- Saṁyutta Nikāya 12.68
- 7. Mahāvagga
Bản dịch
SN 12.68 — Kosambisutta
Kosambisutta
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Musīla, Tôn giả Saviṭṭha, Tôn giả Nārada, Tôn giả Ānanda trú ở Kosambī, vườn Ghositā.
I
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Saviṭṭha nói với Tôn giả Musīla:
—Này Hiền giả Musīla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự hành tướng (ākāraparivitakkā), ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm (diṭṭhinijjhānakkhanti), Tôn giả Musīla tự mình có trí biết được: “Do duyên sanh, già chết sanh khởi”?
Vi-n 3 —Này Hiền giả Saviṭṭha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự hành tướng, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi có biết được, tôi có thấy được: “Do duyên sanh, già chết sanh khởi”.
Vi-n 4 —Này Hiền giả Musīla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musīla tự mình có trí biết được: “Do duyên hữu, nên sanh sinh khởi… (như trên)…
Vi-n 5 … “Do duyên thủ nên hữu sanh khởi”.
Vi-n 6 … “Do duyên ái nên thủ sanh khởi”.
Vi-n 7 … “Do duyên thọ nên ái sanh khởi”.
Vi-n 8 … “Do duyên xúc nên thọ sanh khởi”.
Vi-n 9 … “Do duyên sáu xứ nên xúc sanh khởi”.
Vi-n 10 … “Do duyên danh sắc nên sáu xứ sanh khởi”.
Vi-n 11 … “Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi”.
Vi-n 12 … “Do duyên hành nên thức sanh khởi”.
Vi-n 13 … “Do duyên vô minh nên hành sanh khởi”.
Vi-n 14 —Này Hiền giả Saviṭṭha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết được, tôi thấy được: “Do duyên vô minh, các hành sanh khởi”.
Vi-n 15 —Này Hiền giả Musīla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài sự thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musīla tự mình có trí biết như sau: “Do sanh diệt, nên già chết diệt”.
Vi-n 16 —Này Hiền giả Saviṭṭha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do sanh diệt, nên già chết diệt”.
Vi-n 17 —Này Hiền giả Musīla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musīla tự mình có trí biết như sau: “Do hữu diệt, nên sanh diệt”.
Vi-n 18-24 … “Do thủ diệt, nên hữu diệt… Do ái diệt, nên thủ diệt… Do thọ diệt, nên ái diệt… Do xúc diệt nên thọ diệt… Do sáu xứ diệt, nên xúc diệt… Do danh sắc diệt, nên sáu xứ diệt… Do thức diệt, nên danh sắc diệt… Do hành diệt, nên thức diệt… Do vô minh diệt, nên hành diệt”.
Vi-n 25 —Này Hiền giả Saviṭṭha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do vô minh diệt, nên hành diệt”
Vi-n 26 —Này Hiền giả Musīla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musīla tự mình có trí biết như sau: “ Do hữu diệt là Niết-bàn”.
Vi-n 27 —Này Hiền giả Saviṭṭha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do hữu diệt là Niết-bàn”.
Vi-n 28 —Như vậy, Tôn giả Musīla là bậc A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc?
Vi-n 29 Khi nghe nói vậy, Tôn giả Musīla giữ im lặng.
II
Vi-n 30 Rồi Tôn giả Nārada nói với Tôn giả Saviṭṭha:
—Này Hiền giả Saviṭṭha, lành thay nếu tôi được hỏi câu này. Hãy hỏi tôi câu hỏi này, và tôi sẽ trả lời cho Hiền giả câu hỏi này.
Vi-n 31 —Tôn giả Nārada hãy lấy câu hỏi này. Tôi sẽ hỏi Tôn giả Nārada câu hỏi này. Và Tôn giả Nārada hãy trả lời cho tôi câu hỏi này.
Vi-n 32-57 …—Này Hiền giả Saviṭṭha, ngoài lòng tin… tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do hữu diệt là Niết-bàn”.
Vi-n 58 —Như vậy, Tôn giả Nārada là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc?
Vi-n 59 —Này Hiền giả, “Do hữu diệt là Niết-bàn”, tôi khéo thấy như chơn nhờ chánh trí tuệ. Nhưng tôi không phải là vị A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc.
Vi-n 60 Ví như trên một con đường hoang vắng có một giếng nước. Tại đấy không có dây, không có gàu nước. Rồi có người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước. Người ấy ngó xuống giếng và biết được: “Giếng này có nước”, nhưng đứng chịu, thân thể không chạm nước.
Vi-n 61 Cũng vậy, này Hiền giả, “Hữu diệt là Niết-bàn”, tôi khéo thấy như chơn nhờ chánh trí tuệ, nhưng tôi không phải là vị A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc.
III
Vi-n 62 Khi được nói vậy, Tôn giả Ānanda nói với Tôn giả Saviṭṭha:
—Này Hiền giả Saviṭṭha, nói như vậy thời Hiền giả nói gì về Tôn giả Nārada?
Vi-n 63 —Này Hiền giả Ānanda, nói như vậy, tôi không nói gì về Tôn giả Nārada, ngoài sự tốt lành, ngoài sự tốt đẹp.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.68
- 7. The Great Chapter
At Kosambī
8. Kinh Kosambi
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca musilo āyasmā ca paviṭṭho āyasmā ca nārado āyasmā ca ānando kosambiyaṁ viharanti ghositārāme. Atha kho āyasmā paviṭṭho āyasmantaṁ musilaṁ etadavoca:
“aññatreva, āvuso musila, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā atthāyasmato musilassa paccattameva ñāṇaṁ: ‘jātipaccayā jarāmaraṇan’”ti?
“Aññatreva, āvuso paviṭṭha, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā ahametaṁ jānāmi ahametaṁ passāmi: ‘jātipaccayā jarāmaraṇan’”ti.
At one time the venerables Musīla, Saviṭṭha, Nārada, and Ānanda were staying near Kosambī in Ghosita’s monastery. Then Venerable Saviṭṭha said to Venerable Musīla:
“Reverend Musīla, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, do you personally know that rebirth is a requirement for old age and death?”
“Reverend Saviṭṭha, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, I know and see that rebirth is a requirement for old age and death.”
68. Một thời, Tôn giả Musila, Tôn giả Paviṭṭha, Tôn giả Nārada, và Tôn giả Ānanda trú tại Kosambi, ở tu viện Ghosita. Lúc bấy giờ, Tôn giả Paviṭṭha nói với Tôn giả Musila điều này: “Thưa hiền giả Musila, ngoài tín, ngoài ý thích, ngoài truyền thống, ngoài sự suy xét về các lý do, ngoài sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, có phải Tôn giả Musila có trí tuệ của riêng mình rằng: ‘Do duyên sanh, có già-chết’ không?” “Thưa hiền giả Paviṭṭha, ngoài tín, ngoài ý thích, ngoài truyền thống, ngoài sự suy xét về các lý do, ngoài sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết điều này, tôi thấy điều này: ‘Do duyên sanh, có già-chết’.”
“Aññatreva, āvuso musila, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā atthāyasmato musilassa paccattameva ñāṇaṁ: ‘bhavapaccayā jātīti …pe… upādānapaccayā bhavoti … taṇhāpaccayā upādānanti … vedanāpaccayā taṇhāti … phassapaccayā vedanāti … saḷāyatanapaccayā phassoti … nāmarūpapaccayā saḷāyatananti … viññāṇapaccayā nāmarūpanti … saṅkhārapaccayā viññāṇanti … avijjāpaccayā saṅkhārā’”ti?
“Aññatreva, āvuso paviṭṭha, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā ahametaṁ jānāmi ahametaṁ passāmi: ‘avijjāpaccayā saṅkhārā’”ti.
“Reverend Musīla, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberateation, do you personally know that continued existence is a requirement for rebirth … grasping is a requirement for continued existence … craving is a requirement for grasping … feeling is a requirement for craving … contact is a requirement for feeling … the six sense fields are requirements for contact … name and form are requirements for the six sense fields … consciousness is a requirement for name and form … choices are a requirement for consciousness … ignorance is a requirement for choices?”
“Reverend Saviṭṭha, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, I know and see that ignorance is a requirement for choices.”
“Thưa hiền giả Musila, ngoài tín, ngoài ý thích, ngoài truyền thống, ngoài sự suy xét về các lý do, ngoài sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, có phải Tôn giả Musila có trí tuệ của riêng mình rằng: ‘Do duyên hữu, có sanh… (v.v.)… do duyên thủ, có hữu… do duyên ái, có thủ… do duyên thọ, có ái… do duyên xúc, có thọ… do duyên sáu xứ, có xúc… do duyên danh-sắc, có sáu xứ… do duyên thức, có danh-sắc… do duyên các hành, có thức… do duyên vô minh, có các hành’ không?” “Thưa hiền giả Paviṭṭha, ngoài tín, ngoài ý thích, ngoài truyền thống, ngoài sự suy xét về các lý do, ngoài sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết điều này, tôi thấy điều này: ‘Do duyên vô minh, có các hành’.”
“Aññatreva, āvuso musila, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā atthāyasmato musilassa paccattameva ñāṇaṁ: ‘jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’”ti?
“Aññatreva, āvuso paviṭṭha, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā ahametaṁ jānāmi ahametaṁ passāmi: ‘jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’”ti.
“Reverend Musīla, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, do you personally know that when rebirth ceases, old age and death cease?”
“Reverend Saviṭṭha, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, I know and see that when rebirth ceases, old age and death cease.”
“Thưa hiền giả Musila, ngoài tín, ngoài ý thích, ngoài truyền thống, ngoài sự suy xét về các lý do, ngoài sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, có phải Tôn giả Musila có trí tuệ của riêng mình rằng: ‘Do sanh diệt, già-chết diệt’ không?” “Thưa hiền giả Paviṭṭha, ngoài tín, ngoài ý thích, ngoài truyền thống, ngoài sự suy xét về các lý do, ngoài sự chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc, tôi biết điều này, tôi thấy điều này: ‘Do sanh diệt, già-chết diệt’.”
“Aññatreva, āvuso musila, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā atthāyasmato musilassa paccattameva ñāṇaṁ: ‘bhavanirodhā jātinirodhoti …pe… upādānanirodhā bhavanirodhoti … taṇhānirodhā upādānanirodhoti … vedanānirodhā taṇhānirodhoti … phassanirodhā vedanānirodhoti … saḷāyatananirodhā phassanirodhoti … nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodhoti … viññāṇanirodhā nāmarūpanirodhoti … saṅkhāranirodhā viññāṇanirodhoti … avijjānirodhā saṅkhāranirodho’”ti?
“Aññatreva, āvuso paviṭṭha, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā ahametaṁ jānāmi ahametaṁ passāmi: ‘avijjānirodhā saṅkhāranirodho’”ti.
“Reverend Musīla, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, do you personally know that when continued existence ceases, rebirth ceases … when grasping ceases, continued existence ceases … when craving ceases, grasping ceases … when feeling ceases, craving ceases … when contact ceases, feeling ceases … when the six sense fields cease, contact ceases … when name and form cease, the six sense fields cease … when consciousness ceases name and form cease … when choices cease consciousness ceases … when ignorance ceases, choices cease?”
“Reverend Saviṭṭha, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, I know and see that when ignorance ceases, choices cease.”
“Này hiền giả Musila, ngoài niềm tin, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét theo các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi cân nhắc các quan điểm, Tôn giả Musila có trí tuệ của riêng mình biết rằng: ‘Do hữu diệt nên sanh diệt’... cho đến... ‘do thủ diệt nên hữu diệt’... ‘do ái diệt nên thủ diệt’... ‘do thọ diệt nên ái diệt’... ‘do xúc diệt nên thọ diệt’... ‘do sáu xứ diệt nên xúc diệt’... ‘do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt’... ‘do thức diệt nên danh sắc diệt’... ‘do các hành diệt nên thức diệt’... ‘do vô minh diệt nên các hành diệt’ không?” “Này hiền giả Paviṭṭha, ngoài niềm tin, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét theo các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi cân nhắc các quan điểm, tôi biết điều này, tôi thấy điều này: ‘Do vô minh diệt nên các hành diệt’.”
“Aññatreva, āvuso musila, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā atthāyasmato musilassa paccattameva ñāṇaṁ: ‘bhavanirodho nibbānan’”ti?
“Aññatreva, āvuso paviṭṭha, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā ahametaṁ jānāmi ahametaṁ passāmi: ‘bhavanirodho nibbānan’”ti.
“Reverend Musīla, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, do you personally know that the cessation of continued existence is extinguishment?”
“Reverend Saviṭṭha, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, I know and see that the cessation of continued existence is extinguishment.”
“Này hiền giả Musila, ngoài niềm tin, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét theo các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi cân nhắc các quan điểm, Tôn giả Musila có trí tuệ của riêng mình biết rằng: ‘Sự diệt của hữu là Niết-bàn’ không?” “Này hiền giả Paviṭṭha, ngoài niềm tin, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét theo các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi cân nhắc các quan điểm, tôi biết điều này, tôi thấy điều này: ‘Sự diệt của hữu là Niết-bàn’.”
“Tenahāyasmā musilo arahaṁ khīṇāsavo”ti? Evaṁ vutte, āyasmā musilo tuṇhī ahosi.
Atha kho āyasmā nārado āyasmantaṁ paviṭṭhaṁ etadavoca: “sādhāvuso paviṭṭha, ahaṁ etaṁ pañhaṁ labheyyaṁ. Maṁ etaṁ pañhaṁ puccha. Ahaṁ te etaṁ pañhaṁ byākarissāmī”ti.
“Labhatāyasmā nārado etaṁ pañhaṁ. Pucchāmahaṁ āyasmantaṁ nāradaṁ etaṁ pañhaṁ. Byākarotu ca me āyasmā nārado etaṁ pañhaṁ.
“Then Venerable Musīla is a perfected one, with defilements ended.” When he said this, Musīla kept silent.
Then Venerable Nārada said to Venerable Saviṭṭha, “Reverend Saviṭṭha, please let me answer these questions. Ask me and I will answer them for you.”
“By all means, Venerable Nārada, try these questions. I’ll ask you and you can answer them for me.”
“Vậy thì Tôn giả Musila là bậc A-la-hán, đã tận trừ các lậu hoặc phải không?” Khi được nói như vậy, Tôn giả Musila đã giữ im lặng. Bấy giờ, Tôn giả Nārada nói với Tôn giả Paviṭṭha: “Lành thay, này hiền giả Paviṭṭha, tôi xin nhận câu hỏi này. Hãy hỏi tôi câu hỏi này. Tôi sẽ trả lời câu hỏi này cho hiền giả.” “Mong Tôn giả Nārada nhận câu hỏi này. Tôi sẽ hỏi Tôn giả Nārada câu hỏi này. Và mong Tôn giả Nārada trả lời câu hỏi này cho tôi.”
Aññatreva, āvuso nārada, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā atthāyasmato nāradassa paccattameva ñāṇaṁ: ‘jātipaccayā jarāmaraṇan’”ti? “Aññatreva, āvuso paviṭṭha, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā ahametaṁ jānāmi ahametaṁ passāmi: ‘jātipaccayā jarāmaraṇan’”ti.
(Saviṭṭha repeats exactly the same series of questions, and Nārada answers just as Musīla did.)
“Này hiền giả Nārada, ngoài niềm tin, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét theo các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi cân nhắc các quan điểm, Tôn giả Nārada có trí tuệ của riêng mình biết rằng: ‘Do sanh làm duyên nên có già-chết’ không?” “Này hiền giả Paviṭṭha, ngoài niềm tin, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét theo các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi cân nhắc các quan điểm, tôi biết điều này, tôi thấy điều này: ‘Do sanh làm duyên nên có già-chết’.”
“Aññatreva, āvuso nārada, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā atthāyasmato nāradassa paccattameva ñāṇaṁ—bhavapaccayā jāti …pe… avijjāpaccayā saṅkhārā”ti? “Aññatreva, āvuso paviṭṭha, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā ahametaṁ jānāmi ahametaṁ passāmi: ‘avijjāpaccayā saṅkhārā’”ti.
“Này hiền giả Nārada, ngoài niềm tin, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét theo các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi cân nhắc các quan điểm, Tôn giả Nārada có trí tuệ của riêng mình biết rằng: ‘Do hữu làm duyên nên có sanh’... cho đến... ‘do vô minh làm duyên nên có các hành’ không?” “Này hiền giả Paviṭṭha, ngoài niềm tin, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét theo các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi cân nhắc các quan điểm, tôi biết điều này, tôi thấy điều này: ‘Do vô minh làm duyên nên có các hành’.”
“Aññatreva, āvuso nārada, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā atthāyasmato nāradassa paccattameva ñāṇaṁ: ‘jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’”ti? “Aññatreva, āvuso paviṭṭha, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā ahametaṁ jānāmi ahametaṁ passāmi: ‘jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’”ti.
“Này hiền giả Nārada, ngoài niềm tin, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét theo các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi cân nhắc các quan điểm, Tôn giả Nārada có trí tuệ của riêng mình biết rằng: ‘Do sanh diệt nên già-chết diệt’ không?” “Này hiền giả Paviṭṭha, ngoài niềm tin, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét theo các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi cân nhắc các quan điểm, tôi biết điều này, tôi thấy điều này: ‘Do sanh diệt nên già-chết diệt’.”
“Aññatreva, āvuso nārada, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā atthāyasmato nāradassa paccattameva ñāṇaṁ: ‘bhavanirodhā jātinirodhoti …pe… avijjānirodhā saṅkhāranirodho’”ti? “Aññatreva, āvuso paviṭṭha, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā ahametaṁ jānāmi ahametaṁ passāmi: ‘avijjānirodhā saṅkhāranirodho’”ti.
“Này hiền giả Nārada, ngoài niềm tin, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét theo các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi cân nhắc các quan điểm, Tôn giả Nārada có trí tuệ của riêng mình biết rằng: ‘Do hữu diệt nên sanh diệt’... cho đến... ‘do vô minh diệt nên các hành diệt’ không?” “Này hiền giả Paviṭṭha, ngoài niềm tin, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét theo các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi cân nhắc các quan điểm, tôi biết điều này, tôi thấy điều này: ‘Do vô minh diệt nên các hành diệt’.”
“Aññatreva, āvuso nārada, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā atthāyasmato nāradassa paccattameva ñāṇaṁ: ‘bhavanirodho nibbānan’”ti?
“Aññatreva, āvuso paviṭṭha, saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā ahametaṁ jānāmi ahametaṁ passāmi: ‘bhavanirodho nibbānan’”ti.
“Reverend Nārada, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, do you personally know that the cessation of continued existence is extinguishment?”
“Reverend Saviṭṭha, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation, I know and see that the cessation of continued existence is extinguishment.”
“Này hiền giả Nārada, ngoài niềm tin, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét theo các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi cân nhắc các quan điểm, Tôn giả Nārada có trí tuệ của riêng mình biết rằng: ‘Sự diệt của hữu là Niết-bàn’ không?” “Này hiền giả Paviṭṭha, ngoài niềm tin, ngoài sở thích, ngoài sự truyền tụng, ngoài sự suy xét theo các khía cạnh, ngoài sự chấp nhận sau khi cân nhắc các quan điểm, tôi biết điều này, tôi thấy điều này: ‘Sự diệt của hữu là Niết-bàn’.”
“Tenahāyasmā nārado arahaṁ khīṇāsavo”ti?
“‘Bhavanirodho nibbānan’ti kho me, āvuso, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ, na camhi arahaṁ khīṇāsavo. Seyyathāpi, āvuso, kantāramagge udapāno, tatra nevassa rajju na udakavārako. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito, so taṁ udapānaṁ olokeyya. Tassa ‘udakan’ti hi kho ñāṇaṁ assa, na ca kāyena phusitvā vihareyya.
Evameva kho, āvuso, ‘bhavanirodho nibbānan’ti yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ, na camhi arahaṁ khīṇāsavo”ti.
“Then Venerable Nārada is a perfected one, with defilements ended.”
“I have truly seen clearly with right wisdom that the cessation of continued existence is extinguishment. Yet I am not a perfected one. Suppose there was a well on a desert road that had neither rope nor bucket. Then along comes a person struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. They’d know that there was water, but they couldn’t physically touch it.
In the same way, I have truly seen clearly with right wisdom that the cessation of continued existence is extinguishment. Yet I am not a perfected one.”
“Vậy thì, tôn giả Nārada là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc phải không?” “Này hiền hữu, tôi đã dùng chánh trí tuệ thấy rõ như thật rằng: ‘Sự diệt tận của kiếp hữu là Niết-bàn’, nhưng tôi không phải là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Này hiền hữu, ví như trên con đường hoang vắng có một cái giếng. Ở đó không có dây cũng không có gàu múc nước. Rồi một người đi đến, bị nóng bức thiêu đốt, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khát nước, thèm nước. Người ấy nhìn vào giếng đó. Người ấy có cái biết rằng: ‘Đây là nước’, nhưng không thể dùng thân để tiếp xúc với nước. Cũng vậy, này hiền hữu, tôi đã dùng chánh trí tuệ thấy rõ như thật rằng: ‘Sự diệt tận của kiếp hữu là Niết-bàn’, nhưng tôi không phải là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc.”
Evaṁ vutte, āyasmā ānando āyasmantaṁ paviṭṭhaṁ etadavoca: “evaṁvādī tvaṁ, āvuso paviṭṭha, āyasmantaṁ nāradaṁ kiṁ vadesī”ti?
“Evaṁvādāhaṁ, āvuso ānanda, āyasmantaṁ nāradaṁ na kiñci vadāmi aññatra kalyāṇā aññatra kusalā”ti.
Aṭṭhamaṁ.
When he said this, Venerable Ānanda said to Venerable Saviṭṭha, “Reverend Saviṭṭha, what do you have to say to Venerable Nārada when he speaks like this?”
“Reverend Ānanda, I have nothing to say to Venerable Nārada when he speaks like this, except what is good and wholesome.”
Khi được nói như vậy, tôn giả Ānanda nói với tôn giả Paviṭṭha rằng: “Này hiền hữu Paviṭṭha, ngài nói gì về tôn giả Nārada, người đã nói như vậy?” “Này hiền hữu Ānanda, đối với tôn giả Nārada, người đã nói như vậy, tôi không nói điều gì khác ngoài điều thiện lành, ngoài điều tốt đẹp.” Kinh thứ tám.