- Saṁyutta Nikāya 12.36
- 4. Kaḷārakhattiyavagga
Bản dịch
SN 12.36 — Kinh Vô Minh Duyên (thứ hai)
Dutiyaavijjāpaccayasutta
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 … Này các Tỷ-kheo, do duyên vô minh nên có các hành. Do duyên hành nên có thức… như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, các ông có thể nói: “Thế nào là già chết và già chết này của ai?” Hay này các Tỷ-kheo, các ông có thể nói: “Già chết là khác và người có già chết là khác” hai câu này đồng một nghĩa, chỉ có văn sai khác. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng là khác, thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan ấy Như Lai thuyết pháp theo trung đạo, nói rằng: “Do duyên sanh có già chết..”..
Vi-n 4 Thế nào là sanh?…
Vi-n 5 Thế nào là hữu?…
Vi-n 6 Thế nào là thủ?…
Vi-n 7 Thế nào là ái?…
Vi-n 8 Thế nào là thọ?…
Vi-n 9 Thế nào là xúc?…
Vi-n 10 Thế nào là sáu xứ?…
Vi-n 11 Thế nào là danh sắc?…
Vi-n 12 Thế nào là thức?…
Vi-n 13 —Này các Tỷ-kheo, các ông có thể nói: “Thế nào là các hành và các hành này là của ai?” Hay này các Tỷ-kheo, các ông có thể nói: “Các hành và người có các hành này khác”, hai câu hỏi ấy đồng nghĩa, chỉ có văn sai khác. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy, này các Tỷ-kheo, không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy, này các Tỷ-kheo, không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo, nói rằng: “Do duyên vô minh, có các hành”.
Vi-n 14 Do sự đoạn diệt, ly tham vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào…
Vi-n 15 Thế nào là sanh?…
Vi-n 16 Thế nào là hữu?…
Vi-n 17 Thế nào là thủ?…
Vi-n 18 Thế nào là ái?…
Vi-n 19 Thế nào là thọ?…
Vi-n 20 Thế nào là xúc?…
Vi-n 21 Thế nào là sáu xứ?…
Vi-n 22 Thế nào là danh sắc?…
Vi-n 23 Thế nào là thức?…
Vi-n 24 “Thế nào là hành và những hành này là của ai?” Hay “Các hành là khác và có ai có những hành này là khác”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”; tất cả những loại liên hệ này được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến cho trong tương lai không thể sanh khởi.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.36
- 4. Kaḷāra the Aristocrat
Ignorance is a Requirement (2nd)
6. Kinh Vô Minh Duyên (thứ hai)
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Avijjāpaccayā, bhikkhave, saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
At Sāvatthī.
“Ignorance is a requirement for choices.
Choices are a requirement for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates.
36. Ngài trú ở Sāvatthī... Này các Tỳ khưu, do vô minh duyên, các hành sanh khởi; do hành duyên, thức sanh khởi... Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này.
‘Katamaṁ jarāmaraṇaṁ, kassa ca panidaṁ jarāmaraṇan’ti iti vā, bhikkhave, yo vadeyya, ‘aññaṁ jarāmaraṇaṁ, aññassa ca panidaṁ jarāmaraṇan’ti iti vā, bhikkhave, yo vadeyya, ubhayametaṁ ekatthaṁ byañjanameva nānaṁ. ‘Taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ’ iti vā, bhikkhave, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti. ‘Aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ’ iti vā, bhikkhave, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti. Ete te, bhikkhave, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti: ‘jātipaccayā jarāmaraṇan’ti.
Mendicants, you might say, ‘What are old age and death, and who do they belong to?’ Or you might say, ‘Old age and death are one thing, who they belong to is another.’ But both of these mean the same thing, only the phrasing differs. If you have the view that the soul and the body are one and the same, there is no living of the spiritual life. If you have the view that the soul is one thing, the body another, there is no living of the spiritual life. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: ‘Rebirth is a requirement for old age and death.’
Này các Tỳ khưu, người nào nói rằng: ‘Già chết là gì, và già chết này là của ai?’ hoặc, này các Tỳ khưu, người nào nói rằng: ‘Già chết là khác, và già chết này là của người khác,’ cả hai điều này có cùng một ý nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự. Này các Tỳ khưu, khi có tà kiến ‘sinh mạng chính là thân thể,’ thì không có sự sống phạm hạnh. Này các Tỳ khưu, khi có tà kiến ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác,’ thì không có sự sống phạm hạnh. Này các Tỳ khưu, không đi đến hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo: ‘Do sanh duyên, già chết sanh khởi.’
Katamā jāti …pe… katamo bhavo … katamaṁ upādānaṁ … katamā taṇhā … katamā vedanā … katamo phasso … katamaṁ saḷāyatanaṁ … katamaṁ nāmarūpaṁ … katamaṁ viññāṇaṁ … katame saṅkhārā, kassa ca panime saṅkhārāti iti vā, bhikkhave, yo vadeyya, ‘aññe saṅkhārā aññassa ca panime saṅkhārā’ti iti vā, bhikkhave, yo vadeyya, ubhayametaṁ ekatthaṁ byañjanameva nānaṁ. ‘Taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ’ iti vā, bhikkhave, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti. ‘Aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ’ iti vā, bhikkhave, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti. Ete te, bhikkhave, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti: ‘avijjāpaccayā saṅkhārā’ti.
‘What is rebirth …’ ‘What is continued existence …’ ‘What is grasping …’ ‘What is craving …’ ‘What is feeling …’ ‘What is contact …’ ‘What are the six sense fields …’ ‘What are name and form …’ ‘What is consciousness …’ You might say, ‘What are choices, and who do they belong to?’ Or you might say, ‘Choices are one thing, who they belong to is another.’ But both of these mean the same thing, only the phrasing differs. If you have the view that the soul and the body are one and the same, there is no living of the spiritual life. If you have the view that the soul is one thing, the body another, there is no living of the spiritual life. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: ‘Ignorance is a requirement for choices.’
Sanh là gì? ... Hữu là gì? ... Thủ là gì? ... Ái là gì? ... Thọ là gì? ... Xúc là gì? ... Sáu xứ là gì? ... Danh sắc là gì? ... Thức là gì? ... Này các Tỳ khưu, người nào nói rằng: ‘Các hành là gì, và các hành này là của ai?’ hoặc, này các Tỳ khưu, người nào nói rằng: ‘Các hành là khác, và các hành này là của người khác,’ cả hai điều này có cùng một ý nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự. Này các Tỳ khưu, khi có tà kiến ‘sinh mạng chính là thân thể,’ thì không có sự sống phạm hạnh. Này các Tỳ khưu, khi có tà kiến ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác,’ thì không có sự sống phạm hạnh. Này các Tỳ khưu, không đi đến hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo: ‘Do vô minh duyên, các hành sanh khởi.’
Avijjāya tveva, bhikkhave, asesavirāganirodhā yānissa tāni visūkāyikāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici. ‘Katamaṁ jarāmaraṇaṁ, kassa ca panidaṁ jarāmaraṇaṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jarāmaraṇaṁ, aññassa ca panidaṁ jarāmaraṇaṁ’ iti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ, aññaṁ sarīraṁ’ iti vā. Sabbānissa tāni pahīnāni bhavanti ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni āyatiṁ anuppādadhammāni.
When ignorance fades away and ceases with no residue left behind, then any twists, ducks, and dodges are given up: ‘What are old age and death, and who do they belong to?’ or ‘old age and death are one thing, who they belong to is another’, or ‘the soul and the body are one and the same’, or ‘the soul is one thing, the body another’. These are all cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
Này các Tỳ khưu, do sự đoạn diệt hoàn toàn không còn tàn dư của chính vô minh ấy, nên bất cứ những tà kiến nào của vị ấy, dù là những tà kiến gây chướng ngại, những tà kiến đối nghịch, những tà kiến dao động, như là: ‘Già chết là gì, và già chết này là của ai?’ hoặc là: ‘Già chết là khác, và già chết này là của người khác,’ hoặc là: ‘Sinh mạng chính là thân thể,’ hoặc là: ‘Sinh mạng là khác, thân thể là khác.’ Tất cả những tà kiến ấy của vị ấy đều được đoạn tận, được nhổ tận gốc rễ, được làm cho như thân cây tala không còn ngọn, được làm cho không thể hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai.
Avijjāya tveva, bhikkhave, asesavirāganirodhā yānissa tāni visūkāyikāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici. Katamā jāti …pe… katamo bhavo … katamaṁ upādānaṁ … katamā taṇhā … katamā vedanā … katamo phasso … katamaṁ saḷāyatanaṁ … katamaṁ nāmarūpaṁ … katamaṁ viññāṇaṁ … ‘katame saṅkhārā, kassa ca panime saṅkhārā’ iti vā, ‘aññe saṅkhārā, aññassa ca panime saṅkhārā’ iti vā; ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ’ iti vā. Sabbānissa tāni pahīnāni bhavanti ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni āyatiṁ anuppādadhammānī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
When ignorance fades away and ceases with no residue left behind, then any twists, ducks, and dodges are given up: ‘What is rebirth …’ ‘What is continued existence …’ ‘What is grasping …’ ‘What is craving …’ ‘What is feeling …’ ‘What is contact …’ ‘What are the six sense fields …’ ‘What are name and form …’ ‘What is consciousness …’ ‘What are choices, and who do they belong to?’ or ‘choices are one thing, who they belong to is another’, or ‘the soul and the body are one and the same’, or ‘the soul is one thing, the body another’. These are all cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.”
Này các Tỳ khưu, do sự đoạn diệt hoàn toàn không còn tàn dư của chính vô minh ấy, nên bất cứ những tà kiến nào của vị ấy, dù là những tà kiến gây chướng ngại, những tà kiến đối nghịch, những tà kiến dao động, như là: Sanh là gì? ... Hữu là gì? ... Thủ là gì? ... Ái là gì? ... Thọ là gì? ... Xúc là gì? ... Sáu xứ là gì? ... Danh sắc là gì? ... Thức là gì? ... ‘Các hành là gì, và các hành này là của ai?’ hoặc là: ‘Các hành là khác, và các hành này là của người khác;’ hoặc là: ‘Sinh mạng chính là thân thể,’ hoặc là: ‘Sinh mạng là khác, thân thể là khác.’ Tất cả những tà kiến ấy của vị ấy đều được đoạn tận, được nhổ tận gốc rễ, được làm cho như thân cây tala không còn ngọn, được làm cho không thể hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai. Hết kinh thứ sáu.