- Saṁyutta Nikāya 4.25
- 3. Tatiyavagga
Bản dịch
SN 4.25 — Kinh Các Ái Nữ Của Māra
Māradhītusutta
Vi-n 1 Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục, đi đến Ác ma, sau khi đến, nói lên bài kệ này với Ác ma:
Cha thân yêu, sao cha
Vi-n 2 (Ác ma):
Lại thất vọng như vậy?
Vì ai, vì người nào,
Khiến cha phải sầu muộn?
Chúng con với ái dục,
Sử dụng như bẫy mồi,
Sẽ buộc chặt họ lại,
Như buộc chặt voi rừng,
Và dẫn họ đến cha,
Khiến họ quy phục cha.Bậc La-hán, Thiện Thệ,
Bậc Chánh Giác ở đời,
Không dễ dùng ái dục,
Khéo nhiếp phục vị ấy.
Vị ấy đã vượt qua,
Lãnh vực của Ác ma,
Do vậy, ta sầu não,
Buồn phiền đến cực độ.
Vi-n 3 Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc, và Tham dục đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
—Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.
Nhưng Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.
Vi-n 4 Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi qua phía một bên và suy nghĩ như sau: “Sở thích của con người cao thấp khác nhau. Vậy chúng ta biến hình thành một trăm thiếu nữ”.
Vi-n 5 Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục, sau khi biến hình thành một trăm thiếu nữ, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
—Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.
Nhưng Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.
Vi-n 6 Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi qua phía một bên và suy nghĩ như sau: “Sở thích của con người cao thấp khác nhau. Vậy chúng ta hãy biến hình thành một trăm thiếu phụ chưa sanh con”.
Vi-n 7 Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục sau khi biến thành một trăm thiếu phụ chưa sanh con, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
—Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.
Nhưng Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.
Vi-n 8 Rồi các nữ ma Khát ái…, … sau khi biến hình thành một thiếu phụ đã sanh một con, đi đến Thế Tôn…, … vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.
Vi-n 9 Rồi các nữ ma Khát ái…, … sau khi biến hình thành một thiếu phụ đã sanh hai con, đi đến Thế Tôn…, … vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.
Vi-n 10 Rồi các nữ ma Khát ái…, … sau khi biến hình thành một thiếu phụ trung niên, đi đến Thế Tôn…, … vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.
Vi-n 11 Rồi các nữ ma Khát ái…, … sau khi biến hình thành một phụ nữ lớn tuổi, đi đến Thế Tôn…, … Vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.
Vi-n 12 Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi qua một bên và nói như sau:
—Cha chúng ta nói thật đúng sự thật:
Bậc La-hán, Thiện Thệ,
Bậc Chánh Giác ở đời,
Không dễ dùng ái dục,
Khéo nhiếp phục vị ấy.
Vị ấy đã vượt qua,
Quyền lực của Ác ma,
Do vậy ta sầu não,
Buồn phiền đến cực độ.
Vi-n 13 Nếu chúng ta tấn công với phương tiện này, một Sa-môn hay Bà-la-môn nào chưa ly ái dục, người ấy sẽ bể tim, hay miệng hộc máu nóng, hay bị loạn tâm, hay bị cuồng ý. Ví như một cây lau xanh bị gặt hái sẽ héo hắt, khô cằn, tiều tụy. Cũng vậy, người ấy sẽ héo hắt, khô cằn, tiều tụy.
Vi-n 14 Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, liền đứng một bên.
Vi-n 15 Ðứng một bên, nữ ma Khát ái nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Với tâm tư sầu muộn,
Vi-n 16 (Thế Tôn):
Ngài Thiền tư trong rừng,
Vì tài sản hao mòn,
Hay vì thèm tài sản?
Có thể tại xóm làng,
Ngài đã gây tội phạm,
Sao Ngài không làm thân
Với bà con xóm giềng?
Sao Ngài không có thể
Làm bạn với một ai?Với mục đích đạt thành,
Với thân tâm an tịnh,
Ta chiến thắng quân binh.
Hình sắc lạc, khả ái.
Ta độc tọa Thiền tư,
Chứng ngộ chơn an lạc,
Do vậy, giữa chúng sanh,
Ta không bạn một ai.
Làm bạn với một ai,
Ðối với Ta không cần.
Vi-n 17 Rồi nữ ma Bất lạc nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Làm sao vị Tỷ-kheo,
Vi-n 18 (Thế Tôn):
Sống giữa nhiều chướng ngại,
Ðã vượt năm bộc lưu,
Lại gắng vượt thứ sáu?
Làm sao Thiền tư được,
Giữa rất nhiều dục tưởng,
Ðược giữ ngoài vị ấy,
Không bắt vị ấy được?Với thân được khinh an,
Với tâm khéo giải thoát,
Không còn các sở hành,
Chánh niệm, không tham trước,
Biết rõ được Chánh pháp,
Không tầm, tu Thiền định.
Không phẫn nộ, vọng niệm,
Không thụy miên, giải đãi,
Như vậy vị Tỷ-kheo,
Sống giữa nhiều chướng ngại,
Ðã vượt năm bộc lưu,
Lại gắng vượt thứ sáu,
Như vậy tu Thiền tư,
Giữa rất nhiều dục tưởng,
Ðược giữ ngoài vị ấy,
Không bắt vị ấy được.
Vi-n 19 Rồi nữ ma Tham dục, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðoạn tận được khát ái,
Vi-n 20 (Thế Tôn):
Sống giữa các chúng đoàn,
Phần lớn các chúng sanh,
Chắc chắn sẽ sống vậy.
Vị không tham trước này,
Sống từ bỏ đám đông,
Ðoạn tận dẫn quần sanh,
Thoát khỏi Ma vương quốc.Thật vậy, chư Ðại Hùng,
Thật vậy, chư Như Lai,
Với chơn vi diệu pháp,
Hướng dẫn mọi quần sanh,
Ðược Chánh pháp hướng dẫn,
Dầu có ganh tức gì,
Không thể không biết vậy.
Vi-n 21 Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi đến Ác ma.
Vi-n 22 Và Ác ma thấy các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục từ xa đi lại. Thấy vậy, Ác ma liền nói lên bài kệ:
Các Ngươi thật kẻ ngu,
Lấy cành sen phá đá,
Lấy móng tay đào núi,
Lấy răng nhai sắt thép.
Các Ngươi thật giống người,
Lấy đầu húc đá tảng,
Cố gắng tìm chân đứng,
Trong vực thẳm thâm sâu.
Các Ngươi thật giống người,
Lấy ngực đâm lao nhọn.
Thất vọng, các Ông đến,
Giã từ Gotama.
Trong áo xiêm lòe loẹt,
Con gái ma, chúng đến,
Khát ái và Bất lạc,
Cùng với nàng Tham dục.
Bậc Ðạo Sư quét sạch,
Các con gái Ác ma,
Như Thần gió quét sạch,
Các cây lá rơi rụng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 4.25
- 3. Māra
Māra’s Daughters
5. Kinh Các Ái Nữ Của Māra
Atha kho māro pāpimā bhagavato santike imā nibbejanīyā gāthāyo abhāsitvā tamhā ṭhānā apakkamma bhagavato avidūre pathaviyaṁ pallaṅkena nisīdi tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno kaṭṭhena bhūmiṁ vilikhanto.
Atha kho taṇhā ca arati ca ragā ca māradhītaro yena māro pāpimā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāya ajjhabhāsiṁsu:
And then Māra the Wicked, after reciting these verses of disillusionment in the Buddha’s presence, left that place. He sat cross-legged on the ground not far from the Buddha, silent, dismayed, shoulders drooping, downcast, depressed, with nothing to say, scratching the ground with a stick.
Then Māra’s daughters Craving, Malignancy, and Lust went up to Māra the Wicked, and addressed him in verse:
161. Khi ấy, Ác ma Māra, sau khi nói lên những câu kệ chán nản này trước sự hiện diện của Thế Tôn, đã rời khỏi nơi đó và ngồi kiết-già trên mặt đất, không xa Thế Tôn, im lặng, bối rối, vai rũ, mặt cúi gằm, trầm tư, không nói nên lời, dùng một que cây vạch xuống đất. Bấy giờ, các ái nữ của Māra là Taṇhā, Arati, và Ragā đi đến chỗ Ác ma Māra; sau khi đến, họ nói lên kệ này với Ác ma Māra:
“Kenāsi dummano tāta, purisaṁ kaṁ nu socasi; Mayaṁ taṁ rāgapāsena, āraññamiva kuñjaraṁ; Bandhitvā ānayissāma, vasago te bhavissatī”ti.
“Why so downhearted, dad? What man are you upset about? We’ll catch him with the snare of lust, like an elephant in the wild. We’ll tie him up and bring him back—he’ll fall under your sway!”
“Thưa cha, vì sao cha buồn rầu? Cha đang sầu muộn vì người đàn ông nào? Chúng con sẽ dùng bẫy ái dục để trói buộc và dẫn ông ta về, như người ta bắt một con voi rừng. Ông ta sẽ phải quy phục dưới quyền lực của cha.”
“Arahaṁ sugato loke, na rāgena suvānayo; Māradheyyaṁ atikkanto, tasmā socāmahaṁ bhusan”ti.
“In this world he is the perfected one, the Holy One. He’s not easily seduced by lust. He has slipped free of Māra’s dominion; that’s why I’m so upset.”
“Vị ấy là bậc A-la-hán, Thiện Thệ ở trên đời, không dễ gì bị ái dục dẫn dắt. Ngài đã vượt qua khỏi cảnh giới của Māra. Vì thế, ta vô cùng sầu muộn.”
Atha kho taṇhā ca arati ca ragā ca māradhītaro yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “pāde te, samaṇa, paricāremā”ti. Atha kho bhagavā na manasākāsi, yathā taṁ anuttare upadhisaṅkhaye vimutto.
Then Māra’s daughters Craving, Malignancy, and Lust went up to the Buddha, and said to him, “We serve at your feet, ascetic.” But the Buddha ignored them, since he was freed with the supreme ending of attachments.
Bấy giờ, các ái nữ của Māra là Taṇhā, Arati, và Ragā đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ thưa với Thế Tôn: “Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân ngài.” Nhưng Thế Tôn đã không để tâm đến, vì Ngài đã giải thoát trong sự đoạn tận vô thượng của các chấp thủ.
Atha kho taṇhā ca arati ca ragā ca māradhītaro ekamantaṁ apakkamma evaṁ samacintesuṁ: “uccāvacā kho purisānaṁ adhippāyā. Yannūna mayaṁ ekasataṁ ekasataṁ kumārivaṇṇasataṁ abhinimmineyyāmā”ti.
Atha kho taṇhā ca arati ca ragā ca māradhītaro ekasataṁ ekasataṁ kumārivaṇṇasataṁ abhinimminitvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “pāde te, samaṇa, paricāremā”ti. Tampi bhagavā na manasākāsi, yathā taṁ anuttare upadhisaṅkhaye vimutto.
Then Craving, Malignancy, and Lust withdrew to one side to think up a plan. “Men have a diverse spectrum of tastes. Why don’t we each manifest in the form of a hundred young maidens?”
So that’s what they did. Then they went up to the Buddha and said to him, “We serve at your feet, ascetic.” But the Buddha still ignored them, since he was freed with the supreme ending of attachments.
Bấy giờ, các ái nữ của Māra là Taṇhā, Arati, và Ragā lui ra một bên và bàn với nhau: “Sở thích của đàn ông thật là đa dạng. Hay là chúng ta mỗi người hãy hóa hiện thành một trăm thiếu nữ.” Rồi các ái nữ của Māra là Taṇhā, Arati, và Ragā, mỗi người hóa hiện thành một trăm thiếu nữ, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ thưa với Thế Tôn: “Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân ngài.” Nhưng Thế Tôn cũng không để tâm đến, vì Ngài đã giải thoát trong sự đoạn tận vô thượng của các chấp thủ.
Atha kho taṇhā ca arati ca ragā ca māradhītaro ekamantaṁ apakkamma evaṁ samacintesuṁ: “uccāvacā kho purisānaṁ adhippāyā. Yannūna mayaṁ ekasataṁ ekasataṁ avijātavaṇṇasataṁ abhinimmineyyāmā”ti. Atha kho taṇhā ca arati ca ragā ca māradhītaro ekasataṁ ekasataṁ avijātavaṇṇasataṁ abhinimminitvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “pāde te, samaṇa, paricāremā”ti. Tampi bhagavā na manasākāsi, yathā taṁ anuttare upadhisaṅkhaye vimutto.
Then Craving, Malignancy, and Lust withdrew to one side to think up a plan. “Men have a diverse spectrum of tastes. Why don’t we each manifest in the form of a hundred women who have never given birth?” So that’s what they did. Then they went up to the Buddha and said to him, “We serve at your feet, ascetic.” But the Buddha still ignored them, since he was freed with the supreme ending of attachments.
Bấy giờ, các ma nữ Taṇhā, Arati, và Ragā lui ra một bên và cùng nhau bàn tính như sau: “Thật vậy, sở thích của những người đàn ông thì thật đa dạng. Hay là mỗi chúng ta hãy hóa hiện ra một trăm cô gái đồng trinh.” Rồi các ma nữ Taṇhā, Arati, và Ragā, mỗi người hóa hiện ra một trăm cô gái đồng trinh, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ bạch với Thế Tôn rằng: “Thưa Sa-môn, chúng con xin được phục vụ dưới chân ngài.” Nhưng Thế Tôn đã không để tâm đến điều ấy, vì Ngài đã giải thoát trong sự đoạn tận các chấp thủ vô thượng.
Atha kho taṇhā ca …pe… yannūna mayaṁ ekasataṁ ekasataṁ sakiṁ vijātavaṇṇasataṁ abhinimmineyyāmāti. Atha kho taṇhā ca …pe… sakiṁ vijātavaṇṇasataṁ abhinimminitvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “pāde te, samaṇa, paricāremā”ti. Tampi bhagavā na manasākāsi, yathā taṁ anuttare upadhisaṅkhaye vimutto.
Then Craving, Malignancy, and Lust … each manifested in the form of a hundred women who have given birth once …
Bấy giờ, Taṇhā... (như trên)... Hay là mỗi chúng ta hãy hóa hiện ra một trăm người phụ nữ đã sinh con một lần. Rồi Taṇhā... (như trên)... mỗi người hóa hiện ra một trăm người phụ nữ đã sinh con một lần, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ bạch với Thế Tôn rằng: “Thưa Sa-môn, chúng con xin được phục vụ dưới chân ngài.” Nhưng Thế Tôn đã không để tâm đến điều ấy, vì Ngài đã giải thoát trong sự đoạn tận các chấp thủ vô thượng.
Bấy giờ, Taṇhā... (như trên)... Hay là mỗi chúng ta hãy hóa hiện ra một trăm người phụ nữ đã sinh con hai lần. Rồi Taṇhā... (như trên)... mỗi người hóa hiện ra một trăm người phụ nữ đã sinh con hai lần, đi đến chỗ Thế Tôn... (như trên)... vì Ngài đã giải thoát trong sự đoạn tận các chấp thủ vô thượng. Bấy giờ, Taṇhā... (như trên)... hóa hiện ra một trăm người phụ nữ trung niên. Rồi Taṇhā... (như trên)... mỗi người hóa hiện ra một trăm người phụ nữ trung niên... (như trên)... giải thoát trong sự đoạn tận các chấp thủ vô thượng.
Atha kho taṇhā ca arati ca ragā ca māradhītaro ekamantaṁ apakkamma etadavocuṁ: “saccaṁ kira no pitā avoca:
Then Craving, Malignancy, and Lust withdrew to one side and said, “What our father said is true:
Bấy giờ, Taṇhā... (như trên)... hóa hiện ra một trăm người phụ nữ lớn tuổi. Rồi Taṇhā... (như trên)... mỗi người hóa hiện ra một trăm người phụ nữ lớn tuổi, đi đến chỗ Thế Tôn... (như trên)... giải thoát trong sự đoạn tận các chấp thủ vô thượng. Bấy giờ, các ma nữ Taṇhā, Arati, và Ragā lui ra một bên và nói rằng: “Thật vậy, cha của chúng ta đã nói lời chân thật –”
‘Arahaṁ sugato loke, na rāgena suvānayo; Māradheyyaṁ atikkanto, tasmā socāmahaṁ bhusan’ti.
‘In this world he is the perfected one, the Holy One. He’s not easily seduced by lust. He has slipped free of Māra’s dominion; that’s why I’m so upset.’
“Bậc A-la-hán, Thiện Thệ ở trên đời, không dễ gì bị ái dục dẫn dắt; Ngài đã vượt qua lãnh địa của Ma vương, vì thế ta vô cùng sầu muộn.”
Yañhi mayaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā avītarāgaṁ iminā upakkamena upakkameyyāma hadayaṁ vāssa phaleyya, uṇhaṁ lohitaṁ vā mukhato uggaccheyya, ummādaṁ vā pāpuṇeyya cittakkhepaṁ vā. Seyyathā vā pana naḷo harito luto ussussati visussati milāyati; evameva ussusseyya visusseyya milāyeyyā”ti.
For if we had come on to any ascetic or brahmin like this who was not free of lust, his heart would explode, or he’d spew hot blood from his mouth, or he’d go mad or lose his mind. He’d dry up, wither away, and shrivel up like a green reed that was mowed down.”
“Thật vậy, nếu chúng ta dùng phương cách này để tấn công bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn nào chưa ly tham, thì tim của vị ấy sẽ vỡ tung, hoặc máu nóng sẽ phọt ra từ miệng, hoặc vị ấy sẽ trở nên điên loạn, tâm trí rối bời. Giống như cây sậy xanh bị cắt sẽ khô héo, tàn úa, phai màu; cũng vậy, vị ấy sẽ khô héo, tàn úa, và phai màu.”
Atha kho taṇhā ca arati ca ragā ca māradhītaro yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho taṇhā māradhītā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Then Māra’s daughters Craving, Malignancy, and Lust went up to the Buddha, and stood to one side. Māra’s daughter Craving addressed the Buddha in verse:
Bấy giờ, các ma nữ Taṇhā, Arati, và Ragā đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ đứng sang một bên. Đứng một bên, ma nữ Taṇhā nói với Thế Tôn bằng những vần kệ:
“Sokāvatiṇṇo nu vanamhi jhāyasi, Vittaṁ nu jīno uda patthayāno; Āguṁ nu gāmasmimakāsi kiñci, Kasmā janena na karosi sakkhiṁ; Sakkhī na sampajjati kenaci te”ti.
“Are you swamped by sorrow <j>that you meditate in the forest? Have you lost a fortune, or do you long for one? Or perhaps you’ve committed <j>some crime in the village? Why don’t you get too close to people? And why does no one get close to you?”
“Phải chăng ngài thiền định trong rừng vì chìm trong sầu muộn? Phải chăng ngài đã mất tài sản, hay đang mong cầu nó? Phải chăng ngài đã phạm lỗi gì trong làng? Tại sao ngài không kết bạn với mọi người? Phải chăng ngài không có được một người bạn nào?”
“Atthassa pattiṁ hadayassa santiṁ, Jetvāna senaṁ piyasātarūpaṁ; Ekohaṁ jhāyaṁ sukhamanubodhiṁ, Tasmā janena na karomi sakkhiṁ; Sakkhī na sampajjati kenaci me”ti.
Atha kho arati māradhītā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“I’ve reached the goal, peace of heart. Having conquered the army <j>of the likable and pleasant, alone, practicing absorption, I awakened to bliss. That’s why I don’t get too close to people, and no one gets too close to me.”
Then Māra’s daughter Malignancy addressed the Buddha in verse:
“Ta đã đạt được mục đích, sự an tịnh của tâm, sau khi chiến thắng đạo quân của những hình sắc đáng yêu đáng mến. Một mình thiền định, ta đã chứng ngộ được hạnh phúc. Vì thế, ta không kết bạn với mọi người; ta không có tình bạn với bất kỳ ai.”
“Kathaṁvihārībahulodha bhikkhu, Pañcoghatiṇṇo atarīdha chaṭṭhaṁ; Kathaṁ jhāyiṁ bahulaṁ kāmasaññā, Paribāhirā honti aladdha yo tan”ti.
“How does a mendicant who has crossed five floods usually meditate here while crossing the sixth? How do they usually practice absorption <j>so that sensual perceptions are blocked out and don’t get hold of them?”
“Vị Tỳ-kheo ở đây sống như thế nào, mà vượt qua được năm bộc lưu và cả dòng thứ sáu? Vị ấy thiền định như thế nào, mà các tưởng về dục không thể xâm nhập, không tìm thấy lối vào?”
“Passaddhakāyo suvimuttacitto, Asaṅkharāno satimā anoko; Aññāya dhammaṁ avitakkajhāyī, Na kuppati na sarati na thino.
“With tranquil body and mind well freed, without making choices, mindful, homeless; understanding the teaching, <j>they practice absorption without placing the mind; they’re not shaking or drifting or rigid.
“Với thân an tịnh, tâm khéo giải thoát, không tạo tác, chánh niệm, không gia đình; đã liễu tri Chánh pháp, thiền định không tầm tứ, vị ấy không sân hận, không luyến ái, không hôn trầm.”
Evaṁvihārībahulodha bhikkhu, Pañcoghatiṇṇo atarīdha chaṭṭhaṁ; Evaṁ jhāyiṁ bahulaṁ kāmasaññā, Paribāhirā honti aladdha yo tan”ti.
That’s how a mendicant who has crossed five floods usually meditates here while crossing the sixth. That’s how they usually practice absorption <j>so that sensual perceptions are blocked out and don’t get hold of them.”
“Vị Tỳ-kheo ở đây sống như vậy, vượt qua được năm bộc lưu và cả dòng thứ sáu. Vị ấy thiền định như vậy, nên các tưởng về dục không thể xâm nhập, không tìm thấy lối vào.”
Atha kho ragā māradhītā bhagavato santike gāthāya ajjhabhāsi:
Then Māra’s daughter Lust addressed the Buddha in verse:
Bấy giờ, ma nữ Ragā nói với Thế Tôn bằng những vần kệ:
“Acchejja taṇhaṁ gaṇasaṅghacārī, Addhā carissanti bahū ca saddhā; Bahuṁ vatāyaṁ janataṁ anoko, Acchejja nessati maccurājassa pāran”ti.
“He lives with his community after cutting off craving, and many of the faithful will cross over for sure. Alas, this homeless one will snatch many men away, and lead them past the King of Death!”
“Ngài đã đoạn trừ ái dục, sống giữa hội chúng. Chắc chắn nhiều người có tín tâm cũng sẽ thực hành theo. Vị không gia đình này sẽ dẫn dắt nhiều chúng sanh, đưa họ vượt qua khỏi tầm tay của tử thần.”
“Nayanti ve mahāvīrā, saddhammena tathāgatā; Dhammena nayamānānaṁ, kā usūyā vijānatan”ti.
“The great heroes they lead by means of the true teaching. When the Realized Ones are leading by the teaching, how could anyone who knows be jealous?”
“Quả vậy, các bậc Đại hùng, các đấng Như Lai, dẫn dắt chúng sanh bằng Chánh pháp. Khi các ngài dẫn dắt bằng Chánh pháp, thì người có trí nào lại có thể ganh tỵ?”
Atha kho taṇhā ca arati ca ragā ca māradhītaro yena māro pāpimā tenupasaṅkamiṁsu. Addasā kho māro pāpimā taṇhañca aratiñca ragañca māradhītaro dūratova āgacchantiyo. Disvāna gāthāhi ajjhabhāsi:
Then Māra’s daughters Craving, Malignancy, and Lust went up to Māra the Wicked. Māra the Wicked saw them coming off in the distance, and addressed them in verse:
Bấy giờ, các ma nữ Taṇhā, Arati, và Ragā đi đến chỗ Ác ma Māra. Ác ma Māra thấy các ma nữ Taṇhā, Arati, và Ragā đang đi đến từ xa. Thấy vậy, y nói với họ bằng những vần kệ:
“Bālā kumudanāḷehi, pabbataṁ abhimatthatha; Giriṁ nakhena khanatha, ayo dantehi khādatha.
“Fools! You drill into a mountain with lotus stalks! You dig up a hill with your nails! You chew iron with your teeth!
“Hỡi những kẻ ngu si, các ngươi dùng cọng sen để đập núi, dùng móng tay để đào núi, dùng răng để nhai sắt.”
Selaṁva sirasūhacca, pātāle gādhamesatha; Khāṇuṁva urasāsajja, nibbijjāpetha gotamā”ti.
You seek a footing in the abyss, as it were, while lifting a rock with your head! After attacking a stump with your breast, as it were, you leave Gotama disappointed.”
“Như kẻ đội đá trên đầu mà tìm chỗ đứng trong vực thẳm; như kẻ lấy ngực đâm vào cọc nhọn, hãy từ bỏ Gô-ta-ma và đi đi.”
“Daddallamānā āgañchuṁ, taṇhā ca aratī ragā; Tā tattha panudī satthā, tūlaṁ bhaṭṭhaṁva māluto”ti.
Tatiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
They came dazzling—Craving, Malignancy, and Lust. But the Teacher brushed them off right there, like the gale, a fallen tuft.
“Taṇhā, Arati, và Ragā đã đến, rực rỡ chói lòa; nhưng bậc Đạo Sư đã xua đuổi họ khỏi nơi đó, như cơn gió thổi bay một cụm bông gòn.”
Sambahulā samiddhi ca, Godhikaṁ sattavassāni; Dhītaraṁ desitaṁ buddha, Seṭṭhena imaṁ mārapañcakanti.
Nhiều vị, Samiddhi, Godhika, Bảy năm; và Các cô con gái—năm kinh về Māra này đã được bậc Tối Thắng Giác Ngộ thuyết giảng.
Mārasaṁyuttaṁ samattaṁ.
The Linked Discourses with Māra are complete.
Tương Ưng Māra (kết thúc).