- Saṁyutta Nikāya 12.66
- 7. Mahāvagga
Sammasasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sammasasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Kūru, tại thị trấn dân chúng Kūru tên là Kammāsadhamma.
Vi-n 2 Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:—“Này các Tỷ-kheo”.—“Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, các ông có nắm giữ với nội xúc hay không?
Vi-n 4 Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con có nắm giữ, với nội xúc.
Vi-n 5 —Này các Tỷ-kheo, nhưng ông nắm giữ nội xúc như thế nào?
Vi-n 6 Tỷ-kheo ấy trả lời. Với câu trả lời, Tỷ-kheo ấy không làm tâm Thế Tôn thỏa mãn.
Vi-n 7 Khi được nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời. Bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời Thế Tôn nói về nội xúc. Sau khi nghe, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
Vi-n 8 —Vậy này Ānanda, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 9 Thế Tôn nói như sau:
—Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi nắm giữ nội xúc, nắm giữ nội xúc như sau: “Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết; sự đau khổ này lấy cái gì làm nhân, hay lấy cái gì làm tập khởi, lấy cái gì làm tác sanh, lấy cái gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết như sau: “Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết. Sự đau khổ này lấy sanh y làm nhân, lấy sanh y làm tập khởi, lấy sanh y làm tác sanh, lấy sanh y làm hiện hữu. Do sanh y có mặt, già chết hiện hữu. Do sanh y không có mặt, già chết không hiện hữu”. Vị ấy biết già chết. Vị ấy biết già chết tập khởi. Vị ấy biết già chết đoạn diệt. Vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Và nhờ thực hành như vậy, vị ấy trở thành một vị tùy pháp hành.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã thực hành để diệt tận khổ đau, để đoạn diệt già chết một cách hoàn toàn.
Vi-n 10 Vị ấy lại nắm giữ thêm nội xúc và nắm giữ như sau: “Sanh y này lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm tác sanh, lấy gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, sanh y hiện hữu? Cái gì không có mặt, sanh y không hiện hữu?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết được như sau: “Sanh y lấy ái làm nhân, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm tác sanh, lấy ái làm hiện hữu. Do ái có mặt, sanh y hiện hữu. Do ái không có mặt, sanh y không hiện hữu”. Vị ấy biết sanh y, biết sanh y tập khởi, biết sanh y đoạn diệt, và biết con đường thích ứng đưa đến sanh y đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy được gọi là tùy pháp hành.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã chơn chánh thực hành để tận diệt đau khổ và đoạn diệt sanh y một cách hoàn toàn.
Vi-n 11 Vị ấy lại nắm giữ thêm nội xúc và nắm giữ như sau: “Nhưng ái này, khởi lên tại chỗ nào được khởi lên, an trú tại chỗ nào được an trú?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết được như sau: “Tất cả những gì ở đời khả ái, hấp dẫn, khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú. Và cái gì ở đời khả ái, hấp dẫn? Con mắt ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy ái được an trú”.
Vi-n 12 … Lỗ tai ở đời là khả ái, hấp dẫn…
Vi-n 13 … Lỗ mũi ở đời là khả ái, hấp dẫn…
Vi-n 14 … Lưỡi ở đời là khả ái, hấp dẫn…
Vi-n 15 … Thân ở đời là khả ái, hấp dẫn…
Vi-n 16 … Ý ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú.
Vi-n 17 Này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, thấy là tự ngã, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Vi-n 18 Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 19 Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy sẽ làm ái tăng trưởng.
Vi-n 20 Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy sẽ làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy sẽ làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ không có thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 21 Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Vi-n 22 Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 23 Này các Tỷ-kheo, ví như một bình bằng đồng, đựng nước uống có sắc, có hương, có vị và nước uống ấy có pha thuốc độc. Rồi một người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước và có những người nói với người ấy như sau: “Này Bạn, bình đồng đựng nước uống này, có sắc, có hương, có vị, và bình nước uống ấy có pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy, Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết”. Người kia có thể uống bình nước bằng đồng ấy một cách hấp tấp không suy nghĩ, không từ bỏ. Người kia do nhân duyên ấy, có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết.
Vi-n 24 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn, phàm vật gì khả ái hấp dẫn ở đời…
Vi-n 25 … Những ai trong tương lai…
Vi-n 26 Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Vi-n 27 Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 28 Và này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, những người ấy từ bỏ ái.
Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy đã được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ đã giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 29 Và này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, những người ấy sẽ từ bỏ ái.
Vi-n 30 Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y… Ta nói họ có thể giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 31 Còn những ai, này các Tỷ-kheo, trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.
Vi-n 32 Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy sẽ giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ sẽ giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 33 Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình nước bằng đồng có sắc, có hương, có vị, nhưng bị pha thuốc độc. Rồi có người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước. Có những người nói với người ấy: “Này Bạn, bình nước bằng đồng này có sắc, có hương, có vị, nhưng bình nước uống ấy bị pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết”.
Vi-n 34 Và này các Tỷ-kheo, người ấy có thể suy nghĩ như sau: “Ở đây, ta có thể nhiếp phục khát nước này với uống rượu, hay nhiếp phục với ăn sữa đông (sanh tô), hay nhiếp phục với ngậm muối, hay nhiếp phục với cháo chua. Nhưng ta không có thể uống thứ này, nó khiến ta phải bất hạnh, đau khổ lâu dài”. Người ấy sau khi suy nghĩ, không uống và từ bỏ thứ nước uống ấy. Do nhân duyên này, người ấy không đi đến chết, hay sự đau khổ gần như chết.
Vi-n 35 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những ai trong thời quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là đau khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ đoạn trừ ái.
Vi-n 36 Những ai đoạn trừ ái, những người ấy đoạn trừ sanh y. Những ai đoạn trừ sanh y, những người ấy đoạn trừ đau khổ. Những ai đoạn trừ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ được giải thoát khỏi đau khổ.
Vi-n 37-38 Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai…
Vi-n 39 Những ai trong thời hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.
Vi-n 40 Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ được giải thoát khỏi đau khổ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Suy Xét
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“sammasatha no tumhe, bhikkhave, antaraṁ sammasan”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ahaṁ kho, bhante, sammasāmi antaraṁ sammasan”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, sammasasi antaraṁ sammasan”ti? Atha kho so bhikkhu byākāsi. Yathā so bhikkhu byākāsi na so bhikkhu bhagavato cittaṁ ārādhesi.
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, do you probe within?”
When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Sir, I probe within.”
“But mendicant, how do you probe within?” Then that mendicant answered, but the Buddha was not happy with the answer.
66. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở xứ Kuru, tại một thị trấn của người Kuru tên là Kammāsadhamma. Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu.’ ‘Bạch Thế Tôn,’ các tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: ‘Này các tỳ khưu, các ông có thực hành sự suy xét nội tâm không?’ Khi được nói vậy, một tỳ khưu bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, con có thực hành sự suy xét nội tâm.’ ‘Này tỳ khưu, vậy ông thực hành sự suy xét nội tâm như thế nào?’ Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã giải trình. Cách mà vị tỳ khưu ấy giải trình đã không làm cho tâm của Thế Tôn hài lòng.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “etassa, bhagavā, kālo; etassa, sugata, kālo; yaṁ bhagavā antaraṁ sammasaṁ bhāseyya. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tenahānanda, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
When he had spoken, Venerable Ānanda said to the Buddha, “Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One! Let the Buddha speak of probing within. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, Ānanda, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
Khi được nói như vậy, tôn giả Ānanda bạch với đức Thế Tôn lời này: 'Bạch đức Thế Tôn, đây là thời điểm; bạch đức Thiện Thệ, đây là thời điểm để đức Thế Tôn thuyết giảng về sự thẩm sát nội tâm. Sau khi nghe (lời dạy của) đức Thế Tôn, các tỳ khưu sẽ ghi nhớ.' – 'Này Ānanda, vậy thì các ông hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; Ta sẽ thuyết giảng.' – 'Xin vâng, bạch Thế Tôn.' Các tỳ khưu ấy đã đáp lời đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói lời này:
“Idha, bhikkhave, bhikkhu sammasamāno sammasati antaraṁ sammasaṁ: ‘yaṁ kho idaṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ dukkhaṁ loke uppajjati jarāmaraṇaṁ. Idaṁ kho dukkhaṁ kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ, kismiṁ sati jarāmaraṇaṁ hoti, kismiṁ asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti? So sammasamāno evaṁ jānāti: ‘yaṁ kho idaṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ dukkhaṁ loke uppajjati jarāmaraṇaṁ. Idaṁ kho dukkhaṁ upadhinidānaṁ upadhisamudayaṁ upadhijātikaṁ upadhipabhavaṁ, upadhismiṁ sati jarāmaraṇaṁ hoti, upadhismiṁ asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti. So jarāmaraṇañca pajānāti jarāmaraṇasamudayañca pajānāti jarāmaraṇanirodhañca pajānāti yā ca jarāmaraṇanirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti. Tathāpaṭipanno ca hoti anudhammacārī. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno jarāmaraṇanirodhāya.
“Take a mendicant who probes within: ‘The suffering that arises in the world starting with old age and death takes many and diverse forms. But what is the source of this suffering? When what exists do old age and death come to be? And when what does not exist do old age and death not come to be?’ While probing they know: ‘The suffering that arises in the world starting with old age and death takes many and diverse forms. The source of this suffering is attachment. When attachments exist old age and death come to be. And when attachments do not exist old age and death don’t come to be.’ They understand old age and death, their origin, their cessation, and the fitting practice for their cessation. And they practice in line with that path. This is called a mendicant who is practicing for the complete ending of suffering, for the cessation of old age and death.
Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu trong khi thẩm sát, đã thẩm sát sự thẩm sát nội tâm như sau: 'Sự khổ này, có nhiều loại, có nhiều hình thức, khởi sanh ở trên đời, tức là già và chết. Sự khổ này có gì làm nhân duyên, có gì làm tập khởi, có gì làm nguồn sanh, có gì làm nguồn gốc? Khi có cái gì thì có già và chết, khi không có cái gì thì không có già và chết?' Vị ấy trong khi thẩm sát, biết như vầy: 'Sự khổ này, có nhiều loại, có nhiều hình thức, khởi sanh ở trên đời, tức là già và chết. Sự khổ này có chấp thủ làm nhân duyên, có chấp thủ làm tập khởi, có chấp thủ làm nguồn sanh, có chấp thủ làm nguồn gốc. Khi có chấp thủ thì có già và chết, khi không có chấp thủ thì không có già và chết.' Vị ấy tuệ tri về già và chết, tuệ tri về sự tập khởi của già và chết, tuệ tri về sự đoạn diệt của già và chết, và tuệ tri về con đường thực hành tương xứng đưa đến sự đoạn diệt của già và chết. Và vị ấy là người đã thực hành như vậy, là người thực hành thuận theo pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là người đã thực hành một cách chân chánh về mọi phương diện để đoạn tận khổ đau, để đoạn diệt già và chết.
Athāparaṁ sammasamāno sammasati antaraṁ sammasaṁ: ‘upadhi panāyaṁ kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo, kismiṁ sati upadhi hoti, kismiṁ asati upadhi na hotī’ti? So sammasamāno evaṁ jānāti: ‘upadhi taṇhānidāno taṇhāsamudayo taṇhājātiko taṇhāpabhavo, taṇhāya sati upadhi hoti, taṇhāya asati upadhi na hotī’ti. So upadhiñca pajānāti upadhisamudayañca pajānāti upadhinirodhañca pajānāti yā ca upadhinirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti. Tathāpaṭipanno ca hoti anudhammacārī. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno upadhinirodhāya.
They probe further within: ‘But what is the source of this attachment? When what exists does attachment come to be? And when what does not exist does attachment not come to be?’ While probing they know: ‘The source of this attachment is craving. When craving exists attachments come to be. And when craving doesn’t exist attachments don’t come to be.’ They understand attachments, their origin, their cessation, and the fitting practice for their cessation. And they practice in line with that path. This is called a mendicant who is practicing for the complete ending of suffering, for the cessation of attachments.
Lại nữa, trong khi thẩm sát, vị ấy thẩm sát sự thẩm sát nội tâm như sau: 'Còn chấp thủ này, có gì làm nhân duyên, có gì làm tập khởi, có gì làm nguồn sanh, có gì làm nguồn gốc? Khi có cái gì thì có chấp thủ, khi không có cái gì thì không có chấp thủ?' Vị ấy trong khi thẩm sát, biết như vầy: 'Chấp thủ có ái dục làm nhân duyên, có ái dục làm tập khởi, có ái dục làm nguồn sanh, có ái dục làm nguồn gốc. Khi có ái dục thì có chấp thủ, khi không có ái dục thì không có chấp thủ.' Vị ấy tuệ tri về chấp thủ, tuệ tri về sự tập khởi của chấp thủ, tuệ tri về sự đoạn diệt của chấp thủ, và tuệ tri về con đường thực hành tương xứng đưa đến sự đoạn diệt của chấp thủ. Và vị ấy là người đã thực hành như vậy, là người thực hành thuận theo pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là người đã thực hành một cách chân chánh về mọi phương diện để đoạn tận khổ đau, để đoạn diệt chấp thủ.
Athāparaṁ sammasamāno sammasati antaraṁ sammasaṁ: ‘taṇhā panāyaṁ kattha uppajjamānā uppajjati, kattha nivisamānā nivisatī’ti? So sammasamāno evaṁ jānāti—yaṁ kho loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati. Kiñca loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ? Cakkhuṁ loke piyarūpaṁ, sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati. Sotaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ …pe… ghānaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ … jivhā loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ … kāyo loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ … mano loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati ettha nivisamānā nivisati.
They probe further within: ‘But where does that craving arise and where does it settle?’ While probing they know: ‘That craving arises and settles on whatever in the world seems nice and pleasant. And what in the world seems nice and pleasant? The eye in the world seems nice and pleasant, and it is there that craving arises and settles. The ear … nose … tongue … body … mind in the world seems nice and pleasant, and it is there that craving arises and settles.’
Lại nữa, trong khi thẩm sát, vị ấy thẩm sát sự thẩm sát nội tâm như sau: 'Còn ái dục này, khi khởi sanh thì khởi sanh ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu?' Vị ấy trong khi thẩm sát, biết như vầy: 'Bất cứ cái gì ở trên đời có sắc thái khả ái, có sắc thái khả hỷ, thì ái dục này khi khởi sanh, nó khởi sanh ở đấy; khi an trú, nó an trú ở đấy. Và cái gì ở trên đời có sắc thái khả ái, có sắc thái khả hỷ? Mắt ở trên đời là pháp có sắc thái khả ái, có sắc thái khả hỷ. Ái dục này khi khởi sanh, nó khởi sanh ở đấy; khi an trú, nó an trú ở đấy. Tai ở trên đời là pháp có sắc thái khả ái, có sắc thái khả hỷ... mũi ở trên đời là pháp có sắc thái khả ái, có sắc thái khả hỷ... lưỡi ở trên đời là pháp có sắc thái khả ái, có sắc thái khả hỷ... thân ở trên đời là pháp có sắc thái khả ái, có sắc thái khả hỷ... ý ở trên đời là pháp có sắc thái khả ái, có sắc thái khả hỷ. Ái dục này khi khởi sanh, nó khởi sanh ở đấy; khi an trú, nó an trú ở đấy.
Ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ niccato addakkhuṁ sukhato addakkhuṁ attato addakkhuṁ ārogyato addakkhuṁ khemato addakkhuṁ. Te taṇhaṁ vaḍḍhesuṁ. Ye taṇhaṁ vaḍḍhesuṁ te upadhiṁ vaḍḍhesuṁ. Ye upadhiṁ vaḍḍhesuṁ te dukkhaṁ vaḍḍhesuṁ. Ye dukkhaṁ vaḍḍhesuṁ te na parimucciṁsu jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘na parimucciṁsu dukkhasmā’ti vadāmi.
There were ascetics and brahmins of the past who saw the things that seem nice and pleasant in the world as permanent, as pleasurable, as self, as healthy, and as safe. Their craving grew. As their craving grew, their attachments grew. As their attachments grew, their suffering grew. And as their suffering grew, they were not freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They were not freed from suffering, I say.
Này các tỳ khưu, bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời quá khứ, đã thấy pháp có sắc thái khả ái, sắc thái khả hỷ ở trên đời là thường còn, là an lạc, là tự ngã, là không bệnh, là an ổn, thì họ đã làm tăng trưởng ái dục. Những ai đã làm tăng trưởng ái dục, họ đã làm tăng trưởng chấp thủ. Những ai đã làm tăng trưởng chấp thủ, họ đã làm tăng trưởng khổ đau. Những ai đã làm tăng trưởng khổ đau, họ đã không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ đã không được giải thoát khỏi khổ đau.
Yepi hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ niccato dakkhissanti sukhato dakkhissanti attato dakkhissanti ārogyato dakkhissanti khemato dakkhissanti. Te taṇhaṁ vaḍḍhissanti. Ye taṇhaṁ vaḍḍhissanti te upadhiṁ vaḍḍhissanti. Ye upadhiṁ vaḍḍhissanti te dukkhaṁ vaḍḍhissanti. Ye dukkhaṁ vaḍḍhissanti te na parimuccissanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘na parimuccissanti dukkhasmā’ti vadāmi.
There will be ascetics and brahmins in the future who will see the things that seem nice and pleasant in the world as permanent, as pleasurable, as self, as healthy, and as safe. Their craving will grow. As their craving grows, their attachments will grow. As their attachments grow, their suffering will grow. And as their suffering grows, they will not be freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They will not be freed from suffering, I say.
Này các tỳ khưu, bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời vị lai, sẽ thấy pháp có sắc thái khả ái, sắc thái khả hỷ ở trên đời là thường còn, là an lạc, là tự ngã, là không bệnh, là an ổn, thì họ sẽ làm tăng trưởng ái dục. Những ai sẽ làm tăng trưởng ái dục, họ sẽ làm tăng trưởng chấp thủ. Những ai sẽ làm tăng trưởng chấp thủ, họ sẽ làm tăng trưởng khổ đau. Những ai sẽ làm tăng trưởng khổ đau, họ sẽ không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ sẽ không được giải thoát khỏi khổ đau.
Yepi hi keci, bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ niccato passanti sukhato passanti attato passanti ārogyato passanti khemato passanti. Te taṇhaṁ vaḍḍhenti. Ye taṇhaṁ vaḍḍhenti te upadhiṁ vaḍḍhenti. Ye upadhiṁ vaḍḍhenti te dukkhaṁ vaḍḍhenti. Ye dukkhaṁ vaḍḍhenti te na parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘na parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi.
There are ascetics and brahmins in the present who see the things that seem nice and pleasant in the world as permanent, as pleasurable, as self, as healthy, and as safe. Their craving grows. As their craving grows, their attachments grow. As their attachments grow, their suffering grows. And as their suffering grows, they are not freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They are not freed from suffering, I say.
Này các tỳ khưu, bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời hiện tại, thấy pháp có sắc thái khả ái, sắc thái khả hỷ ở trên đời là thường còn, là an lạc, là tự ngã, là không bệnh, là an ổn, thì họ làm tăng trưởng ái dục. Những ai làm tăng trưởng ái dục, họ làm tăng trưởng chấp thủ. Những ai làm tăng trưởng chấp thủ, họ làm tăng trưởng khổ đau. Những ai làm tăng trưởng khổ đau, họ không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ không được giải thoát khỏi khổ đau.
Seyyathāpi, bhikkhave, āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno. So ca kho visena saṁsaṭṭho. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ayaṁ te, ambho purisa, āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno; so ca kho visena saṁsaṭṭho. Sace ākaṅkhasi piva. Pivato hi kho taṁ chādessati vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi, pivitvā ca pana tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchasi maraṇamattaṁ vā dukkhan’ti. So taṁ āpānīyakaṁsaṁ sahasā appaṭisaṅkhā piveyya, nappaṭinissajjeyya. So tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Evameva kho, bhikkhave, ye hi keci atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ …pe… anāgatamaddhānaṁ …pe… etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ niccato passanti sukhato passanti attato passanti ārogyato passanti khemato passanti, te taṇhaṁ vaḍḍhenti. Ye taṇhaṁ vaḍḍhenti te upadhiṁ vaḍḍhenti. Ye upadhiṁ vaḍḍhenti te dukkhaṁ vaḍḍhenti. Ye dukkhaṁ vaḍḍhenti te na parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘na parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi.
Suppose there was a bronze goblet of beverage that had a nice color, aroma, and flavor. But it was mixed with poison. Then along comes a man struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. They’d say to him: ‘Here, my man, this bronze goblet of beverage has a nice color, aroma, and flavor. But it’s mixed with poison. Drink it if you like. If you drink it, the color, aroma, and flavor will be appetizing, but it will result in death or deadly pain.’ He wouldn’t put that beverage down. Hastily, without reflection, he’d drink it, resulting in death or deadly pain.
In the same way, there are ascetics and brahmins of the past … future … There are ascetics and brahmins in the present who see the things that seem nice and pleasant in the world as permanent, as pleasurable, as self, as healthy, and as safe. Their craving grows. As their craving grows, their attachments grow. As their attachments grow, their suffering grows. And as their suffering grows, they are not freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They are not freed from suffering, I say.
“Này các Tỳ khưu, ví như có một chén rượu đầy đủ màu sắc, hương thơm, và mùi vị. Nhưng chén rượu ấy lại được pha lẫn với thuốc độc. Bấy giờ, có một người đi đến, bị nóng bức, bị sức nóng hành hạ, mệt mỏi, khát nước, khô cổ. Người ta nói với người ấy như sau: ‘Này ông, chén rượu này đầy đủ màu sắc, hương thơm, và mùi vị; nhưng nó được pha lẫn với thuốc độc. Nếu ông muốn, hãy uống đi. Khi uống, nó sẽ làm ông thích thú về màu sắc, hương thơm, và mùi vị, nhưng sau khi uống, do nhân duyên ấy, ông sẽ đi đến cái chết hoặc sự đau khổ gần bằng cái chết.’ Người ấy không suy xét, vội vàng uống chén rượu ấy, không từ bỏ nó. Do nhân duyên ấy, người ấy đi đến cái chết hoặc sự đau khổ gần bằng cái chết. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ, ... hay trong tương lai, ... hay trong hiện tại, đối với những gì trong thế gian là sắc khả ái, sắc khả hỷ, họ xem là thường, xem là lạc, xem là ngã, xem là không bệnh, xem là an ổn, thì họ làm tăng trưởng ái. Những ai làm tăng trưởng ái, họ làm tăng trưởng sanh y. Những ai làm tăng trưởng sanh y, họ làm tăng trưởng khổ. Những ai làm tăng trưởng khổ, họ không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ không giải thoát khỏi khổ.”
Ye ca kho keci, bhikkhave, atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato addakkhuṁ dukkhato addakkhuṁ anattato addakkhuṁ rogato addakkhuṁ bhayato addakkhuṁ, te taṇhaṁ pajahiṁsu. Ye taṇhaṁ pajahiṁsu te upadhiṁ pajahiṁsu. Ye upadhiṁ pajahiṁsu te dukkhaṁ pajahiṁsu. Ye dukkhaṁ pajahiṁsu te parimucciṁsu jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘parimucciṁsu dukkhasmā’ti vadāmi.
There were ascetics and brahmins of the past who saw the things that seem nice and pleasant in the world as impermanent, as suffering, as not-self, as diseased, and as dangerous. They gave up craving. Giving up craving, they gave up attachments. Giving up attachments, they gave up suffering. Giving up suffering, they were freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They were freed from suffering, I say.
“Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ, đối với những gì trong thế gian là sắc khả ái, sắc khả hỷ, họ đã thấy là vô thường, đã thấy là khổ, đã thấy là vô ngã, đã thấy là bệnh hoạn, đã thấy là đáng sợ, thì họ đã từ bỏ ái. Những ai đã từ bỏ ái, họ đã từ bỏ sanh y. Những ai đã từ bỏ sanh y, họ đã từ bỏ khổ. Những ai đã từ bỏ khổ, họ đã được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ đã được giải thoát khỏi khổ.”
Yepi hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato dakkhissanti dukkhato dakkhissanti anattato dakkhissanti rogato dakkhissanti bhayato dakkhissanti, te taṇhaṁ pajahissanti. Ye taṇhaṁ pajahissanti …pe… ‘parimuccissanti dukkhasmā’ti vadāmi.
There will be ascetics and brahmins in the future who will see the things that seem nice and pleasant in the world as impermanent, as suffering, as not-self, as diseased, and as dangerous. They will give up craving. Giving up craving … they will be freed from suffering, I say.
“Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai, đối với những gì trong thế gian là sắc khả ái, sắc khả hỷ, họ sẽ thấy là vô thường, sẽ thấy là khổ, sẽ thấy là vô ngã, sẽ thấy là bệnh hoạn, sẽ thấy là đáng sợ, thì họ sẽ từ bỏ ái. Những ai sẽ từ bỏ ái, họ sẽ từ bỏ sanh y. Những ai sẽ từ bỏ sanh y, họ sẽ từ bỏ khổ. Những ai sẽ từ bỏ khổ, họ sẽ được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ sẽ được giải thoát khỏi khổ.”
Yepi hi keci, bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato passanti dukkhato passanti anattato passanti rogato passanti bhayato passanti, te taṇhaṁ pajahanti. Ye taṇhaṁ pajahanti te upadhiṁ pajahanti. Ye upadhiṁ pajahanti te dukkhaṁ pajahanti. Ye dukkhaṁ pajahanti te parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi.
There are ascetics and brahmins in the present who see the things that seem nice and pleasant in the world as impermanent, as suffering, as not-self, as diseased, and as dangerous. They give up craving. Giving up craving, they give up attachments. Giving up attachments, they give up suffering. Giving up suffering, they are freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They are freed from suffering, I say.
“Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong hiện tại, đối với những gì trong thế gian là sắc khả ái, sắc khả hỷ, họ thấy là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh hoạn, thấy là đáng sợ, thì họ từ bỏ ái. Những ai từ bỏ ái, họ từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, họ từ bỏ khổ. Những ai từ bỏ khổ, họ được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ được giải thoát khỏi khổ.”
Seyyathāpi, bhikkhave, āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno. So ca kho visena saṁsaṭṭho. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito. Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ayaṁ te, ambho purisa, āpānīyakaṁso vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno so ca kho visena saṁsaṭṭho. Sace ākaṅkhasi piva. Pivato hi kho taṁ chādessati vaṇṇenapi gandhenapi rasenapi; pivitvā ca pana tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchasi maraṇamattaṁ vā dukkhan’ti. Atha kho, bhikkhave, tassa purisassa evamassa: ‘sakkā kho me ayaṁ surāpipāsitā pānīyena vā vinetuṁ dadhimaṇḍakena vā vinetuṁ bhaṭṭhaloṇikāya vā vinetuṁ loṇasovīrakena vā vinetuṁ, na tvevāhaṁ taṁ piveyyaṁ, yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti. So taṁ āpānīyakaṁsaṁ paṭisaṅkhā na piveyya, paṭinissajjeyya. So tatonidānaṁ na maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Evameva kho, bhikkhave, ye hi keci atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato addakkhuṁ dukkhato addakkhuṁ anattato addakkhuṁ rogato addakkhuṁ bhayato addakkhuṁ, te taṇhaṁ pajahiṁsu. Ye taṇhaṁ pajahiṁsu te upadhiṁ pajahiṁsu. Ye upadhiṁ pajahiṁsu te dukkhaṁ pajahiṁsu. Ye dukkhaṁ pajahiṁsu te parimucciṁsu jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘parimucciṁsu dukkhasmā’ti vadāmi.
Suppose there was a bronze goblet of beverage that had a nice color, aroma, and flavor. But it was mixed with poison. Then along comes a man struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. They’d say to him: ‘Here, my man, this bronze goblet of beverage has a nice color, aroma, and flavor. But it’s mixed with poison. Drink it if you like. If you drink it, its nice color, aroma, and flavor will refresh you. But drinking it will result in death or deadly pain.’ Then that man might think: ‘I can allay my thirst with a fermented drink of beer, buttermilk, salt lassi, or salted infusion. But in any case, I shouldn’t drink that beverage, for it would be for my lasting harm and suffering.’ He’d put that beverage down. After appraisal, he wouldn’t drink it, and it wouldn’t result in death or deadly pain.
In the same way, there were ascetics and brahmins of the past who saw the things that seem nice and pleasant in the world as impermanent, as suffering, as not-self, as diseased, and as dangerous. They gave up craving. Giving up craving, they gave up attachments. Giving up attachments, they gave up suffering. Giving up suffering, they were freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They were freed from suffering, I say.
“Này các Tỳ khưu, ví như có một chén rượu đầy đủ màu sắc, hương thơm, và mùi vị. Nhưng chén rượu ấy lại được pha lẫn với thuốc độc. Bấy giờ, có một người đi đến, bị nóng bức, bị sức nóng hành hạ, mệt mỏi, khát nước, khô cổ. Người ta nói với người ấy như sau: ‘Này ông, chén rượu này đầy đủ màu sắc, hương thơm, và mùi vị; nhưng nó được pha lẫn với thuốc độc. Nếu ông muốn, hãy uống đi. Khi uống, nó sẽ làm ông thích thú về màu sắc, hương thơm, và mùi vị; nhưng sau khi uống, do nhân duyên ấy, ông sẽ đi đến cái chết hoặc sự đau khổ gần bằng cái chết.’ Bấy giờ, này các Tỳ khưu, người ấy có thể suy nghĩ như sau: ‘Ta có thể dập tắt cơn khát này bằng nước, hoặc bằng váng sữa chua, hoặc bằng nước bột rang pha muối, hoặc bằng cháo chua mặn. Ta sẽ không uống thứ mà sẽ không đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài cho ta.’ Người ấy, sau khi suy xét, không uống chén rượu ấy, mà từ bỏ nó. Do nhân duyên ấy, người ấy không đi đến cái chết hoặc sự đau khổ gần bằng cái chết. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ, đối với những gì trong thế gian là sắc khả ái, sắc khả hỷ, họ đã thấy là vô thường, đã thấy là khổ, đã thấy là vô ngã, đã thấy là bệnh hoạn, đã thấy là đáng sợ, thì họ đã từ bỏ ái. Những ai đã từ bỏ ái, họ đã từ bỏ sanh y. Những ai đã từ bỏ sanh y, họ đã từ bỏ khổ. Những ai đã từ bỏ khổ, họ đã được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ đã được giải thoát khỏi khổ.”
Yepi hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṁ …pe… etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ taṁ aniccato passanti dukkhato passanti anattato passanti rogato passanti bhayato passanti, te taṇhaṁ pajahanti. Ye taṇhaṁ pajahanti te upadhiṁ pajahanti. Ye upadhiṁ pajahanti te dukkhaṁ pajahanti. Ye dukkhaṁ pajahanti te parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
There will be ascetics and brahmins in the future … There are ascetics and brahmins in the present who see the things that seem nice and pleasant in the world as impermanent, as suffering, as not-self, as diseased, and as dangerous. They give up craving. Giving up craving, they give up attachments. Giving up attachments, they give up suffering. Giving up suffering, they are freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They are freed from suffering, I say.”
“Này các tỳ khưu, những vị sa-môn hay bà-la-môn nào trong tương lai... này các tỳ khưu, những vị sa-môn hay bà-la-môn nào trong hiện tại, đối với những gì ở đời là khả ái, khả hỷ, họ thấy chúng là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là nguy hiểm, những vị ấy đoạn tận ái. Những vị nào đoạn tận ái, những vị ấy đoạn tận chấp thủ. Những vị nào đoạn tận chấp thủ, những vị ấy đoạn tận khổ. Những vị nào đoạn tận khổ, những vị ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ được giải thoát khỏi khổ đau.” Hết phẩm thứ sáu.