- Saṁyutta Nikāya 46.16
- 2. Gilānavagga
Bản dịch
SN 46.16 — Kinh Bệnh Thứ Ba
Tatiyagilānasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Vương Xá, rừng Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Thế Tôn bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Mahà Cunda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Cunda đang ngồi một bên:
—Này Cunda, hãy thuyết về giác chi.
Vi-n 5 —Bạch Thế Tôn, có bảy giác chi này do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Bạch Thế Tôn, niệm giác chi do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn … Bạch Thế Tôn, xả giác chi do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, bảy giác chi này do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
—Thật vậy, này Cunda, chúng là giác chi. Thật vậy, này Cunda, chúng là giác chi.
Vi-n 6 Tôn giả Mahà Cunda thuyết như vậy, bậc Ðạo Sư chấp nhận. Và Thế Tôn thoát khỏi bệnh ấy. Bệnh ấy của Thế Tôn được đoạn tận như vậy. (Kinh Hán Tạng: Tăng, Ðại 2,73la)
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 46.16
- 2. Sick
Sick (3rd)
6. Kinh Bệnh Thứ Ba
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena bhagavā ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno. Atha kho āyasmā mahācundo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ mahācundaṁ bhagavā etadavoca:
“paṭibhantu taṁ, cunda, bojjhaṅgā”ti.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. Now at that time he was sick, suffering, gravely ill. Then Venerable Mahācunda went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
“Cunda, express your understanding of the awakening factors.”
197. Một thời, đức Thế Tôn trú tại Rājagaha, ở Veḷuvana, tại Kalandakanivāpa. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bị bệnh, khổ não, bệnh tình trầm trọng. Rồi Tôn giả Mahācunda đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã nói với Tôn giả Mahācunda đang ngồi một bên điều này: “Này Cunda, các giác chi hãy hiện khởi lên trong con.”
“Sattime, bhante, bojjhaṅgā bhagavatā sammadakkhātā bhāvitā bahulīkatā abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattanti. Katame satta? Satisambojjhaṅgo kho, bhante, bhagavatā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati …pe… upekkhāsambojjhaṅgo kho, bhante, bhagavatā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati. Ime kho, bhante, satta bojjhaṅgā bhagavatā sammadakkhātā bhāvitā bahulīkatā abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattantī”ti.
“Taggha, cunda, bojjhaṅgā; taggha, cunda, bojjhaṅgā”ti.
“Sir, the Buddha has rightly explained these seven awakening factors. When developed and cultivated, they lead to direct knowledge, to awakening, and to extinguishment. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. These are the seven awakening factors that the Buddha has rightly explained. When developed and cultivated, they lead to direct knowledge, to awakening, and to extinguishment.”
“Indeed, Cunda, these are awakening factors! Indeed, Cunda, these are awakening factors!”
“Bạch Thế Tôn, bảy giác chi này đã được đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bảy điều ấy là gì? Bạch Thế Tôn, niệm giác chi đã được đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn… cho đến… xả giác chi, bạch Thế Tôn, đã được đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, bảy giác chi này đã được đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.” “Thật vậy, này Cunda, đó là các giác chi; thật vậy, này Cunda, đó là các giác chi.”
Idamavocāyasmā cundo. Samanuñño satthā ahosi. Vuṭṭhahi ca bhagavā tamhā ābādhā. Tathāpahīno ca bhagavato so ābādho ahosīti.
Chaṭṭhaṁ.
That is what Cunda said, and the Teacher concurred. And that’s how the Buddha recovered from that illness.
Tôn giả Cunda đã nói điều này. Bậc Đạo Sư đã hài lòng. Và đức Thế Tôn đã khỏi căn bệnh ấy. Căn bệnh ấy của đức Thế Tôn đã được đoạn trừ như vậy. (Kinh) thứ sáu.