- Saṁyutta Nikāya 5.1
- 1. Bhikkhunīvagga
Āḷavikāsutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Āḷavikāsutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Tỷ-kheo-ni Alavikà, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực. Khất thực ở Sāvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni đi đến rừng Andha để tìm sự yên tĩnh viễn ly.
Vi-n 3 Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Alavikà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ yên tĩnh viễn ly, nên đi đến Tỷ-kheo-ni Alavikà và nói lên bài kệ:
Ðời không có xuất ly,
Sống viễn ly làm gì?
Hãy trọn hưởng dục lạc,
Chớ hối hận về sau.
Vi-n 4 Tỷ-kheo-ni Alavikà suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?”
Vi-n 5 Tỷ-kheo-ni Alavikà suy nghĩ: “Chính Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn làm ta từ bỏ yên tĩnh viễn ly nên đã nói lên bài kệ đó”.
Vi-n 6 Tỷ-kheo-ni Alavikà biết được: “Ðấy là Ác ma”, liền nói lên bài kệ:
Ở đời có xuất ly,
Nhờ trí tuệ, ta chứng.
Này Bà con phóng dật,
Biết sao được pháp ấy?
Ái dục như kiếm thương,
Ðài chém đầu các uẩn.
Ðiều Ông gọi dục lạc,
Ta gọi là bất lạc.
Vi-n 7 Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Alavikà đã biết ta”, nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Āḷavikā
Atha kho āḷavikā bhikkhunī pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi. Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena andhavanaṁ tenupasaṅkami vivekatthinī.
Atha kho māro pāpimā āḷavikāya bhikkhuniyā bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo vivekamhā cāvetukāmo yena āḷavikā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āḷavikaṁ bhikkhuniṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Then the nun Āḷavikā robed up in the morning and, taking her bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. She wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on her return from almsround, she went to the Dark Forest seeking seclusion.
Then Māra the Wicked, wanting to make the nun Āḷavikā feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make her fall away from seclusion, went up to her and addressed her in verse:
162. Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, Tỳ-khưu-ni Āḷavikā, vào buổi sáng, đắp y, mang y bát, đi vào Sāvatthī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, dùng bữa xong, trên đường khất thực trở về, vì muốn sống độc cư, vị ấy đi đến rừng Andhavana. Bấy giờ, Ác ma Māra, với ý muốn làm cho Tỳ-khưu-ni Āḷavikā sợ hãi, kinh hoàng, lông tóc dựng ngược, và với ý muốn làm cho vị ấy rời khỏi nơi độc cư, liền đi đến chỗ Tỳ-khưu-ni Āḷavikā; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỳ-khưu-ni Āḷavikā:
“Natthi nissaraṇaṁ loke, kiṁ vivekena kāhasi; Bhuñjassu kāmaratiyo, māhu pacchānutāpinī”ti.
“There’s no escape in the world, so what will seclusion do for you? Enjoy erotic delights; don’t regret it later.”
“Trong đời không có lối thoát, độc cư sẽ làm được gì? Hãy hưởng thụ các dục lạc, chớ để hối hận về sau.”
Atha kho āḷavikāya bhikkhuniyā etadahosi: “ko nu khvāyaṁ manusso vā amanusso vā gāthaṁ bhāsatī”ti?
Atha kho āḷavikāya bhikkhuniyā etadahosi: “māro kho ayaṁ pāpimā mama bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo vivekamhā cāvetukāmo gāthaṁ bhāsatī”ti.
Atha kho āḷavikā bhikkhunī “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāhi paccabhāsi:
Then the nun Āḷavikā thought, “Who’s speaking this verse, a human or a non-human?”
Then she thought, “This is Māra the Wicked, wanting to make me feel fear, terror, and goosebumps, wanting to make me fall away from seclusion!”
Then Āḷavikā, knowing that this was Māra the Wicked, replied to him in verse:
Bấy giờ, Tỳ-khưu-ni Āḷavikā suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này, là người hay phi nhân?” Rồi Tỳ-khưu-ni Āḷavikā lại suy nghĩ: “Đây chính là Ác ma Māra, với ý muốn làm cho ta sợ hãi, kinh hoàng, lông tóc dựng ngược, và với ý muốn làm cho ta rời khỏi nơi độc cư, nên đã nói lên bài kệ này.” Bấy giờ, Tỳ-khưu-ni Āḷavikā, sau khi biết rõ: “Đây là Ác ma Māra,” liền dùng những bài kệ đáp lại Ác ma Māra:
“Atthi nissaraṇaṁ loke, paññāya me suphussitaṁ; Pamattabandhu pāpima, na tvaṁ jānāsi taṁ padaṁ.
“There is an escape in the world, and I’ve personally experienced it with wisdom. O Wicked One, kinsman of the negligent, you don’t know that state.
“Này Ác ma, bạn của kẻ phóng dật, trong đời có sự thoát ly, ta đã chứng ngộ bằng trí tuệ. Ngươi không biết được cảnh giới ấy.
Sattisūlūpamā kāmā, khandhāsaṁ adhikuṭṭanā; Yaṁ tvaṁ kāmaratiṁ brūsi, arati mayha sā ahū”ti.
Sensual pleasures are like swords and spears; the aggregates are their chopping block. What you call erotic delight is now no delight for me.”
“Các dục vọng như gươm đao, các uẩn là thớt băm của chúng. Cái mà ngươi gọi là dục lạc, đối với ta đã trở thành sự bất mãn.”
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ āḷavikā bhikkhunī”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The nun Āḷavikā knows me!” miserable and sad, vanished right there.
Bấy giờ, Ác ma Māra, (nghĩ rằng): “Tỳ-khưu-ni Āḷavikā đã biết ta,” buồn rầu, thất vọng, liền biến mất tại chỗ.