- Saṁyutta Nikāya 46.55
- 6. Sākacchavagga
Bản dịch
SN 46.55 — Kinh Saṅgārava
Saṅgāravasutta
Vi-n 1 Sāvatthi …
Vi-n 2 Rồi Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, vị ấy liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Sangàrava thưa với Thế Tôn:
Vi-n 3 —Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật (mantà) mà tôi học thuộc lòng lâu ngày (sajjhàyakatà:đọc tụng) lại không nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật mà tôi không học thuộc lòng lâu ngày, lại nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật được học thuộc lòng?
I
Vi-n 4 —Này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị dục tham (kàmaràga) xâm chiếm, bị dục tham chi phối và không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trộn lẫn với thuốc nhuộm gôm lắc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng, và ở đây một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, không có thể như thật biết được, thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối, không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Vi-n 5 Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị sân xâm chiếm, bị sân chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi sân đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước được lửa đun sôi, sôi lên sùng sục, sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị sân xâm chiếm … Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Vi-n 6 Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối, không như thật biết sự xuất ly ra khỏi hôn trầm thụy miên đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm … còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Vi-n 7 Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm, bị trạo hối chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi trạo hối đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị gió thổi, dao động, chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm … còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Vi-n 8 Lại nữa, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, và không như thật biết sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy sự lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy sự lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy sự lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị khuấy động, khuấy đục, khuấy bùn, đặt trong bóng tối. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối … còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Vi-n 9 Ðây là nhân, đây là duyên, này Bà-la-môn, có khi các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
II
Vi-n 10 —Này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị dục tham xâm chiếm, không bị dục tham chi phối, lại như thật rõ biết sự xuất ly của dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày được nhớ đến, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không trộn lẫn với thuốc gôm lắc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị dục tham xâm chiếm … còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Vi-n 11 Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị sân xâm chiếm … còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không được lửa đun sôi, không sôi lên sùng sục, không sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị sân xâm chiếm, không bị sân chi phối … còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Vi-n 12 Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm thụy miên chi phối … còn nó gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm thụy miên chi phối … còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Vi-n 13 Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị trạo hối xâm chiếm, không bị trạo hối chi phối … còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị gió thổi, không bị dao động, không bị chấn động, không bị nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị trạo hối xâm chiếm, không bị trạo hối chi phối … còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Vi-n 14 Lại nữa, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị nghi hoặc xâm chiếm, không bị nghi hoặc chi phối … còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trừng tịnh, trong sáng, không bị khuấy động, đặt giữa ánh sáng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị nghi hoặc xâm chiếm, không bị nghi hoặc chi phối và như thật biết sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày được nhớ đến, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Vi-n 15 Ðây là nhân, đây là duyên, này Bà-la-môn, có khi các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày lại có thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Vi-n 16 Có bảy giác chi này, này Bà-la-môn, không chướng ngại, không triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này Bà-la-môn, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát … Xả giác chi, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Bảy giác chi này, này Bà-la-môn, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.
Vi-n 17 Khi được nói vậy, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 46.55
- 6. Discussion
With Saṅgārava
5. Kinh Saṅgārava
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho saṅgāravo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho saṅgāravo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
At Sāvatthī.
Then Saṅgārava the brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
236. Nhân duyên ở Sāvatthī. Rồi Bà-la-môn Saṅgārava đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng với Thế Tôn nói lên lời chào mừng. Sau khi trao đổi những lời chào mừng thân hữu đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Saṅgārava bạch với Thế Tôn điều này:
“Ko nu kho, bho gotama, hetu, ko paccayo yenekadā dīgharattaṁ sajjhāyakatāpi mantā nappaṭibhanti, pageva asajjhāyakatā? Ko pana, bho gotama, hetu, ko paccayo yenekadā dīgharattaṁ asajjhāyakatāpi mantā paṭibhanti, pageva sajjhāyakatā”ti?
“What is the cause, Worthy Gotama, what is the reason why sometimes even hymns that are long-rehearsed don’t spring to mind, let alone those that are not rehearsed? And why is it that sometimes even hymns that are long-unrehearsed spring to mind, let alone those that are rehearsed?”
“Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì mà đôi khi các câu thần chú dù đã được tụng đọc trong một thời gian dài lại không hiện khởi, huống nữa là những câu không được tụng đọc? Lại nữa, thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì mà đôi khi các câu thần chú dù đã không được tụng đọc trong một thời gian dài lại hiện khởi, huống nữa là những câu được tụng đọc?”
“Yasmiṁ kho, brāhmaṇa, samaye kāmarāgapariyuṭṭhitena cetasā viharati kāmarāgaparetena, uppannassa ca kāmarāgassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati, paratthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati, ubhayatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati; dīgharattaṁ sajjhāyakatāpi mantā nappaṭibhanti, pageva asajjhāyakatā.
“Brahmin, there’s a time when your heart is overcome and mired in sensual desire and you don’t truly understand the escape from sensual desire that has arisen. At that time you don’t truly know or see what is good for yourself, good for another, or good for both. Even hymns that are long-rehearsed don’t spring to mind, let alone those that are not rehearsed.
“Này Bà-la-môn, vào lúc nào một người an trú với tâm bị tham dục ái luyến chi phối, bị tham dục ái luyến xâm chiếm, và không biết như thật sự xuất ly khỏi tham dục ái luyến đã khởi lên, vào lúc ấy, vị ấy không biết, không thấy như thật lợi ích cho chính mình, cũng không biết, không thấy như thật lợi ích cho người khác, cũng không biết, không thấy như thật lợi ích cho cả hai; các câu thần chú dù đã được tụng đọc trong một thời gian dài cũng không hiện khởi, huống nữa là những câu không được tụng đọc.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, udapatto saṁsaṭṭho lākhāya vā haliddiyā vā nīliyā vā mañjiṭṭhāya vā. Tattha cakkhumā puriso sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno yathābhūtaṁ na jāneyya na passeyya.
Evameva kho, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye kāmarāgapariyuṭṭhitena cetasā viharati kāmarāgaparetena, uppannassa ca kāmarāgassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati …pe… paratthampi …pe… ubhayatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati; dīgharattaṁ sajjhāyakatāpi mantā nappaṭibhanti, pageva asajjhāyakatā.
Suppose there was a bowl of water that was mixed with dye such as red lac, turmeric, indigo, or rose madder. Even a person with clear eyes checking their own reflection wouldn’t truly know it or see it.
In the same way, when your heart is overcome and mired in sensual desire … Even hymns that are long-rehearsed don’t spring to mind, let alone those that are not rehearsed.
Này Bà-la-môn, ví như có chậu nước được pha trộn với thuốc nhuộm màu cánh kiến, hoặc với bột nghệ, hoặc với bột chàm, hoặc với bột cây thiên thảo. Ở đấy, người có mắt trong khi xem xét tướng mặt của mình sẽ không thể biết, không thể thấy đúng như thật. Cũng vậy, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy trú với tâm bị tham dục ái luyến xâm chiếm, bị tham dục ái luyến chi phối, vị ấy không biết rõ như thật về sự thoát ly khỏi tham dục ái luyến đã sanh khởi. Vào lúc ấy, vị ấy không biết, không thấy như thật về lợi ích của mình, về lợi ích của người khác ... về lợi ích của cả hai. Các câu thần chú dù đã được tụng đọc trong thời gian dài cũng không hiện ra trong trí, huống nữa là các câu chưa được tụng đọc.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye byāpādapariyuṭṭhitena cetasā viharati byāpādaparetena, uppannassa ca byāpādassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati, paratthampi …pe… ubhayatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati; dīgharattaṁ sajjhāyakatāpi mantā nappaṭibhanti, pageva asajjhāyakatā.
Furthermore, when your heart is overcome and mired in ill will … Even hymns that are long-rehearsed don’t spring to mind, let alone those that are not rehearsed.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy trú với tâm bị sân hận xâm chiếm, bị sân hận chi phối, vị ấy không biết rõ như thật về sự thoát ly khỏi sân hận đã sanh khởi. Vào lúc ấy, vị ấy không biết, không thấy như thật về lợi ích của mình, về lợi ích của người khác ... về lợi ích của cả hai. Các câu thần chú dù đã được tụng đọc trong thời gian dài cũng không hiện ra trong trí, huống nữa là các câu chưa được tụng đọc.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, udapatto agginā santatto pakkuthito usmudakajāto. Tattha cakkhumā puriso sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno yathābhūtaṁ na jāneyya na passeyya.
Evameva kho, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye byāpādapariyuṭṭhitena cetasā viharati byāpādaparetena, uppannassa ca byāpādassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati, paratthampi tasmiṁ samaye …pe… ubhayatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati; dīgharattaṁ sajjhāyakatāpi mantā nappaṭibhanti, pageva asajjhāyakatā.
Suppose there was a bowl of water that was heated by fire, boiling and bubbling. Even a person with clear eyes checking their own reflection wouldn’t truly know it or see it.
In the same way, when your heart is overcome and mired in ill will … Even hymns that are long-rehearsed don’t spring to mind, let alone those that are not rehearsed.
Này Bà-la-môn, ví như có chậu nước bị lửa làm cho nóng, sôi sùng sục, bốc hơi. Ở đấy, người có mắt trong khi xem xét tướng mặt của mình sẽ không thể biết, không thể thấy đúng như thật. Cũng vậy, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy trú với tâm bị sân hận xâm chiếm, bị sân hận chi phối, vị ấy không biết rõ như thật về sự thoát ly khỏi sân hận đã sanh khởi. Vào lúc ấy, vị ấy không biết, không thấy như thật về lợi ích của mình, về lợi ích của người khác vào lúc ấy ... về lợi ích của cả hai vào lúc ấy. Các câu thần chú dù đã được tụng đọc trong thời gian dài cũng không hiện ra trong trí, huống nữa là các câu chưa được tụng đọc.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye thinamiddhapariyuṭṭhitena cetasā viharati thinamiddhaparetena, uppannassa ca thinamiddhassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati, paratthampi …pe… ubhayatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati; dīgharattaṁ sajjhāyakatāpi mantā nappaṭibhanti, pageva asajjhāyakatā.
Furthermore, when your heart is overcome and mired in dullness and drowsiness … Even hymns that are long-rehearsed don’t spring to mind, let alone those that are not rehearsed.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy trú với tâm bị hôn trầm và thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm và thụy miên chi phối, vị ấy không biết rõ như thật về sự thoát ly khỏi hôn trầm và thụy miên đã sanh khởi. Vào lúc ấy, vị ấy không biết, không thấy như thật về lợi ích của mình, về lợi ích của người khác ... về lợi ích của cả hai. Các câu thần chú dù đã được tụng đọc trong thời gian dài cũng không hiện ra trong trí, huống nữa là các câu chưa được tụng đọc.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, udapatto sevālapaṇakapariyonaddho. Tattha cakkhumā puriso sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno yathābhūtaṁ na jāneyya na passeyya.
Evameva kho, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye thinamiddhapariyuṭṭhitena cetasā viharati thinamiddhaparetena, uppannassa ca thinamiddhassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati, paratthampi …pe… ubhayatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati; dīgharattaṁ sajjhāyakatāpi mantā nappaṭibhanti, pageva asajjhāyakatā.
Suppose there was a bowl of water enveloped with moss and aquatic plants. Even a person with clear eyes checking their own reflection wouldn’t truly know it or see it.
In the same way, when your heart is overcome and mired in dullness and drowsiness … Even hymns that are long-rehearsed don’t spring to mind, let alone those that are not rehearsed.
Này Bà-la-môn, ví như có chậu nước bị rong rêu bao phủ. Ở đấy, người có mắt trong khi xem xét tướng mặt của mình sẽ không thể biết, không thể thấy đúng như thật. Cũng vậy, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy trú với tâm bị hôn trầm và thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm và thụy miên chi phối, vị ấy không biết rõ như thật về sự thoát ly khỏi hôn trầm và thụy miên đã sanh khởi. Vào lúc ấy, vị ấy không biết, không thấy như thật về lợi ích của mình, về lợi ích của người khác ... về lợi ích của cả hai. Các câu thần chú dù đã được tụng đọc trong thời gian dài cũng không hiện ra trong trí, huống nữa là các câu chưa được tụng đọc.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye uddhaccakukkuccapariyuṭṭhitena cetasā viharati uddhaccakukkuccaparetena, uppannassa ca uddhaccakukkuccassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati, paratthampi …pe… ubhayatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati; dīgharattaṁ sajjhāyakatāpi mantā nappaṭibhanti, pageva asajjhāyakatā.
Furthermore, when your heart is overcome and mired in restlessness and remorse … Even hymns that are long-rehearsed don’t spring to mind, let alone those that are not rehearsed.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy trú với tâm bị trạo cử và hối quá xâm chiếm, bị trạo cử và hối quá chi phối, vị ấy không biết rõ như thật về sự thoát ly khỏi trạo cử và hối quá đã sanh khởi. Vào lúc ấy, vị ấy không biết, không thấy như thật về lợi ích của mình, về lợi ích của người khác ... về lợi ích của cả hai. Các câu thần chú dù đã được tụng đọc trong thời gian dài cũng không hiện ra trong trí, huống nữa là các câu chưa được tụng đọc.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, udapatto vāterito calito bhanto ūmijāto. Tattha cakkhumā puriso sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno yathābhūtaṁ na jāneyya na passeyya.
Evameva kho, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye uddhaccakukkuccapariyuṭṭhitena cetasā viharati uddhaccakukkuccaparetena, uppannassa ca uddhaccakukkuccassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati, paratthampi …pe… ubhayatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati; dīgharattaṁ sajjhāyakatāpi mantā nappaṭibhanti, pageva asajjhāyakatā.
Suppose there was a bowl of water stirred by the wind, quivering, swirling, and rippling. Even a person with clear eyes checking their own reflection wouldn’t truly know it or see it.
In the same way, when your heart is overcome and mired in restlessness and remorse … Even hymns that are long-rehearsed don’t spring to mind, let alone those that are not rehearsed.
Này Bà-la-môn, ví như có chậu nước bị gió làm cho lay động, dao động, chao đảo, nổi sóng. Ở đấy, người có mắt trong khi xem xét tướng mặt của mình sẽ không thể biết, không thể thấy đúng như thật. Cũng vậy, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy trú với tâm bị trạo cử và hối quá xâm chiếm, bị trạo cử và hối quá chi phối, vị ấy không biết rõ như thật về sự thoát ly khỏi trạo cử và hối quá đã sanh khởi. Vào lúc ấy, vị ấy không biết, không thấy như thật về lợi ích của mình, về lợi ích của người khác ... về lợi ích của cả hai. Các câu thần chú dù đã được tụng đọc trong thời gian dài cũng không hiện ra trong trí, huống nữa là các câu chưa được tụng đọc.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye vicikicchāpariyuṭṭhitena cetasā viharati vicikicchāparetena, uppannāya ca vicikicchāya nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati, paratthampi …pe… ubhayatthampi … dīgharattaṁ sajjhāyakatāpi mantā nappaṭibhanti, pageva asajjhāyakatā.
Furthermore, when your heart is overcome and mired in doubt … Even hymns that are long-rehearsed don’t spring to mind, let alone those that are not rehearsed.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy trú với tâm bị nghi ngờ xâm chiếm, bị nghi ngờ chi phối, vị ấy không biết rõ như thật về sự thoát ly khỏi sự nghi ngờ đã sanh khởi. Vào lúc ấy, vị ấy không biết, không thấy như thật về lợi ích của mình, về lợi ích của người khác ... về lợi ích của cả hai ... Các câu thần chú dù đã được tụng đọc trong thời gian dài cũng không hiện ra trong trí, huống nữa là các câu chưa được tụng đọc.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, udapatto āvilo luḷito kalalībhūto andhakāre nikkhitto. Tattha cakkhumā puriso sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno yathābhūtaṁ na jāneyya na passeyya.
Evameva kho, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye vicikicchāpariyuṭṭhitena cetasā viharati vicikicchāparetena, uppannāya ca vicikicchāya nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati, paratthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati, ubhayatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ na jānāti na passati; dīgharattaṁ sajjhāyakatāpi mantā nappaṭibhanti, pageva asajjhāyakatā. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, hetu ayaṁ paccayo yenekadā dīgharattaṁ sajjhāyakatāpi mantā nappaṭibhanti, pageva asajjhāyakatā.
Suppose there was a bowl of water that was cloudy, murky, and muddy, hidden in the darkness. Even a person with clear eyes checking their own reflection wouldn’t truly know it or see it.
In the same way, there’s a time when your heart is overcome and mired in doubt and you don’t truly understand the escape from doubt that has arisen. At that time you don’t truly know or see what is good for yourself, good for another, or good for both. Even hymns that are long-rehearsed don’t spring to mind, let alone those that are not rehearsed. This is the cause, brahmin, this is the reason why sometimes even hymns that are long-rehearsed don’t spring to mind, let alone those that are not rehearsed.
Này Bà-la-môn, ví như một chậu nước bị vẩn đục, bị khuấy động, trở thành bùn lầy, được đặt ở trong bóng tối. Ở đó, người có mắt đang xem xét hình ảnh khuôn mặt của mình sẽ không thể biết, không thể thấy đúng như thật. Cũng thế, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy sống với tâm bị hoài nghi xâm chiếm, bị hoài nghi chi phối, và không biết như thật về sự thoát ly khỏi hoài nghi đã sanh khởi, vào lúc ấy vị ấy không biết, không thấy như thật về lợi ích của bản thân; vào lúc ấy vị ấy không biết, không thấy như thật về lợi ích của người khác; vào lúc ấy vị ấy không biết, không thấy như thật về lợi ích của cả hai; các câu thần chú đã được tụng đọc trong thời gian dài cũng không được hiển thị, huống hồ là các câu chưa được tụng đọc. Này Bà-la-môn, đây là nguyên nhân, đây là điều kiện mà do đó đôi khi các câu thần chú đã được tụng đọc trong thời gian dài cũng không được hiển thị, huống hồ là các câu chưa được tụng đọc.
Yasmiñca kho, brāhmaṇa, samaye na kāmarāgapariyuṭṭhitena cetasā viharati na kāmarāgaparetena, uppannassa ca kāmarāgassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati, paratthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati, ubhayatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati; dīgharattaṁ asajjhāyakatāpi mantā paṭibhanti, pageva sajjhāyakatā.
There’s a time when your heart is not overcome and mired in sensual desire and you truly understand the escape from sensual desire that has arisen. At that time you truly know and see what is good for yourself, good for another, and good for both. Even hymns that are long-unrehearsed spring to mind, let alone those that are rehearsed.
Và này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy sống với tâm không bị tham dục xâm chiếm, không bị tham dục chi phối, và biết như thật về sự thoát ly khỏi tham dục đã sanh khởi, vào lúc ấy vị ấy biết, thấy như thật về lợi ích của bản thân; vào lúc ấy vị ấy biết, thấy như thật về lợi ích của người khác; vào lúc ấy vị ấy biết, thấy như thật về lợi ích của cả hai; các câu thần chú đã không được tụng đọc trong thời gian dài cũng được hiển thị, huống hồ là các câu đã được tụng đọc.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, udapatto asaṁsaṭṭho lākhāya vā haliddiyā vā nīliyā vā mañjiṭṭhāya vā. Tattha cakkhumā puriso sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno yathābhūtaṁ jāneyya passeyya.
Evameva kho, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye na kāmarāgapariyuṭṭhitena cetasā viharati na kāmarāgaparetena, uppannassa ca kāmarāgassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti …pe….
Suppose there was a bowl of water that was not mixed with dye such as red lac, turmeric, indigo, or rose madder. A person with clear eyes checking their own reflection would truly know it and see it.
In the same way, when your heart is not overcome and mired in sensual desire … Even hymns that are long-unpracticed spring to mind, let alone those that are practiced.
Này Bà-la-môn, ví như một chậu nước không bị pha trộn với cánh kiến, hoặc nghệ, hoặc chàm, hoặc với cây thiên thảo. Ở đó, người có mắt đang xem xét hình ảnh khuôn mặt của mình sẽ có thể biết, có thể thấy đúng như thật. Cũng thế, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy sống với tâm không bị tham dục xâm chiếm, không bị tham dục chi phối, và biết như thật về sự thoát ly khỏi tham dục đã sanh khởi... vân vân...
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye na byāpādapariyuṭṭhitena cetasā viharati na byāpādaparetena, uppannassa ca byāpādassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati, paratthampi …pe… ubhayatthampi …pe… dīgharattaṁ asajjhāyakatāpi mantā paṭibhanti, pageva sajjhāyakatā.
Furthermore, when your heart is not overcome and mired in ill will … Even hymns that are long-unrehearsed spring to mind, let alone those that are rehearsed.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy sống với tâm không bị sân hận xâm chiếm, không bị sân hận chi phối, và biết như thật về sự thoát ly khỏi sân hận đã sanh khởi, vào lúc ấy vị ấy biết, thấy như thật về lợi ích của bản thân; về lợi ích của người khác... vân vân... về lợi ích của cả hai... các câu thần chú đã không được tụng đọc trong thời gian dài cũng được hiển thị, huống hồ là các câu đã được tụng đọc.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, udapatto na agginā santatto na pakkuthito na usmudakajāto. Tattha cakkhumā puriso sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno yathābhūtaṁ jāneyya passeyya.
Evameva kho, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye na byāpādapariyuṭṭhitena cetasā viharati na byāpādaparetena, uppannassa ca byāpādassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati, paratthampi …pe… ubhayatthampi …pe… dīgharattaṁ asajjhāyakatāpi mantā paṭibhanti, pageva sajjhāyakatā.
Suppose there is a bowl of water that is not heated by a fire, boiling and bubbling. A person with clear eyes checking their own reflection would truly know it and see it.
In the same way, when your heart is not overcome and mired in ill will … Even hymns that are long-unrehearsed spring to mind, let alone those that are rehearsed.
Này Bà-la-môn, ví như một chậu nước không bị đun nóng bằng lửa, không sôi sùng sục, không bốc hơi, ở đó người có mắt đang xem xét hình ảnh khuôn mặt của mình sẽ có thể biết, có thể thấy đúng như thật. Cũng thế, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy sống với tâm không bị sân hận xâm chiếm, không bị sân hận chi phối, và biết như thật về sự thoát ly khỏi sân hận đã sanh khởi, vào lúc ấy vị ấy biết, thấy như thật về lợi ích của bản thân; về lợi ích của người khác... vân vân... về lợi ích của cả hai... các câu thần chú đã không được tụng đọc trong thời gian dài cũng được hiển thị, huống hồ là các câu đã được tụng đọc.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye na thinamiddhapariyuṭṭhitena cetasā viharati na thinamiddhaparetena, uppannassa ca thinamiddhassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati, paratthampi …pe… ubhayatthampi …pe… dīgharattaṁ asajjhāyakatāpi mantā paṭibhanti, pageva sajjhāyakatā.
Furthermore, when your heart is not overcome and mired in dullness and drowsiness … Even hymns that are long-unrehearsed spring to mind, let alone those that are rehearsed.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy sống với tâm không bị hôn trầm và thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm và thụy miên chi phối, và biết như thật về sự thoát ly khỏi hôn trầm và thụy miên đã sanh khởi, vào lúc ấy vị ấy biết, thấy như thật về lợi ích của bản thân; về lợi ích của người khác... vân vân... về lợi ích của cả hai... các câu thần chú đã không được tụng đọc trong thời gian dài cũng được hiển thị, huống hồ là các câu đã được tụng đọc.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, udapatto na sevālapaṇakapariyonaddho. Tattha cakkhumā puriso sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno yathābhūtaṁ jāneyya passeyya.
Evameva kho, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye na thinamiddhapariyuṭṭhitena cetasā viharati na thinamiddhaparetena, uppannassa ca thinamiddhassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati, paratthampi …pe… ubhayatthampi …pe… dīgharattaṁ asajjhāyakatāpi mantā paṭibhanti, pageva sajjhāyakatā.
Suppose there is a bowl of water that is not enveloped with moss and aquatic plants. A person with clear eyes checking their own reflection would truly know it and see it.
In the same way, when your heart is not overcome and mired in dullness and drowsiness … Even hymns that are long-unrehearsed spring to mind, let alone those that are rehearsed.
Này Bà-la-môn, ví như một chậu nước không bị rong rêu bao phủ. Ở đó, người có mắt đang xem xét hình ảnh khuôn mặt của mình sẽ có thể biết, có thể thấy đúng như thật. Cũng thế, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy sống với tâm không bị hôn trầm và thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm và thụy miên chi phối, và biết như thật về sự thoát ly khỏi hôn trầm và thụy miên đã sanh khởi, vào lúc ấy vị ấy biết, thấy như thật về lợi ích của bản thân; về lợi ích của người khác... vân vân... về lợi ích của cả hai... các câu thần chú đã không được tụng đọc trong thời gian dài cũng được hiển thị, huống hồ là các câu đã được tụng đọc.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye na uddhaccakukkuccapariyuṭṭhitena cetasā viharati na uddhaccakukkuccaparetena, uppannassa ca uddhaccakukkuccassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati, paratthampi …pe… ubhayatthampi …pe… dīgharattaṁ asajjhāyakatāpi mantā paṭibhanti, pageva sajjhāyakatā.
Furthermore, when your heart is not overcome and mired in restlessness and remorse … Even hymns that are long-unrehearsed spring to mind, let alone those that are rehearsed.
Lại nữa, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy sống với tâm không bị trạo cử và hối quá xâm chiếm, không bị trạo cử và hối quá chi phối, và biết như thật về sự thoát ly khỏi trạo cử và hối quá đã sanh khởi, vào lúc ấy vị ấy biết, thấy như thật về lợi ích của bản thân; về lợi ích của người khác... vân vân... về lợi ích của cả hai... các câu thần chú đã không được tụng đọc trong thời gian dài cũng được hiển thị, huống hồ là các câu đã được tụng đọc.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, udapatto na vāterito na calito na bhanto na ūmijāto. Tattha cakkhumā puriso sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno yathābhūtaṁ jāneyya passeyya.
Evameva kho, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye na uddhaccakukkuccapariyuṭṭhitena cetasā viharati na uddhaccakukkuccaparetena, uppannassa ca uddhaccakukkuccassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati, paratthampi …pe… ubhayatthampi …pe… dīgharattaṁ asajjhāyakatāpi mantā paṭibhanti, pageva sajjhāyakatā.
Suppose there is a bowl of water that is not stirred by the wind, quivering, swirling, and rippling. A person with clear eyes checking their own reflection would truly know it and see it.
In the same way, when your heart is not overcome and mired in restlessness and remorse … Even hymns that are long-unrehearsed spring to mind, let alone those that are rehearsed.
Này Bà-la-môn, ví như một chậu nước không bị gió khuấy động, không bị lay động, không bị xoay tròn, không sanh ra sóng gợn. Ở đó, người có mắt đang xem xét hình ảnh khuôn mặt của mình sẽ có thể biết, có thể thấy đúng như thật. Cũng thế, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy sống với tâm không bị trạo cử và hối quá xâm chiếm, không bị trạo cử và hối quá chi phối, và biết như thật về sự thoát ly khỏi trạo cử và hối quá đã sanh khởi, vào lúc ấy vị ấy biết, thấy như thật về lợi ích của bản thân; về lợi ích của người khác... vân vân... về lợi ích của cả hai... các câu thần chú đã không được tụng đọc trong thời gian dài cũng được hiển thị, huống hồ là các câu đã được tụng đọc.
Puna caparaṁ, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye na vicikicchāpariyuṭṭhitena cetasā viharati na vicikicchāparetena, uppannāya ca vicikicchāya nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati, paratthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati; ubhayatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati; dīgharattaṁ asajjhāyakatāpi mantā paṭibhanti, pageva sajjhāyakatā.
Furthermore, when your heart is not overcome and mired in doubt … Even hymns that are long-unrehearsed spring to mind, let alone those that are rehearsed.
Này Bà-la-môn, lại nữa, vào lúc nào vị ấy an trú với tâm không bị hoài nghi xâm chiếm, không bị hoài nghi chi phối, và vị ấy biết như thật sự xuất ly khỏi hoài nghi đã sanh khởi, vào lúc ấy, vị ấy biết và thấy như thật lợi ích cho chính mình, vào lúc ấy, vị ấy biết và thấy như thật lợi ích cho người khác; vào lúc ấy, vị ấy biết và thấy như thật lợi ích cho cả hai; các câu thần chú dù đã lâu không tụng đọc cũng hiện ra rõ ràng, huống nữa là các câu đã được tụng đọc.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, udapatto accho vippasanno anāvilo āloke nikkhitto. Tattha cakkhumā puriso sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno yathābhūtaṁ jāneyya passeyya.
Evameva kho, brāhmaṇa, yasmiṁ samaye na vicikicchāpariyuṭṭhitena cetasā viharati na vicikicchāparetena, uppannāya ca vicikicchāya nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, attatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati, paratthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati, ubhayatthampi tasmiṁ samaye yathābhūtaṁ jānāti passati; dīgharattaṁ asajjhāyakatāpi mantā paṭibhanti, pageva sajjhāyakatā. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, hetu ayaṁ paccayo yenekadā dīgharattaṁ asajjhāyakatāpi mantā paṭibhanti, pageva sajjhāyakatā.
Suppose there was a bowl of water that was transparent, clear, and unclouded, brought into the light. A person with clear eyes checking their own reflection would truly know it and see it.
In the same way, there’s a time when your heart is not overcome and mired in doubt and you truly understand the escape from doubt that has arisen. At that time you truly know and see what is good for yourself, good for another, and good for both. Even hymns that are long-unrehearsed spring to mind, let alone those that are rehearsed. This is the cause, brahmin, this is the reason why sometimes even hymns that are long-unrehearsed do spring to mind, let alone those that are rehearsed.
Này Bà-la-môn, ví như một bát nước trong, trong suốt, không vẩn đục, được đặt ở nơi có ánh sáng. Ở đó, một người có mắt, khi xem xét tướng mặt của mình, có thể biết và thấy như thật. Cũng vậy, này Bà-la-môn, vào lúc nào vị ấy an trú với tâm không bị hoài nghi xâm chiếm, không bị hoài nghi chi phối, và vị ấy biết như thật sự xuất ly khỏi hoài nghi đã sanh khởi, vào lúc ấy, vị ấy biết và thấy như thật lợi ích cho chính mình, vào lúc ấy, vị ấy biết và thấy như thật lợi ích cho người khác, vào lúc ấy, vị ấy biết và thấy như thật lợi ích cho cả hai; các câu thần chú dù đã lâu không tụng đọc cũng hiện ra rõ ràng, huống nữa là các câu đã được tụng đọc. Này Bà-la-môn, đây là nhân, đây là duyên mà do đó đôi khi các câu thần chú dù đã lâu không tụng đọc cũng hiện ra rõ ràng, huống nữa là các câu đã được tụng đọc.
Sattime, brāhmaṇa, bojjhaṅgā anāvaraṇā anīvaraṇā cetaso anupakkilesā bhāvitā bahulīkatā vijjāvimuttiphalasacchikiriyāya saṁvattanti. Katame satta? Satisambojjhaṅgo kho, brāhmaṇa, anāvaraṇo anīvaraṇo cetaso anupakkileso bhāvito bahulīkato vijjāvimuttiphalasacchikiriyāya saṁvattati …pe… upekkhāsambojjhaṅgo kho, brāhmaṇa, anāvaraṇo anīvaraṇo cetaso anupakkileso bhāvito bahulīkato vijjāvimuttiphalasacchikiriyāya saṁvattati. Ime kho, brāhmaṇa, satta bojjhaṅgā anāvaraṇā anīvaraṇā cetaso anupakkilesā bhāvitā bahulīkatā vijjāvimuttiphalasacchikiriyāya saṁvattantī”ti.
Evaṁ vutte, saṅgāravo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Pañcamaṁ.
These seven awakening factors are not obstacles, hindrances, or corruptions of the mind. When developed and cultivated they lead to the realization of the fruit of knowledge and freedom. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These seven awakening factors are not obstacles, hindrances, or corruptions of the mind. When developed and cultivated they lead to the realization of the fruit of knowledge and freedom.”
When he said this, Saṅgārava said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Này Bà-la-môn, bảy giác chi này không phải là chướng ngại, không phải là triền cái, không phải là cấu uế của tâm, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến sự chứng ngộ quả của minh và giải thoát. Bảy pháp ấy là gì? Này Bà-la-môn, niệm giác chi không phải là chướng ngại, không phải là triền cái, không phải là cấu uế của tâm, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến sự chứng ngộ quả của minh và giải thoát... Này Bà-la-môn, xả giác chi không phải là chướng ngại, không phải là triền cái, không phải là cấu uế của tâm, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến sự chứng ngộ quả của minh và giải thoát. Này Bà-la-môn, bảy giác chi này không phải là chướng ngại, không phải là triền cái, không phải là cấu uế của tâm, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến sự chứng ngộ quả của minh và giải thoát. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Saṅgārava bạch với Thế Tôn rằng: 'Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama... Kể từ hôm nay, mong Tôn giả Gotama hãy xem con là một người cận sự nam đã quy y trọn đời.' Hết kinh thứ năm.