- Saṁyutta Nikāya 12.67
- 7. Mahāvagga
Bản dịch
SN 12.67 — Naḷakalāpīsutta
Naḷakalāpīsutta
Vi-n 1 Một thời, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita trú ở Bārāṇasī (Ba-la-nại), tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ) ở Migadāya (rừng nai).
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Mahākoṭṭhita, vào buổi chiều từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, bèn ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahākoṭṭhita nói với Tôn giả Sāriputta:
—Này Hiền giả Sāriputta, già chết do tự mình tạo ra, già chết do người khác tạo ra, già chết do tự mình và do người khác tạo ra, hay già chết không do tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, do tự nhiên sanh?
Vi-n 4 —Này Hiền giả Koṭṭhita, già chết không do tự mình tạo ra, già chết không do người khác tạo ra, già chết không do tự mình tạo ra và người khác tạo ra, già chết cũng không phải không do tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, không do tự nhiên sanh. Già chết do duyên sanh.
Vi-n 5 —Này Hiền giả Sāriputta, có phải sanh do tự mình làm ra, sanh do người khác làm ra, sanh do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay sanh không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?
Vi-n 6 —Này Hiền giả Koṭṭhita, sanh không do tự mình làm ra, sanh không do người khác làm ra, sanh không do tự mình làm ra và người khác làm ra, hay sanh cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, cũng không do tự nhiên sanh. Sanh do duyên hữu.
Vi-n 7-18 —Này Hiền giả Sāriputta, hữu có phải do tự mình làm ra… thủ có phải do tự mình làm ra… ái có phải do tự mình làm ra… thọ có phải do tự mình làm ra… xúc có phải do tự mình làm ra… sáu xứ có phải do tự mình làm ra…
Vi-n 19 … Danh sắc có phải do tự mình làm ra, danh sắc có phải do người khác làm ra, danh sắc có phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay danh sắc có phải không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?
Vi-n 20 —Này Hiền giả Koṭṭhita, danh sắc không phải do tự mình làm ra, danh sắc không phải do người khác làm ra, danh sắc không phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay danh sắc cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Danh sắc do duyên thức.
Vi-n 21 —Này Hiền giả Sāriputta, có phải thức do tự mình làm ra, thức do người khác làm ra, thức do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay có phải thức không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?
Vi-n 22 —Này Hiền giả Koṭṭhita, thức không do tự mình làm ra, thức không do người khác làm ra, thức không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, hay thức cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Thức do duyên danh sắc.
Vi-n 23 —Nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sāriputta như sau: “Này Hiền giả Koṭṭhita, danh sắc không do tự mình làm ra, danh sắc không do người khác làm ra, danh sắc không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, danh sắc cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Danh sắc do duyên thức”.
Vi-n 24 Và nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sāriputta như sau: “Này Hiền giả Koṭṭhita, thức không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự mình làm ra và người khác làm ra, cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Thức do duyên danh sắc”.
Vi-n 25 Này Hiền giả Sāriputta, cần phải hiểu như thế nào ý nghĩa lời nói này?
—Vậy này Hiền giả, tôi sẽ nêu một ví dụ. Nhờ có ví dụ, người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói.
Vi-n 26 Ví như hai bó lau dựa vào nhau mà đứng. Cũng vậy, này Hiền giả, do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Này Hiền giả, nếu một bó lau được kéo qua một bên, bó lau kia liền rơi xuống. Nếu bó lau kia được kéo qua một bên, bó lau này được rơi xuống. Cũng vậy, này Hiền giả, do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt… (như trên)… như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Vi-n 27 —Thật vi diệu thay, Hiền giả Sāriputta! Thật hy hữu thay, Hiền giả Sāriputta! Lời nói khéo nói này của Hiền giả Sāriputta và lời nói với ba mươi sáu sự này của Hiền giả Sāriputta, chúng tôi xin tùy hỷ.
Vi-n 28 —Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thuyết pháp để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt già chết, thời đủ để được gọi là vị Tỷ-kheo thuyết pháp. Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, già chết, thời đủ để được gọi là Tỷ-kheo tùy pháp hành. Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, vô minh được giải thoát, không có chấp thủ, thời đủ để được gọi vị Tỷ-kheo đã đạt được hiện tại Niết-bàn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.67
- 7. The Great Chapter
Sheaves of Reeds
7. Kinh Bó Lau (Naḷakalāpī)
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahākoṭṭhiko bārāṇasiyaṁ viharanti isipatane migadāye.
Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṅkataṁ jarāmaraṇaṁ, paraṅkataṁ jarāmaraṇaṁ, sayaṅkatañca paraṅkatañca jarāmaraṇaṁ, udāhu asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ jarāmaraṇan”ti?
“Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ jarāmaraṇaṁ, na paraṅkataṁ jarāmaraṇaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca jarāmaraṇaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ jarāmaraṇaṁ. Api ca jātipaccayā jarāmaraṇan”ti.
At one time Venerable Sāriputta and Venerable Mahākoṭṭhita were staying near Varanasi in the deer park at Isipatana.
Then in the late afternoon, Venerable Mahākoṭṭhita came out of retreat, went to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Sāriputta:
“Well, Reverend Sāriputta, are old age and death made by oneself? Or by another? Or by both oneself and another? Or do they arise anomalously, not made by oneself or another?”
“No, Reverend Koṭṭhita, old age and death are not made by oneself, nor by another, nor by both oneself and another, nor do they arise anomalously, not made by oneself or another. Rather, rebirth is a requirement for old age and death.”
67. Một thời, trưởng lão Sāriputta và trưởng lão Mahākoṭṭhika trú ở Bārāṇasī, tại Isipatana, Migadāya. Rồi trưởng lão Mahākoṭṭhika, vào buổi chiều, từ nơi độc cư đứng dậy, đi đến chỗ trưởng lão Sāriputta; sau khi đến, đã cùng trưởng lão Sāriputta nói chuyện thân hữu. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu, đáng ghi nhớ, bèn ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, trưởng lão Mahākoṭṭhika nói với trưởng lão Sāriputta: – Thưa hiền giả Sāriputta, có phải già chết là do tự mình làm? Già chết là do người khác làm? Già chết là do cả tự mình làm và người khác làm? Hay già chết không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sanh? – Này hiền giả Koṭṭhika, già chết không phải do tự mình làm, già chết không phải do người khác làm, già chết không phải do cả tự mình làm và người khác làm, già chết cũng không phải không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sanh. Nhưng do duyên sanh nên có già chết.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṅkatā jāti, paraṅkatā jāti, sayaṅkatā ca paraṅkatā ca jāti, udāhu asayaṅkārā aparaṅkārā adhiccasamuppannā jātī”ti?
“Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṅkatā jāti, na paraṅkatā jāti, na sayaṅkatā ca paraṅkatā ca jāti, nāpi asayaṅkārā aparaṅkārā adhiccasamuppannā jāti. Api ca bhavapaccayā jātī”ti.
“Well, Reverend Sāriputta, is rebirth made by oneself? Or by another? Or by both oneself and another? Or does it arise anomalously, not made by oneself or another?”
“No, Reverend Koṭṭhita, rebirth is not made by oneself, nor by another, nor by both oneself and another, nor does it arise anomalously, not made by oneself or another. Rather, continued existence is a requirement for rebirth.”
– Thưa hiền giả Sāriputta, có phải sanh là do tự mình làm? Sanh là do người khác làm? Sanh là do cả tự mình làm và người khác làm? Hay sanh không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sanh? – Này hiền giả Koṭṭhika, sanh không phải do tự mình làm, sanh không phải do người khác làm, sanh không phải do cả tự mình làm và người khác làm, sanh cũng không phải không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sanh. Nhưng do duyên hữu nên có sanh.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṅkato bhavo …pe… sayaṅkataṁ upādānaṁ … sayaṅkatā taṇhā … sayaṅkatā vedanā … sayaṅkato phasso … sayaṅkataṁ saḷāyatanaṁ … sayaṅkataṁ nāmarūpaṁ, paraṅkataṁ nāmarūpaṁ, sayaṅkatañca paraṅkatañca nāmarūpaṁ, udāhu asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ nāmarūpan”ti?
“Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ nāmarūpaṁ, na paraṅkataṁ nāmarūpaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca nāmarūpaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ, adhiccasamuppannaṁ nāmarūpaṁ. Api ca viññāṇapaccayā nāmarūpan”ti.
“Well, Reverend Sāriputta, is continued existence made by oneself? …” … “Is grasping made by oneself? …” … “Is craving made by oneself? …” … “Is feeling made by oneself? …” … “Is contact made by oneself? …” … “Are the six sense fields made by oneself? …” … “Well, Reverend Sāriputta, are name and form made by oneself? Or by another? Or by both oneself and another? Or do they arise anomalously, not made by oneself or another?”
“No, Reverend Koṭṭhita, name and form are not made by oneself, nor by another, nor by both oneself and another, nor do they arise anomalously, not made by oneself or another. Rather, consciousness is a requirement for name and form.”
– Thưa hiền giả Sāriputta, có phải hữu là do tự mình làm?... có phải thủ là do tự mình làm?... có phải ái là do tự mình làm?... có phải thọ là do tự mình làm?... có phải xúc là do tự mình làm?... có phải sáu xứ là do tự mình làm?... có phải danh sắc là do tự mình làm? Danh sắc là do người khác làm? Danh sắc là do cả tự mình làm và người khác làm? Hay danh sắc không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sanh? – Này hiền giả Koṭṭhika, danh sắc không phải do tự mình làm, danh sắc không phải do người khác làm, danh sắc không phải do cả tự mình làm và người khác làm, danh sắc cũng không phải không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sanh. Nhưng do duyên thức nên có danh sắc.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṅkataṁ viññāṇaṁ, paraṅkataṁ viññāṇaṁ, sayaṅkatañca paraṅkatañca viññāṇaṁ, udāhu asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ viññāṇan”ti?
“Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ viññāṇaṁ, na paraṅkataṁ viññāṇaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca viññāṇaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ viññāṇaṁ. Api ca nāmarūpapaccayā viññāṇan”ti.
“Well, Reverend Sāriputta, is consciousness made by oneself? Or by another? Or by both oneself and another? Or does it arise anomalously, not made by oneself or another?”
“No, Reverend Koṭṭhita, consciousness is not made by oneself, nor by another, nor by both oneself and another, nor does it arise anomalously, not made by oneself or another. Rather, name and form are requirements for consciousness.”
– Thưa hiền giả Sāriputta, có phải thức là do tự mình làm? Thức là do người khác làm? Thức là do cả tự mình làm và người khác làm? Hay thức không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sanh? – Này hiền giả Koṭṭhika, thức không phải do tự mình làm, thức không phải do người khác làm, thức không phải do cả tự mình làm và người khác làm, thức cũng không phải không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sanh. Nhưng do duyên danh sắc nên có thức.
“Idāneva kho mayaṁ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ evaṁ ājānāma: ‘na khvāvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ nāmarūpaṁ, na paraṅkataṁ nāmarūpaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca nāmarūpaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ nāmarūpaṁ. Api ca viññāṇapaccayā nāmarūpan’ti.
“Just now I understood you to say: ‘No, Reverend Koṭṭhita, name and form are not made by oneself, nor by another, nor by both oneself and another, nor do they arise anomalously, not made by oneself or another. Rather, consciousness is a requirement for name and form.’
– Ngay bây giờ, chúng tôi hiểu lời nói của trưởng lão Sāriputta như sau: ‘Này hiền giả Koṭṭhika, danh sắc không phải do tự mình làm, danh sắc không phải do người khác làm, danh sắc không phải do cả tự mình làm và người khác làm, danh sắc cũng không phải không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sanh. Nhưng do duyên thức nên có danh sắc.’
Idāneva ca pana mayaṁ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ evaṁ ājānāma: ‘na khvāvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ viññāṇaṁ, na paraṅkataṁ viññāṇaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca viññāṇaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ viññāṇaṁ. Api ca nāmarūpapaccayā viññāṇan’ti.
But I also understood you to say: ‘No, Reverend Koṭṭhita, consciousness is not made by oneself, nor by another, nor by both oneself and another, nor does it arise anomalously, not made by oneself or another. Rather, name and form are requirements for consciousness.’
– Và ngay bây giờ, chúng tôi lại hiểu lời nói của trưởng lão Sāriputta như sau: ‘Này hiền giả Koṭṭhika, thức không phải do tự mình làm, thức không phải do người khác làm, thức không phải do cả tự mình làm và người khác làm, thức cũng không phải không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sanh. Nhưng do duyên danh sắc nên có thức.’
Yathā kathaṁ panāvuso sāriputta, imassa bhāsitassa attho daṭṭhabbo”ti?
“Tenahāvuso, upamaṁ te karissāmi. Upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ jānanti. Seyyathāpi, āvuso, dve naḷakalāpiyo aññamaññaṁ nissāya tiṭṭheyyuṁ.
Evameva kho, āvuso, nāmarūpapaccayā viññāṇaṁ; viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ; nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ; saḷāyatanapaccayā phasso …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Tāsañce, āvuso, naḷakalāpīnaṁ ekaṁ ākaḍḍheyya, ekā papateyya; aparañce ākaḍḍheyya, aparā papateyya.
Evameva kho, āvuso, nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho; viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho; nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho; saḷāyatananirodhā phassanirodho …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
“Acchariyaṁ, āvuso sāriputta; abbhutaṁ, āvuso sāriputta. Yāvasubhāsitañcidaṁ āyasmatā sāriputtena. Idañca pana mayaṁ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ imehi chattiṁsāya vatthūhi anumodāma:
‘Jarāmaraṇassa ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya dhammaṁ deseti, dhammakathiko bhikkhūti alaṁvacanāya. Jarāmaraṇassa ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti, dhammānudhammappaṭipanno bhikkhūti alaṁvacanāya. Jarāmaraṇassa ce, āvuso, bhikkhu nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti, diṭṭhadhammanibbānappatto bhikkhūti alaṁvacanāya. Jātiyā ce … bhavassa ce … upādānassa ce … taṇhāya ce … vedanāya ce … phassassa ce … saḷāyatanassa ce … nāmarūpassa ce … viññāṇassa ce … saṅkhārānañce … avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya dhammaṁ deseti, dhammakathiko bhikkhūti alaṁvacanāya. Avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti, dhammānudhammappaṭipanno bhikkhūti alaṁvacanāya. Avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti, diṭṭhadhammanibbānappatto bhikkhūti alaṁvacanāyā’”ti.
Sattamaṁ.
How then should we see the meaning of this statement?”
“Well then, reverend, I shall give you a simile. For by means of a simile some sensible people understand the meaning of what is said. Suppose there were two sheaves of reeds leaning up against each other.
In the same way, name and form are requirements for consciousness. Consciousness is a requirement for name and form. Name and form are requirements for the six sense fields. The six sense fields are requirements for contact. … That is how this entire mass of suffering originates. If the first of those sheaves of reeds were to be pulled away, the other would collapse. And if the other were to be pulled away, the first would collapse.
In the same way, when name and form cease, consciousness ceases. When consciousness ceases, name and form cease. When name and form cease, the six sense fields cease. When the six sense fields cease, contact ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.”
“It’s incredible, Reverend Sāriputta, it’s amazing! How well spoken this was by Venerable Sāriputta! And we can express our agreement with Venerable Sāriputta’s statement on these thirty-six grounds.
If a mendicant teaches Dhamma for disillusionment, dispassion, and cessation regarding old age and death, they’re qualified to be called ‘a mendicant who speaks on Dhamma’. If they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding old age and death, they’re qualified to be called ‘a mendicant who practices in line with the teaching’. If they’re freed by not grasping by disillusionment, dispassion, and cessation regarding old age and death, they’re qualified to be called ‘a mendicant who has attained extinguishment in this very life’. If a mendicant teaches Dhamma for disillusionment regarding rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … choices … If a mendicant teaches Dhamma for disillusionment, dispassion, and cessation regarding ignorance, they’re qualified to be called ‘a mendicant who speaks on Dhamma’. If they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding ignorance, they’re qualified to be called ‘a mendicant who practices in line with the teaching’. If they’re freed by not grasping by disillusionment, dispassion, and cessation regarding ignorance, they’re qualified to be called ‘a mendicant who has attained extinguishment in this very life’.”
“Thưa hiền giả Sāriputta, vậy ý nghĩa của lời dạy này cần được hiểu như thế nào?” “Này hiền giả, vậy thì tôi sẽ đưa ra một ví dụ cho bạn. Ở đây, có những người trí hiểu được ý nghĩa của lời nói qua ví dụ. Này hiền giả, ví như hai bó sậy dựa vào nhau mà đứng. Cũng vậy, này hiền giả, do duyên danh-sắc, thức sanh khởi; do duyên thức, danh-sắc sanh khởi; do duyên danh-sắc, sáu xứ sanh khởi; do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi… (v.v.)… như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này. Này hiền giả, nếu rút một trong hai bó sậy ấy ra, bó kia sẽ ngã xuống; nếu rút bó còn lại ra, bó kia sẽ ngã xuống. Cũng vậy, này hiền giả, do danh-sắc diệt, thức diệt; do thức diệt, danh-sắc diệt; do danh-sắc diệt, sáu xứ diệt; do sáu xứ diệt, xúc diệt… (v.v.)… như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.” “Thật vi diệu, thưa hiền giả Sāriputta; thật hy hữu, thưa hiền giả Sāriputta! Lời dạy này đã được Tôn giả Sāriputta khéo nói như vậy. Và chúng tôi xin tùy hỷ lời dạy này của Tôn giả Sāriputta với ba mươi sáu trường hợp này: ‘Này hiền giả, nếu vị tỳ khưu thuyết pháp vì sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với già-chết, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘tỳ khưu thuyết pháp’. Này hiền giả, nếu vị tỳ khưu thực hành vì sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với già-chết, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘tỳ khưu thực hành pháp và tùy pháp’. Này hiền giả, nếu vị tỳ khưu do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, được giải thoát không còn chấp thủ đối với già-chết, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘tỳ khưu đã chứng đạt Niết-bàn trong hiện tại’. Nếu đối với sanh… nếu đối với hữu… nếu đối với thủ… nếu đối với ái… nếu đối với thọ… nếu đối với xúc… nếu đối với sáu xứ… nếu đối với danh-sắc… nếu đối với thức… nếu đối với các hành… Này hiền giả, nếu vị tỳ khưu thuyết pháp vì sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘tỳ khưu thuyết pháp’. Này hiền giả, nếu vị tỳ khưu thực hành vì sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘tỳ khưu thực hành pháp và tùy pháp’. Này hiền giả, nếu vị tỳ khưu do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, được giải thoát không còn chấp thủ đối với vô minh, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘tỳ khưu đã chứng đạt Niết-bàn trong hiện tại’.” Kinh thứ bảy.