- Saṁyutta Nikāya 46.17
- 2. Gilānavagga
Bản dịch
SN 46.17 — Kinh Pāraṅgama
Pāraṅgamasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Có bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia … Xả giác chi, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia. Bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia.
Vi-n 3 Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ thuyết như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 1~1 Ít thay là những người,
Qua được bờ bên kia,
Phần lớn quần chúng khác,
Chạy qua lại bờ này.Vi-n 2~2 Những ai khéo thuyết giảng,
Chánh pháp khéo tuyên thuyết,
Họ đến bờ bên kia,
Khéo vượt cảnh Ma giới.Vi-n 3~3 Ðoạn tận các hắc pháp,
Bậc trí tu bạch pháp,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Trong độc cư an lạc.Vi-n 4~4 Ở đây muốn hưởng lạc,
Hãy bỏ mọi dục vọng,
Bậc trí tự thanh lọc,
Tự tâm khởi phiền não.Vi-n 5~5 Những ai khéo tu tập,
Chánh tâm trong giác chi,
Từ bỏ các chấp trước,
Hoan hỷ, không chấp thủ,
Lậu hoặc tận, chói sáng,
Ðạt tịch tịnh ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 46.17
- 2. Sick
Going to the Far Shore
7. Kinh Pāraṅgama
“Sattime, bhikkhave, bojjhaṅgā bhāvitā bahulīkatā apārā pāraṁ gamanāya saṁvattanti. Katame satta? Satisambojjhaṅgo …pe… upekkhāsambojjhaṅgo—ime kho, bhikkhave, satta bojjhaṅgā bhāvitā bahulīkatā apārā pāraṁ gamanāya saṁvattantīti.
“Mendicants, when these seven awakening factors are developed and cultivated they lead to going from the near shore to the far shore. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These seven awakening factors, when developed and cultivated, lead to going from the near shore to the far shore.
198. “Này các Tỳ khưu, bảy giác chi này, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia. Bảy giác chi nào? Niệm giác chi… cho đến… Xả giác chi. Này các Tỳ khưu, bảy giác chi này, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia.”
Appakā te manussesu, ye janā pāragāmino; Athāyaṁ itarā pajā, tīramevānudhāvati.
Few are those among humans who cross to the far shore. The rest just run around on the near shore.
“Trong loài người, ít thay là những người đến được bờ bên kia. Còn lại quần chúng khác chỉ chạy loanh quanh bờ bên này.”
Ye ca kho sammadakkhāte, dhamme dhammānuvattino; Te janā pāramessanti, maccudheyyaṁ suduttaraṁ.
When the teaching is well explained, the people who practice accordingly will cross over Death’s dominion so hard to pass.
“Còn những ai trong Pháp được khéo giảng, sống thuận theo Chánh Pháp, những người ấy sẽ vượt qua cảnh giới của tử thần, rất khó vượt qua, để đến được bờ bên kia.”
Kaṇhaṁ dhammaṁ vippahāya, sukkaṁ bhāvetha paṇḍito; Okā anokamāgamma, viveke yattha dūramaṁ.
Rid of dark qualities, an astute person would develop the bright. Having left home for homelessness in seclusion, where joy is hard,
“Bậc trí từ bỏ pháp đen, hãy tu tập pháp trắng. Từ nhà đến không nhà, đến nơi viễn ly, nơi khó tìm được sự hoan hỷ.”
Tatrābhiratimiccheyya, hitvā kāme akiñcano; Pariyodapeyya attānaṁ, cittaklesehi paṇḍito.
they’d long for satisfaction there. Forsaking sensual pleasures, owning nothing, an astute person would cleanse themselves of mental corruptions.
“Ở nơi ấy, hãy mong cầu sự hoan hỷ. Từ bỏ các dục, không còn vướng bận, bậc trí hãy gột sạch tự thân khỏi các phiền não của tâm.”
Yesaṁ sambodhiyaṅgesu, sammā cittaṁ subhāvitaṁ; Ādānappaṭinissagge, anupādāya ye ratā; Khīṇāsavā jutimanto, te loke parinibbutā”ti.
Sattamaṁ.
And those whose minds are rightly developed in the awakening factors; who, letting go of attachments, delight in not grasping—with defilements ended, brilliant, they are quenched in this world.”
“Những vị nào có tâm được khéo tu tập trong các giác chi, những vị nào hoan hỷ trong sự từ bỏ chấp thủ, không còn chấp thủ, các vị ấy đã tận trừ lậu hoặc, có hào quang, đã tịch diệt Niết-bàn trong thế gian này.”