùng khắp thế giới, các ông hãy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, đại hành, vô lượng, không oán, không sân. Với tâm câu hữu với bi, các ông hãy an trú, biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, trên, dưới, ngang, khắp tất cả, cùng khắp thế giới, các ông hãy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với bi, quảng đại, đại hành, vô lượng, không oán, không sân. Với tâm câu hữu với hỷ, các ông hãy an trú, biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, trên, dưới, ngang, khắp tất cả, cùng khắp thế giới, các ông hãy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với hỷ, quảng đại, đại hành, vô lượng, không oán, không sân. Với tâm câu hữu với xả, các ông hãy an trú, biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, trên, dưới, ngang, khắp tất cả, cùng khắp thế giới, các ông hãy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô lượng, không oán, không sân.’”
Mayampi kho, āvuso, sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ desema: ‘etha tumhe, āvuso, pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha …pe… karuṇāsahagatena cetasā … muditāsahagatena cetasā … upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharathā’ti. Idha no, āvuso, ko viseso, ko adhippayāso, kiṁ nānākaraṇaṁ samaṇassa vā gotamassa amhākaṁ vā, yadidaṁ—dhammadesanāya vā dhammadesanaṁ, anusāsaniyā vā anusāsanin”ti?
We too teach our disciples in just the same way. What, then, is the difference between the ascetic Gotama’s teaching and instruction and ours?”
“‘Này chư hiền, chúng tôi cũng thuyết giảng giáo pháp cho các đệ tử của mình như sau: ‘Này chư hiền, hãy đến, sau khi từ bỏ năm triền cái, là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, các ông hãy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ... với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, các ông hãy an trú, biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, trên, dưới, ngang, khắp tất cả, cùng khắp thế giới, các ông hãy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô lượng, không oán, không sân.’ Vậy thì, này chư hiền, ở đây có sự khác biệt gì, có sự nổi trội gì, có sự dị biệt gì giữa sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là, giữa bài thuyết pháp và bài thuyết pháp, giữa lời giáo huấn và lời giáo huấn?’”
Atha kho te bhikkhū tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandiṁsu nappaṭikkosiṁsu. Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu:
“bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmā”ti. Atha kho te bhikkhū haliddavasane piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
Those mendicants neither approved nor rejected that statement of the wanderers of other religions. They rose from their seats, thinking:
“We will learn the meaning of this statement from the Buddha himself.” Then, after the meal, when they returned from almsround, they went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Rồi các tỳ khưu ấy không tán đồng cũng không phản đối lời nói của các du sĩ ngoại đạo. Không tán đồng, không phản đối, họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi, với ý nghĩ: ‘Chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa của lời nói này nơi đức Thế Tôn.’ Rồi các tỳ khưu ấy, sau khi đi khất thực ở Haliddavasana, sau bữa ăn, khi đã đi khất thực về, họ đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các tỳ khưu ấy bạch với đức Thế Tôn như sau:
“Idha mayaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya haliddavasane piṇḍāya pavisimha. Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ etadahosi: ‘atippago kho tāva haliddavasane piṇḍāya carituṁ.
Yannūna mayaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā’ti. Atha kho mayaṁ, bhante, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamimha, upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodimha.
“‘Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi vào Haliddavasana để khất thực. Bạch Thế Tôn, chúng con đã suy nghĩ thế này: ‘Còn quá sớm để đi khất thực ở Haliddavasana. Hay là chúng ta đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo kia.’”
“‘Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đã đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo. Sau khi đến, chúng con đã trao đổi lời chào hỏi thân mật với các du sĩ ngoại đạo ấy. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi, xã giao, chúng con ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, khi chúng con đang ngồi một bên, các du sĩ ngoại đạo ấy đã nói với chúng con như sau:
‘Samaṇo, āvuso, gotamo sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ deseti: “etha tumhe, bhikkhave, pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha …pe…
‘Này các hiền hữu, Sa-môn Gotama thuyết pháp cho các đệ tử như sau: ‘Này các tỳ khưu, hãy đến đây, các ngươi sau khi từ bỏ năm triền cái là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, hãy an trú với tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương... ...với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, biến mãn một phương, hãy an trú. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như vậy trên, dưới, ngang, ở khắp mọi nơi, với tâm xem tất cả như chính mình, biến mãn khắp thế gian chúng sanh với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô lượng, vô biên, không oán, không hận, hãy an trú.’’
Mayampi kho, āvuso, sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ desema: ‘etha tumhe, āvuso, pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha …pe… karuṇāsahagatena cetasā …pe… muditāsahagatena cetasā …pe… upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharathā’ti. Idha no, āvuso, ko viseso, ko adhippayāso, kiṁ nānākaraṇaṁ samaṇassa vā gotamassa amhākaṁ vā, yadidaṁ, dhammadesanāya vā dhammadesanaṁ, anusāsaniyā vā anusāsaninti?
‘Này các hiền hữu, chúng tôi cũng thuyết pháp cho các đệ tử như sau: ‘Này các hiền hữu, hãy đến đây, các ngươi sau khi từ bỏ năm triền cái là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, hãy an trú với tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương... ...với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, biến mãn một phương, hãy an trú. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như vậy trên, dưới, ngang, ở khắp mọi nơi, với tâm xem tất cả như chính mình, biến mãn khắp thế gian chúng sanh với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô lượng, vô biên, không oán, không hận, hãy an trú.’ Này các hiền hữu, ở đây, có gì khác biệt, có gì hơn kém, có gì khác nhau giữa chúng tôi và Sa-môn Gotama, về việc thuyết pháp so với thuyết pháp, về việc giáo huấn so với giáo huấn?’
Atha kho mayaṁ, bhante, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandimha nappaṭikkosimha, anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamimha: ‘bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmā’”ti.
Bạch Thế Tôn, khi ấy, chúng con đối với lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy đã không hoan hỷ cũng không phản đối. Không hoan hỷ và không phản đối, chúng con đã từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi, với ý nghĩ: ‘Chúng con sẽ tìm hiểu ý nghĩa của lời nói này nơi đức Thế Tôn.’”
“Evaṁvādino, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā: ‘kathaṁ bhāvitā panāvuso, mettācetovimutti, kiṅgatikā hoti, kiṁparamā, kiṁphalā, kiṁpariyosānā? Kathaṁ bhāvitā panāvuso, karuṇācetovimutti, kiṅgatikā hoti, kiṁparamā, kiṁphalā, kiṁpariyosānā? Kathaṁ bhāvitā panāvuso, muditācetovimutti, kiṅgatikā hoti, kiṁparamā, kiṁphalā, kiṁpariyosānā? Kathaṁ bhāvitā panāvuso, upekkhācetovimutti, kiṅgatikā hoti, kiṁparamā, kiṁphalā, kiṁpariyosānā’ti? Evaṁ puṭṭhā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā na ceva sampāyissanti, uttariñca vighātaṁ āpajjissanti. Taṁ kissa hetu? Yathā taṁ, bhikkhave, avisayasmiṁ. Nāhaṁ taṁ, bhikkhave, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yo imesaṁ pañhānaṁ veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyya, aññatra tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā ito vā pana sutvā.
“Mendicants, when wanderers of other religions say this, you should say to them: ‘But reverends, how is the heart’s release by love developed? What is its destination, apex, fruit, and culmination? How is the heart’s release by compassion developed? What is its destination, apex, fruit, and end? How is the heart’s release by rejoicing developed? What is its destination, apex, fruit, and end? How is the heart’s release by equanimity developed? What is its destination, apex, fruit, and end?’ Questioned like this, the wanderers of other religions would be stumped, and, in addition, would get frustrated. Why is that? Because they’re out of their element. I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who could provide a satisfying answer to these questions except the Realized One or his disciple or someone who has heard it from them.
“Này các tỳ khưu, các du sĩ ngoại đạo có quan điểm như vậy, các ngươi nên nói với họ như sau: ‘Này các hiền hữu, từ tâm giải thoát được tu tập như thế nào, có đích đến nào, có mục đích tối hậu nào, có kết quả nào, có sự kết thúc nào? Này các hiền hữu, bi tâm giải thoát được tu tập như thế nào, có đích đến nào, có mục đích tối hậu nào, có kết quả nào, có sự kết thúc nào? Này các hiền hữu, hỷ tâm giải thoát được tu tập như thế nào, có đích đến nào, có mục đích tối hậu nào, có kết quả nào, có sự kết thúc nào? Này các hiền hữu, xả tâm giải thoát được tu tập như thế nào, có đích đến nào, có mục đích tối hậu nào, có kết quả nào, có sự kết thúc nào?’ Này các tỳ khưu, khi được hỏi như vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy sẽ không thể trả lời được, và hơn nữa sẽ rơi vào tình trạng khốn đốn. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, vì điều đó không thuộc phạm vi của họ. Này các tỳ khưu, Ta không thấy một ai trong thế giới này, cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, trong chúng sanh cùng với sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, mà có thể làm cho tâm hoan hỷ bằng cách giải đáp những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hoặc đệ tử của Như Lai, hoặc người đã nghe từ đây.”
Kathaṁ bhāvitā ca, bhikkhave, mettācetovimutti, kiṅgatikā hoti, kiṁparamā, kiṁphalā, kiṁpariyosānā? Idha, bhikkhave, bhikkhu mettāsahagataṁ satisambojjhaṅgaṁ bhāveti …pe… mettāsahagataṁ upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ. So sace ākaṅkhati ‘appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, paṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati ‘paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati ‘appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, paṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati ‘paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati ‘appaṭikūlañca paṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṁ sato sampajāno’ti, upekkhako ca tattha viharati sato sampajāno, subhaṁ vā kho pana vimokkhaṁ upasampajja viharati. Subhaparamāhaṁ, bhikkhave, mettācetovimuttiṁ vadāmi, idhapaññassa bhikkhuno uttarivimuttiṁ appaṭivijjhato.
And how is the heart’s release by love developed? What is its destination, apex, fruit, and end? It’s when a mendicant develops the heart’s release by love together with the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive and the repulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate staying equanimous, mindful and aware, shunning both the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. The apex of the heart’s release by love is the beautiful, I say, for a wise mendicant here who has not penetrated to a higher freedom.
“Này các tỳ khưu, từ tâm giải thoát được tu tập như thế nào, có đích đến nào, có mục đích tối hậu nào, có kết quả nào, có sự kết thúc nào? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi câu hữu với từ... tu tập xả giác chi câu hữu với từ, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy nếu mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng bất tịnh trong đối tượng không bất tịnh’, vị ấy an trú với tưởng bất tịnh ở đó. Nếu mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng không bất tịnh trong đối tượng bất tịnh’, vị ấy an trú với tưởng không bất tịnh ở đó. Nếu mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng bất tịnh trong cả đối tượng không bất tịnh và đối tượng bất tịnh’, vị ấy an trú với tưởng bất tịnh ở đó. Nếu mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng không bất tịnh trong cả đối tượng bất tịnh và đối tượng không bất tịnh’, vị ấy an trú với tưởng không bất tịnh ở đó. Nếu mong muốn: ‘Ta sẽ tránh xa cả hai đối tượng không bất tịnh và bất tịnh, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác’, vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác ở đó. Hoặc là, vị ấy đạt đến và an trú trong tịnh giải thoát. Này các tỳ khưu, Ta tuyên bố rằng từ tâm giải thoát có tịnh là tối hậu, đối với vị tỳ khưu có trí tuệ ở đây mà chưa thể chứng ngộ giải thoát cao hơn.”
Kathaṁ bhāvitā ca, bhikkhave, karuṇācetovimutti, kiṅgatikā hoti, kiṁparamā, kiṁphalā, kiṁpariyosānā? Idha, bhikkhave, bhikkhu karuṇāsahagataṁ satisambojjhaṅgaṁ bhāveti …pe… karuṇāsahagataṁ upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ. So sace ākaṅkhati ‘appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, paṭikūlasaññī tattha viharati …pe… sace ākaṅkhati ‘appaṭikūlañca paṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṁ sato sampajāno’ti, upekkhako tattha viharati sato sampajāno. Sabbaso vā pana rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Ākāsānañcāyatanaparamāhaṁ, bhikkhave, karuṇācetovimuttiṁ vadāmi, idhapaññassa bhikkhuno uttarivimuttiṁ appaṭivijjhato.
And how is the heart’s release by compassion developed? What is its destination, apex, fruit, and end? It’s when a mendicant develops the heart’s release by compassion together with the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive,’ that’s what they do. … If they wish: ‘May I meditate staying equanimous, mindful and aware, shunning both the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. Or else, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite space. The apex of the heart’s release by compassion is the dimension of infinite space, I say, for a wise mendicant here who has not penetrated to a higher freedom.
“Này các Tỳ khưu, Bi tâm giải thoát được tu tập như thế nào, có xu hướng nào, có gì là tối thượng, có quả gì, có kết quả cuối cùng là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu tu tập niệm giác chi tương ưng với bi... cho đến... tu tập xả giác chi tương ưng với bi, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến xả ly. Vị ấy nếu mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng ghê tởm trong đối tượng không ghê tởm’, vị ấy an trú với tưởng ghê tởm trong đối tượng ấy... cho đến... nếu mong muốn: ‘Ta sẽ tránh xa cả hai, đối tượng không ghê tởm và đối tượng ghê tởm, và an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác’, vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác trong đối tượng ấy. Hoặc nữa, do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do các đối ngại tưởng biến mất, do không tác ý đến các dị biệt tưởng, với ý niệm ‘hư không là vô biên’, vị ấy chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng Bi tâm giải thoát có Không Vô Biên Xứ là tối thượng, đối với vị Tỳ khưu có trí tuệ ở đây mà chưa thể nhập giải thoát cao hơn.
Kathaṁ bhāvitā ca, bhikkhave, muditācetovimutti, kiṅgatikā hoti, kiṁparamā, kiṁphalā, kiṁpariyosānā? Idha, bhikkhave, bhikkhu muditāsahagataṁ satisambojjhaṅgaṁ bhāveti …pe… muditāsahagataṁ upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ. So sace ākaṅkhati ‘appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, paṭikūlasaññī tattha viharati …pe… sace ākaṅkhati ‘appaṭikūlañca paṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṁ sato sampajāno’ti, upekkhako tattha viharati sato sampajāno. Sabbaso vā pana ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Viññāṇañcāyatanaparamāhaṁ, bhikkhave, muditācetovimuttiṁ vadāmi, idhapaññassa bhikkhuno uttarivimuttiṁ appaṭivijjhato.
And how is the heart’s release by rejoicing developed? What is its destination, apex, fruit, and end? It’s when a mendicant develops the heart’s release by rejoicing together with the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive,’ that’s what they do. … If they wish: ‘May I meditate staying equanimous, mindful and aware, shunning both the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. Or else, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite consciousness. The apex of the heart’s release by rejoicing is the dimension of infinite consciousness, I say, for a wise mendicant here who has not penetrated to a higher freedom.
“Này các Tỳ khưu, Hỷ tâm giải thoát được tu tập như thế nào, có xu hướng nào, có gì là tối thượng, có quả gì, có kết quả cuối cùng là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu tu tập niệm giác chi tương ưng với hỷ... cho đến... tu tập xả giác chi tương ưng với hỷ, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến xả ly. Vị ấy nếu mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng ghê tởm trong đối tượng không ghê tởm’, vị ấy an trú với tưởng ghê tởm trong đối tượng ấy... cho đến... nếu mong muốn: ‘Ta sẽ tránh xa cả hai, đối tượng không ghê tởm và đối tượng ghê tởm, và an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác’, vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác trong đối tượng ấy. Hoặc nữa, do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘thức là vô biên’, vị ấy chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng Hỷ tâm giải thoát có Thức Vô Biên Xứ là tối thượng, đối với vị Tỳ khưu có trí tuệ ở đây mà chưa thể nhập giải thoát cao hơn.
Kathaṁ bhāvitā ca, bhikkhave, upekkhācetovimutti, kiṅgatikā hoti, kiṁparamā, kiṁphalā, kiṁpariyosānā? Idha, bhikkhave, bhikkhu upekkhāsahagataṁ satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ …pe… upekkhāsahagataṁ upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ. So sace ākaṅkhati ‘appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, paṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati ‘paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati ‘appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, paṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati ‘paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati ‘appaṭikūlañca paṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṁ sato sampajāno’ti, upekkhako tattha viharati sato sampajāno. Sabbaso vā pana viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Ākiñcaññāyatanaparamāhaṁ, bhikkhave, upekkhācetovimuttiṁ vadāmi, idhapaññassa bhikkhuno uttarivimuttiṁ appaṭivijjhato”ti.
Catutthaṁ.
And how is the heart’s release by equanimity developed? What is its destination, apex, fruit, and end? It’s when a mendicant develops the heart’s release by equanimity together with the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive and the repulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate staying equanimous, mindful and aware, shunning both the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. Or else, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, they enter and remain in the dimension of nothingness. The apex of the heart’s release by equanimity is the dimension of nothingness, I say, for a wise mendicant here who has not penetrated to a higher freedom.”
“Này các Tỳ khưu, Xả tâm giải thoát được tu tập như thế nào, có xu hướng nào, có gì là tối thượng, có quả gì, có kết quả cuối cùng là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu tu tập niệm giác chi tương ưng với xả, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến xả ly... cho đến... tu tập xả giác chi tương ưng với xả, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến xả ly. Vị ấy nếu mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng ghê tởm trong đối tượng không ghê tởm’, vị ấy an trú với tưởng ghê tởm trong đối tượng ấy. Nếu mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng không ghê tởm trong đối tượng ghê tởm’, vị ấy an trú với tưởng không ghê tởm trong đối tượng ấy. Nếu mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng ghê tởm trong đối tượng không ghê tởm và trong đối tượng ghê tởm’, vị ấy an trú với tưởng ghê tởm trong đối tượng ấy. Nếu mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng không ghê tởm trong đối tượng ghê tởm và trong đối tượng không ghê tởm’, vị ấy an trú với tưởng không ghê tởm trong đối tượng ấy. Nếu mong muốn: ‘Ta sẽ tránh xa cả hai, đối tượng không ghê tởm và đối tượng ghê tởm, và an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác’, vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác trong đối tượng ấy. Hoặc nữa, do vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả’, vị ấy chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng Xả tâm giải thoát có Vô Sở Hữu Xứ là tối thượng, đối với vị Tỳ khưu có trí tuệ ở đây mà chưa thể nhập giải thoát cao hơn.” Hết phẩm thứ tư.