- Saṁyutta Nikāya 12.35
- 4. Kaḷārakhattiyavagga
Bản dịch
SN 12.35 — Kinh Duyên Vô Minh
Avijjāpaccayasutta
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, do duyên vô minh có hành; do duyên hành có thức… như vậy là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, thế nào là già chết? Và già chết này là của ai?
Thế Tôn đáp:
—Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Thế nào là già chết, và già chết này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Già chết là khác và người già và chết là khác”, hai câu hỏi này nghĩa là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: “Do duyên sanh nên có già chết”.
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, thế nào là sanh và sanh này là của ai?
Thế Tôn đáp:
—Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Thế nào là sanh, và sanh này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Sanh là khác và người sanh là khác”, hai câu hỏi này có nghĩa là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: “Do duyên hữu nên có sanh”.
Vi-n 5 —Bạch Thế Tôn, thế nào là hữu và hữu này của ai?
Thế Tôn nói:
—Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, ông có thể hỏi: “Thế nào là hữu và hữu này của ai?”, hay ông có thể nói: “Hữu khác và người có hữu này khác”, hai câu hỏi này là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có tà kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: “Do duyên thủ nên có hữu”.
Vi-n 6 —Bạch Thế Tôn, thế nào là thủ và thủ này của ai?… “Do duyên ái nên có thủ”.
Vi-n 7 … “Do duyên thọ nên có ái”.
Vi-n 8 … “Do duyên xúc nên có thọ”.
Vi-n 9 … “Do duyên sáu xứ nên có xúc”.
Vi-n 10 … “Do duyên danh sắc nên có sáu xứ”.
Vi-n 11 … “Do duyên thức nên có danh sắc”.
Vi-n 12 … “Do duyên hành nên có thức”.
Vi-n 13 —Bạch Thế Tôn, thế nào là các hành, và các hành này là của ai?
Thế Tôn đáp:
—Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Thế nào là các hành và các hành này là của ai?”, hay này Tỷ-kheo, ông có thể nói: “Các hành là khác và người có các hành này là khác”, hai câu hỏi này là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là một”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: “Sinh mạng và thân thể là khác”, chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: “Do duyên vô minh nên có các hành”. Này Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận (hý luận), dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào… sẽ được đoạn tận.
Vi-n 14 Như câu hỏi: “Thế nào là già chết và già chết này là của ai?”. Hay “Già chết là khác và người có già chết là khác?” hay “Sinh mạng và thân thể này là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”, tất cả đều được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến cho tương lai không thể sanh khởi. Này Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào… sẽ được đoạn tận.
Vi-n 15 Như câu hỏi: “Thế nào là sanh và sanh này là của ai?”. Hay “Sanh là khác và người có sanh là khác”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”, tất cả đều được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến trong tương lai không thể sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào… sẽ được đoạn tận.
Vi-n 16 Thế nào là hữu…
Vi-n 17 Thế nào là thủ…
Vi-n 18 Thế nào là ái…
Vi-n 19 Thế nào là thọ…
Vi-n 20 Thế nào là xúc…
Vi-n 21 Thế nào là sáu xứ…
Vi-n 22 Thế nào là danh sắc…
Vi-n 23 Thế nào là thức… Này các Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào… sẽ được đoạn tận.
Vi-n 24 Như câu hỏi: “Thế nào là các hành và các hành này là của ai?”. Hay “Các hành là khác và người có các hành này là khác”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng và thân thể là khác”; tất cả đều được đoạn tận cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến cho trong tương lai không thể sanh khởi.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.35
- 4. Kaḷāra the Aristocrat
Ignorance is a Requirement
5. Kinh Duyên Vô Minh
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Avijjāpaccayā, bhikkhave, saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “‘katamaṁ nu kho, bhante, jarāmaraṇaṁ, kassa ca panidaṁ jarāmaraṇan’ti?
‘No kallo pañho’ti bhagavā avoca, ‘katamaṁ jarāmaraṇaṁ, kassa ca panidaṁ jarāmaraṇan’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ‘aññaṁ jarāmaraṇaṁ aññassa ca panidaṁ jarāmaraṇan’ti, iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ubhayametaṁ ekatthaṁ byañjanameva nānaṁ. Taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti. Aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti. Ete te, bhikkhu, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti: ‘jātipaccayā jarāmaraṇan’”ti.
At Sāvatthī.
“Ignorance is a requirement for choices.
Choices are a requirement for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates.”
When this was said, one of the mendicants said to the Buddha, “What are old age and death, sir, and who do they belong to?”
“That’s not a cogent question,” said the Buddha. “You might say, ‘What are old age and death, and who do they belong to?’ Or you might say, ‘Old age and death are one thing, who they belong to is another.’ But both of these mean the same thing, only the phrasing differs. Mendicant, if you have the view that the soul and the body are one and the same, there is no living of the spiritual life. If you have the view that the soul is one thing, the body another, there is no living of the spiritual life. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: ‘Rebirth is a requirement for old age and death.’”
35. Ngài ngự tại Sāvatthī... ... Này các tỳ khưu, do duyên vô minh, các hành sanh khởi; do duyên hành, thức sanh khởi... ... như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này. Khi được nói như vậy, một vị tỳ khưu bạch với đức Thế Tôn rằng: 'Bạch ngài, thế nào là già chết? Và già chết này là của ai?' Đức Thế Tôn nói: 'Câu hỏi không hợp lẽ'. Này tỳ khưu, người nào nói rằng: 'Thế nào là già chết? Và già chết này là của ai?' hoặc, này tỳ khưu, người nào nói rằng: 'Già chết là khác, và già chết này là của người khác', cả hai điều này có cùng một nghĩa, chỉ có văn tự là khác. Này tỳ khưu, khi có tà kiến rằng 'sinh mạng chính là thân thể', thì không có sự sống phạm hạnh. Hoặc, này tỳ khưu, khi có tà kiến rằng 'sinh mạng là khác, thân thể là khác', thì không có sự sống phạm hạnh. Này tỳ khưu, không đi đến hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo: 'Do duyên sanh, có già chết'.
“Katamā nu kho, bhante, jāti, kassa ca panāyaṁ jātī”ti?
“No kallo pañho”ti bhagavā avoca, “‘katamā jāti, kassa ca panāyaṁ jātī’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ‘aññā jāti aññassa ca panāyaṁ jātī’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ubhayametaṁ ekatthaṁ byañjanameva nānaṁ. Taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti. Aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti. Ete te, bhikkhu, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti: ‘bhavapaccayā jātī’”ti.
“What is rebirth, sir, and who does it belong to?”
“That’s not a cogent question,” said the Buddha. “You might say, ‘What is rebirth, and who does it belong to?’ Or you might say, ‘Rebirth is one thing, who it belongs to is another.’ But both of these mean the same thing, only the phrasing differs. Mendicant, if you have the view that the soul and the body are one and the same, there is no living of the spiritual life. If you have the view that the soul is one thing, the body another, there is no living of the spiritual life. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: ‘Continued existence is a requirement for rebirth.’”
'Bạch ngài, thế nào là sanh? Và sanh này là của ai?' Đức Thế Tôn nói: 'Câu hỏi không hợp lẽ'. Này tỳ khưu, người nào nói rằng: 'Thế nào là sanh? Và sanh này là của ai?' hoặc, này tỳ khưu, người nào nói rằng: 'Sanh là khác, và sanh này là của người khác', cả hai điều này có cùng một nghĩa, chỉ có văn tự là khác. Này tỳ khưu, khi có tà kiến rằng 'sinh mạng chính là thân thể', thì không có sự sống phạm hạnh. Hoặc, này tỳ khưu, khi có tà kiến rằng 'sinh mạng là khác, thân thể là khác', thì không có sự sống phạm hạnh. Này tỳ khưu, không đi đến hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo: 'Do duyên hữu, có sanh'.
“Katamo nu kho, bhante, bhavo, kassa ca panāyaṁ bhavo”ti?
“No kallo pañho”ti bhagavā avoca, “‘katamo bhavo, kassa ca panāyaṁ bhavo’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ‘añño bhavo aññassa ca panāyaṁ bhavo’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ubhayametaṁ ekatthaṁ byañjanameva nānaṁ. Taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti; aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti. Ete te, bhikkhu, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti: ‘upādānapaccayā bhavo’ti …pe… ‘taṇhāpaccayā upādānanti … vedanāpaccayā taṇhāti … phassapaccayā vedanāti … saḷāyatanapaccayā phassoti … nāmarūpapaccayā saḷāyatananti … viññāṇapaccayā nāmarūpanti … saṅkhārapaccayā viññāṇan’”ti.
“What is continued existence, sir, and who is it for?”
“That’s not a cogent question,” said the Buddha. “You might say, ‘What is continued existence, and who does it belong to?’ Or you might say, ‘Continued existence is one thing, who it belongs to is another.’ But both of these mean the same thing, only the phrasing differs. Mendicant, if you have the view that the soul and the body are one and the same, there is no living of the spiritual life. If you have the view that the soul is one thing, the body another, there is no living of the spiritual life. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: ‘Grasping is a requirement for continued existence.’ … ‘Craving is a requirement for grasping.’ … ‘Feeling is a requirement for craving.’ … ‘Contact is a requirement for feeling.’ … ‘The six sense fields are requirements for contact.’ … ‘Name and form are requirements for the six sense fields.’ … ‘Consciousness is a requirement for name and form.’ … ‘Choices are a requirement for consciousness.’”
'Bạch ngài, thế nào là hữu? Và hữu này là của ai?' Đức Thế Tôn nói: 'Câu hỏi không hợp lẽ'. Này tỳ khưu, người nào nói rằng: 'Thế nào là hữu? Và hữu này là của ai?' hoặc, này tỳ khưu, người nào nói rằng: 'Hữu là khác, và hữu này là của người khác', cả hai điều này có cùng một nghĩa, chỉ có văn tự là khác. Này tỳ khưu, khi có tà kiến rằng 'sinh mạng chính là thân thể', thì không có sự sống phạm hạnh; hoặc, này tỳ khưu, khi có tà kiến rằng 'sinh mạng là khác, thân thể là khác', thì không có sự sống phạm hạnh. Này tỳ khưu, không đi đến hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo: 'Do duyên thủ, có hữu'... ... 'do duyên ái, có thủ... do duyên thọ, có ái... do duyên xúc, có thọ... do duyên sáu xứ, có xúc... do duyên danh sắc, có sáu xứ... do duyên thức, có danh sắc... do duyên hành, có thức'.
“Katame nu kho, bhante, saṅkhārā, kassa ca panime saṅkhārā”ti?
“No kallo pañho”ti bhagavā avoca, “‘katame saṅkhārā kassa ca panime saṅkhārā’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ‘aññe saṅkhārā aññassa ca panime saṅkhārā’ti iti vā, bhikkhu, yo vadeyya, ubhayametaṁ ekatthaṁ byañjanameva nānaṁ. Taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti; aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, bhikkhu, diṭṭhiyā sati brahmacariyavāso na hoti. Ete te, bhikkhu, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti: ‘avijjāpaccayā saṅkhārā’”ti.
“What are choices, sir, and who do they belong to?”
“That’s not a cogent question,” said the Buddha. “You might say, ‘What are choices, and who do they belong to?’ Or you might say, ‘Choices are one thing, who they belong to is another.’ But both of these mean the same thing, only the phrasing differs. Mendicant, if you have the view that the soul and the body are one and the same, there is no living of the spiritual life. If you have the view that the soul is one thing, the body another, there is no living of the spiritual life. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: ‘Ignorance is a requirement for choices.’
'Bạch ngài, thế nào là các hành? Và các hành này là của ai?' Đức Thế Tôn nói: 'Câu hỏi không hợp lẽ'. Này tỳ khưu, người nào nói rằng: 'Thế nào là các hành? Và các hành này là của ai?' hoặc, này tỳ khưu, người nào nói rằng: 'Các hành là khác, và các hành này là của người khác', cả hai điều này có cùng một nghĩa, chỉ có văn tự là khác. Này tỳ khưu, khi có tà kiến rằng 'sinh mạng chính là thân thể', thì không có sự sống phạm hạnh; hoặc, này tỳ khưu, khi có tà kiến rằng 'sinh mạng là khác, thân thể là khác', thì không có sự sống phạm hạnh. Này tỳ khưu, không đi đến hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo: 'Do duyên vô minh, có các hành'.
“Avijjāya tveva, bhikkhu, asesavirāganirodhā yānissa tāni visūkāyikāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici. ‘Katamaṁ jarāmaraṇaṁ, kassa ca panidaṁ jarāmaraṇaṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jarāmaraṇaṁ, aññassa ca panidaṁ jarāmaraṇaṁ’ iti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ’ iti vā. Sabbānissa tāni pahīnāni bhavanti ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni āyatiṁ anuppādadhammāni.
When ignorance fades away and ceases with no residue left behind, then any twists, ducks, and dodges are given up: ‘What are old age and death, and who do they belong to?’ or ‘old age and death are one thing, who they belong to is another’, or ‘the soul and the body are one and the same’, or ‘the soul is one thing, the body another.’ These are all cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
Này tỳ khưu, chính do sự đoạn diệt và ly tham không còn dư tàn của vô minh, nên bất cứ những tà kiến nào, dù là nhỏ nhặt, mà chúng là những sự quằn quại, những sự tranh chấp, những sự dao động, như là: 'Thế nào là già chết? Và già chết này là của ai?' hoặc 'Già chết là khác, và già chết này là của người khác' hoặc 'sinh mạng chính là thân thể' hoặc 'sinh mạng là khác, thân thể là khác' — tất cả những điều ấy đều được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, được làm cho như thân cây thốt nốt, được làm cho không còn hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai.
Avijjāya tveva, bhikkhu, asesavirāganirodhā yānissa tāni visūkāyikāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici. ‘Katamā jāti, kassa ca panāyaṁ jāti’ iti vā, ‘aññā jāti, aññassa ca panāyaṁ jāti’ iti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ’ iti vā. Sabbānissa tāni pahīnāni bhavanti ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni āyatiṁ anuppādadhammāni.
When ignorance fades away and ceases no residue left behind, then any twists, ducks, and dodges are given up: ‘What is rebirth, and who does it belong to?’ or ‘rebirth is one thing, who it belongs to is another’, or ‘the soul and the body are one and the same’, or ‘the soul is one thing, the body another.’ These are all cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
Này tỳ khưu, chính do sự đoạn diệt và ly tham không còn dư tàn của vô minh, nên bất cứ những tà kiến nào, dù là nhỏ nhặt, mà chúng là những sự quằn quại, những sự tranh chấp, những sự dao động, như là: 'Thế nào là sanh? Và sanh này là của ai?' hoặc 'Sanh là khác, và sanh này là của người khác' hoặc 'sinh mạng chính là thân thể' hoặc 'sinh mạng là khác, thân thể là khác' — tất cả những điều ấy đều được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, được làm cho như thân cây thốt nốt, được làm cho không còn hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai.
Avijjāya tveva, bhikkhu, asesavirāganirodhā yānissa tāni visūkāyikāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici. Katamo bhavo …pe… katamaṁ upādānaṁ … katamā taṇhā … katamā vedanā … katamo phasso … katamaṁ saḷāyatanaṁ … katamaṁ nāmarūpaṁ … katamaṁ viññāṇaṁ …pe….
When ignorance fades away and ceases no residue left behind, then any twists, ducks, and dodges are given up: ‘What is continued existence …’ ‘What is grasping …’ ‘What is craving …’ ‘What is feeling …’ ‘What is contact …’ ‘What are the six sense fields …’ ‘What are name and form …’ ‘What is consciousness …’
Này tỳ khưu, chính do sự đoạn diệt và ly tham không còn dư tàn của vô minh, nên bất cứ những tà kiến nào, dù là nhỏ nhặt, mà chúng là những sự quằn quại, những sự tranh chấp, những sự dao động. Thế nào là hữu?... ... thế nào là thủ?... thế nào là ái?... thế nào là thọ?... thế nào là xúc?... thế nào là sáu xứ?... thế nào là danh sắc?... thế nào là thức?... ...
Avijjāya tveva, bhikkhu, asesavirāganirodhā yānissa tāni visūkāyikāni visevitāni vipphanditāni kānici kānici. ‘Katame saṅkhārā, kassa ca panime saṅkhārā’ iti vā, ‘aññe saṅkhārā, aññassa ca panime saṅkhārā’ iti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ’ iti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ, aññaṁ sarīraṁ’ iti vā. Sabbānissa tāni pahīnāni bhavanti ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni āyatiṁ anuppādadhammānī”ti.
Pañcamaṁ.
When ignorance fades away and ceases no residue left behind, then any twists, ducks, and dodges are given up: ‘What are choices, and who do they belong to?’ or ‘choices are one thing, who they belong to is another’, or ‘the soul and the body are one and the same’, or ‘the soul is one thing, the body another.’ These are all cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.”
Này Tỳ khưu, do sự đoạn diệt hoàn toàn không còn tàn dư của chính vô minh ấy, nên bất cứ những tà kiến nào của vị ấy, dù là những tà kiến gây chướng ngại, những tà kiến đối nghịch, những tà kiến dao động, như là: ‘Các hành là gì, và các hành này là của ai?’ hoặc là: ‘Các hành là khác, và các hành này là của người khác,’ hoặc là: ‘Sinh mạng chính là thân thể,’ hoặc là: ‘Sinh mạng là khác, thân thể là khác.’ Tất cả những tà kiến ấy của vị ấy đều được đoạn tận, được nhổ tận gốc rễ, được làm cho như thân cây tala không còn ngọn, được làm cho không thể hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai. Hết kinh thứ năm.